CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM - Pdf 23

2009
GVHD: GS – TS NGUYỄN VĂN LUÂN
Nhóm Wall.E
12/28/2009 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT BÀI TIỂU LUẬN BỘ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Giáo viên hướng dẫn Nhóm sinh viên thực hiện:
P.GS TS. NGUYỄN VĂN LUÂN 1. Lê Ngọc Hạnh
2. Phan Nữ Quỳnh Mơ
3. Đoàn Quốc Huy
4. Lã Văn Thọ
TP. Hồ Chí Minh – 12 /2009
CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM

Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 3 LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta biết đến kinh tế học là một môn nghiên cứu những lữa chọn của cá nhân và xã
hội về cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên có giới hạn. Kinh tế học nghiên cứu các
hiện tượng kinh tế trên hai góc độ: Một là góc độ bộ phận gia đình, hai là góc độ toàn bộ
nền kinh tế . Cách tiếp cận thứ hai đã dẫn tới việc hình thành môn kinh tế vĩ mô. Như vậy
có thể xác định đối tượng nghiên cứu của kinh tế vĩ mô là nền kinh tế và sự hoạt động của
nền kinh tế. Nhiệm vụ của của nó là phối hợp với các môn khoa học khác của khoa học
kinh tế giúp cho người học hiểu được sự hoạt động của nền kinh tế, xác định được các
vấn đề của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn, hiểu được nguyên nhân và hậu quả của mỗi
vấn đề, đề xuất được giải pháp cho mỗi vấn đề đó.
Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mĩ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu, gây
ra những hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng
không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng, nhất là khi mà chúng ta đã trở thành thành viên
thứ 150 của WTO. Khủng hoảng đã có những ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống xã
hôi, và các nhà kinh tế học trên thế giới, chính phủ các nước nói riêng cũng như chính
phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát
khỏi khủng hoảng. Đối với sinh viên, họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là tầng
lớp trẻ củ xã hội thì cuộc khủng hoảng vừa qua là cơ hội để sinh viên có được mối liên hệ
giữa thực tế với kiến thức được học.
Là những sinh viên đang theo học khối ngành kinh tế tại Khoa kinh tế ĐHQG. TP Hồ
Chí Minh, với niềm đam mê môn học kinh tế vĩ mô, và mong muốn được tìm hiểu, mong
muốn được vận dụng những kiến thức đã được học để đi sâu tìm hiểu vấn đề, tất cả
những điều đó đã thối thúc chúng em thực hiện đề tài: “Chính sách kích cầu của Việt
Nam”.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM


Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 5 1.1.3. Dấu hiệu và một số dạng của khủng hoảng tài chính
a. Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính
- Các Ngân hàng trung ương (NHTW) không hoàn trả được các khoản tiền gửi
của người gửi tiền.
- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể
hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Theo quy luật của sự phát triển, khi lên đến điểm phát triển cực đại chịu tác động mạnh
mẻ của nền kinh tế chính trị xã hội thì nền kinh tế đó sẽ chuyển sang thời kỳ đi xuống suy
thoái khủng hoảng.
b. Một số dạng khủng hoảng đặc thù
- Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis)
Rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi của các thể nhân và pháp
nhân để cho vay lại nen rủi ro rất lớn cả về mặt số lượng, thời hạn cũng như chủng loại
tiền. Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại
được dẫn đến tỷ lệ nợ quá cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi
đến hạn.
- Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis)
Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều và sử dụng không hiệu quả nên
không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ,
thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (VD: CHDCND Triều Tiên).
- Khủng hoảng tiền tệ (Monnetary Crisis)
Hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn đáp ứng nhu cầu (cả
thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ đề duy trì tỷ
gia hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng.
- Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security Market)

- Các ngân hàng trên thế giới đồng loạt thua lỗ: Các ngân hàng và các định chế
tài chính có thể thua lỗ hàng tỉ đôla Mỹ từ cuộc khủng hoảng tín dụng do khủng
hoảng nợ phế chuẩn cho vay cầm cố. Do đó các ngân hàng sẽ thực hiện các
chính sách thắt chặt việc cho vay.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 7 - Thị trường tín dụng bị đóng băng: Các khoản vay thế chấp đã giảm hẳn trong
năm 2008, trong đó khoản vay thế chấp thương mại hoàn toàn bị biến mất trên
biểu đồ.
- Thị trường địa ốc sụp đổ: Thị trường nhà ở của Mỹ phát triển thành bong bóng
từ năm 2001, người Mỹ đồng loạt đi vay tiền mua nhà ở cho dù năm 2004 –
2005 lãi suất các khoản vay đã được đẩy lên cao, khi tình hình kinh tế khó khăn
thì giá nhà hạ xuống mạnh, từ cuối năm 2008 bong bóng nhà ở bắt đầu xẹp hơi,
khiến nền kinh tế chao đảo.
Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là các vấn đề liên
quan đến thị trường nhà ở địa ốc, thêm vào đó, tình trạng hoản loạn trên thị trường tài
chính thế giới cũng là nguyên nhân quan trọng khiến giá cổ phiếu giảm mạnh và thị
trường tín dụng bị thu hẹp. Nói cách khác có thể thấy cuộc khủng hoản tài chính toàn cầu
hiện nay là do tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP vượt quá giá trị có thể đảm bảo
một sự phát triển ổn định trong tương lai.
1.1.5. Phương thức chung giải quyết một cuộc khủng hoảng tài chính.
Trước hết, chúng ta phải giải toả được những hoảng sợ về thanh khoản, về tính lỏng bằng
hai chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị
trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản của mình. Để thị trường
yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt.
Người đóng vai trò là cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấp thanh

hàng hóa mà người ta muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm
trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng cung giữ vai trò thụ
động, nó chịu sự tác động của tổng cầu. Tổng cẩu phụ thuộc vào cac yếu tố: mức chi tiêu
cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu
ròng của nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước ( xuất khẩu ròng).
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 9 Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thường không
theo kịp so với tổng cung. Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư, gây
ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế. Để giải quyết tình trạng này phải tăng
tổng cầu. Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư. Do đó sẽ gia tăng việc làm
và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được gia tăng.
Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh
tế thông qua chính sách kich cầu của Chính phủ. Ông cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng
và thất nghiệp cần có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng
việc làm và thu nhập. Sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ như chương trình
đầu tư Nhà nước; Chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ; Mở rộng việc làm
bằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành thuộc lĩnh vực quân sự; Khuyến
khích tiêu dùng cá nhân...
Như vậy, có thể nói, chính sách kích cầu bắt nguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả
thuyết quan trọng của học thuyết Keynes.
- Giả thuyết thứ nhất:
Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản xuất bị dư thừa. Biểu hiện của
tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sản xuất không được sử dụng hết công suất: thất
nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp, và hàng
hóa ế thừa.
- Giả thuyết thứ hai:
Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thu nhập của mình.
Trong khi đó, các khu vực không phải chính phủ (hộ gia đình và khu vực kinh tế tư nhân)
thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì họ muốn để dành (khuynh hướng tiết kiệm biên
lớn hơn 0). Trong điều kiện bình thường, khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực
doanh nghiệp để đầu tư (tạo nên thành phần của tổng cầu), nhưng trong thời kỳ suy thoái,
doanh nghiệp không muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng lợi nhận.
Như vậy, qua giả thuyết thứ nhất, Keynes cho rằng nền kinh tế bị suy thoái vì tạm
thời không có đủ cầu cho cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu lực. Vì thế để thoát
khỏi suy thoái thì cần có một lượng cầu đủ lớn.
Xuất phát từ giả thuyết thứ hai, Keynes cho rằng chỉ có chính phủ mới dám chi tiêu mạnh
tay khi nền kinh tế đang suy thoái.
Mức
giá
Sản lượng
AD
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 11 Trên cơ sở hai giả thuyết này, Keynes đề xuất tư tưởng kích cầu theo nguyên lý sau: Dịch
chuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ để tăng cầu hiệu lực,
đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua.
1.2.4. Những nguyên tắc cơ bản để thực hiện chính sách kích cầu
Theo lý luận của nhà kinh tế học Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu
trưởng trường đại học Harvard, và cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama), một gói
kích cầu có hiệu quả phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí.
- Nguyên tắc số 1 – Kích cầu phải kịp thời:
Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì những biện
pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh
tế.
- Nguyên tắc số 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng:
Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào:
 Mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu thông
qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng.
 Mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tác
động lan tỏa.
Ở thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp thường có mức tiêu dùng
cao trên 1 đồng thu nhập có thêm được và thường tiêu dùng hàng nội địa. Do vậy, nếu
kích cầu đúng nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công
bằng, khác với sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trong kinh tế thường gặp.
- Nguyên tắc số 3 – Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được cải thiện.
Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:
 Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu
 Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trong
dài hạn.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 13
Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 14 Vấn đề đật ra ở đây là xác định tỷ lệ lạm phát vừa phải, đừng để lạm phát tăng cao gây
tác động xấu đến đời sống kinh tế- xã hội.
c. Chính sách thương mại
Cải thiện cán cân thương mại theo hướng tăng xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu.
Tăng xuất khẩu có tác động tăng công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng tiêu dùng và kinh
tế nội địa sẽ tăng trưởng. Đồng thời phải điều chỉnh tỉ giá hối đoái theo hướng khuyến
khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, bên cạnh đó cũng phải khuyến khích tiêu dùng hàng
nội địa.
1.2.6. Một số hạn chế của chính sách kích cầu
Có thể nói chính sách kích cầu của Chính phủ là một biện pháp khá hữu hiệu để
đưa nền kinh tế thoát khỏi giai đoạn trì trệ, khủng hoảng. Mặc dù vậy, chính sách kích
cầu cũng có một số hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất, chính sách kích cầu chỉ phát huy tác dụng khi sản lượng còn nằm dưới
mức sản lượng tiềm năng. Nếu sản lượng của nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng
thì sự gia tăng chi tiêu của các bộ phận trong nền kinh tế không hề làm tăng thêm sản
lượng mà chỉ làm tăng giá, dẫn đến lạm phát cao gây ảnh hưởng xấu cho nền kinh tế.
Thứ hai, việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để kích thích kinh tế cũng có
những hạn chế như: trong thực tế rất khó để tính toán việc gia tăng chi tiêu và giảm thuế
với liều lượng bao nhiêu là thích hợp; đồng thời, độ trễ của chính sách tài khóa là khá lớn
và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chính trị cũng như cơ cấu tổ chức của bộ máy.
Thứ ba, chính sách giảm lãi suất để khuyến khích đầu tư tỏ ra không hiệu quả
trong một số trường hợp, đặc biệt là trong điều kiện tự do di chuyển tư bản trên phạm vi
toàn cầu như hiện nay. Một khi có nước nào đó giảm lãi suất thì tức thời sẽ xảy ra hiện
tượng rút vốn đầu tư ở nước đó để di chuyển vào những nước có lãi suất cao hơn, nên làm
cho đầu tư trong nước không tăng mà lại sụt giảm và ngược lại.
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 16 CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TIỄN
2.1. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế hiện nay
2.1.1. Ảnh hưởng đối với kinh tế thế giới
a. Nguyên nhân và bản chất cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng gần đây bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ cuối năm
2007 và đó cũng là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu trầm trọng
nhất kể từ tám mươi năm qua. Được “châm ngòi” bằng hoạt động cho vay thế chấp dưới
chuẩn dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mĩ. Số lượng các khoản vay loại này phát triển bùng
nổ trong thời kỳ hình thành bong bóng trên thị trường địa ốc ở Mỹ, do người đi vay đặt
nhiều hy vọng vào việc mua nhà để bán kiếm lời, còn các ngân hàng thì nhận thấy những
khoản lợi nhuận quá béo bở. Tuy nhiên, điều đáng nói là rủi ro của hoạt động vay nợ này
không chỉ được giới hạn giữa người đi vay và các ngân hàng. Danh mục nợ này được các
ngân hàng thương mại bán lại cho các ngân hàng đầu tư, để rồi các ngân hàng đầu tư sử
dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitization) các khoản nợ địa ốc thành các loại
chứng khoán, bán cho các nhà đầu tư khăp thế giới. Khi giá nhà đất ở Mỹ đạt đỉnh và bắt
đầu sụt giảm, tỷ lệ nợ xấu và vỡ nợ tăng theo, kéo theo sự sụt giảm mạnh mẽ giá trị của
các loại chứng khoán MBS nói trên. Tới lúc này, tai nạn xuất hiện theo kiểu hiệu ứng
domino, từ người mua nhà, các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu vỡ dây chuyền
trong ngành tài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa tháng 9/2008 đã lan qua Đại Tây
Dương, tới châu Âu, và gây ra những cơn “dư chấn” ở châu Á. Như vậy đây không chỉ là
cuộc khủng hoảng tài chính mà là một cuộc tổng khủng hoảng, trên tất cả các phương
diện tài chính, sản xuất, thương mại, dịch vụ tương đương với các cuộc Ðại suy thoái

theo là hàng loạt vụ giải thể trong lĩnh vực ngân hàng thương mại của Mỹ. Tính tới ngày
15/12 vừa qua, số ngân hàng thương mại của Mỹ phải đóng cửa đã lên tới con số 25, so
với con số 3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong cả năm 2007. Trong số này, phải kể tới
những tên tuổi lớn như Washington Mutual, Wachovia,IndyMac…
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 18 Sự đổ vỡ của các ngân hàng ở Mỹ ảnh hưởng mạnh tới tâm lý của người dân không chỉ ở
nước này mà còn ở các quốc gia khác trên thế giới. Tốc độ khủng hoảng tài chính phố
Wall đã nhanh chóng lan rộng toàn cầu, và nó đã thực sự tác động đến nền kinh tế các
nước trên thế giới. Ba nền kinh tế lớn nhât thế giới đồng loạt suy thoái lần đầu tiên kể từ
Đại chiến Thế giới thứ hai, kinh tế toàn cầu giảm tốc mạnh. Cuộc khủng hoảng tài chính
tồi tệ nhất từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay đã đẩy đồng loạt cả ba nền kinh tế lớn nhất
thế giới là Mỹ, Nhật Bản và khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) vào
suy thoái. Đây là lần đầu tiên, Mỹ, Nhật và châu Âu cùng suy thoái từ năm 1945 tới nay.
Khi khủng hoảng xảy ra, tính ổn định của nền hệ thống tài chính Mỹ bị phá vỡ, địa vị
chiếm lĩnh hệ thống tài chính phố Wall bị hạ thấp. Đối mặt với khủng hoảng mang tính
toàn cầu, khả năng Mỹ dẫn đầu thế giới bị giảm xuống, cần phải bắt tay “cứu trợ thế giới”
với các nước Châu Âu, Nhật Bản và thị trường mới nổi như Trung Quốc. Khủng hoảng
làm cho Mỹ thiếu hụt tài chính hàng tỷ đôla, và chịu hạn chế của ảnh hưởng kinh tế chính
trị. Người ta bắt đầu hoài nghi về kinh tế Mỹ dựa trên nền tảng là mô hình tự do thương
mại. Cuộc khủng hoảng này đã bộc lộ đầy đủ những tác hại do thị trường không chịu tiếp
nhận sự quản lý và những thiếu sót của hệ thống kinh tế. Để ngăn chặn sự lây lan của
cuộc khủng hoảng, chính sách kinh tế của chính phủ Mỹ là quay trở lại từ tự do thương
mại sang nền kinh tế có sự can thiệp của nhà nước. Hiện nay, tần suất và mức độ can
thiệp vào thị trường của chính phủ Mỹ so với cuộc đại suy thoái của những năm 30 là như
nhau. Điều này cho thấy sự nghi ngờ về những tác động của chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, sự

Thứ tư là việc cải cách lại hệ thống kinh tế thế giới. Khủng hoảng đã khiến cho
hệ thống tài chính phải cải tổ lại, tạo bước ngoặt cho việc cải cách trật tự tài chính quốc
tế. Hiển nhiên, trong tương lai, nếu việc cải cách trật tự tài chính thế giới hiện hành bị hạn
chế trong việc dàn xếp, và việc Âu Mỹ phải bảo vệ quyền lợi của mình, thì không thể tiến
hành việc cải cách hệ thống tài chính thế giới.
Thứ năm, khủng hoảng đã chứng minh rõ được mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa và
sự thiếu tin cậy trong việc giám sát quốc tế. Điều này đã khiến cho các nước nhận thức và
đánh giá lại sự toàn cầu hóa và những ảnh hưởng bên ngoài của nó, có thái độ thận trọng
hơn với nền kinh tế và tự do thương mại Mỹ. Đồng thời, khủng hoảng toàn cầu khiến cho
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 20 tỷ lệ thất nghiệp tăng, nên chính phủ rất băn khoăn và bảo thủ trong việc tạo cơ hội việc
làm. Các vòng đàm phán Doha tiếp tục rơi vào bế tắc.
Thứ sáu: khủng hoảng tài chính cũng đã tác động tới dự trữ ngoại hối của một số
quốc gia. Theo số liệu công bố trên trang web chính thức của IMF, Dự trữ ngoại hối tại
thời điểm cuối tháng 10/2008 của hầu hết các nước đã công bố số liệu đều sụt giảm mạnh
so với tháng 9/2008. Cụ thể trong số 28 nước đã công bố số liệu thì có 27 nước Dự trữ
ngoại hối sụt giảm trừ Estonia có mức Dự trữ ngoại hối tăng khoảng 600 triệu USD từ 3,6
tỷ USD vào cuối tháng 9 tới 4,2 tỷ USD vào cuối tháng 10/2008 . Đặc biệt, 3 nước trong
số 5 nước có quy mô Dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới theo thứ tự là: Trung Quốc, Nhật
Bản, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc đều có mức sụt giảm mạnh mẽ không kể Trung Quốc là
nước không công bố chính thức số liệu Dự trữ ngoại hối trên website của IMF và Ấn Độ
do chưa công bố số liệu Dự trữ ngoại hối tháng 10/2008. Đứng đầu mức sụt giảm Dự trữ
ngoại hối là Nga với mức sụt giảm là 71,5 tỷ USD từ 556 tỷ USD xuống chỉ còn 484,5 tỷ
USD, sau đó tới Hàn Quốc giảm 27,4 tỷ USD từ 239, 7 tỷ USD xuống 212,3 tỷ USD;
Đức giảm 18,6 tỷ USD từ 142,9 tỷ USD xuống 124,3 tỷ USD và Nhật giảm 18,2 tỷ USD

ngày càng mất giá.
Trong điều kiện nhu cầu về hàng hoá sụt giảm, thị trường xuất khẩu của các quốc gia bị
co hẹp thì việc đồng nội tệ mất giá sẽ làm tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Nga
và Hàn Quốc. Tuy nhiên, việc đồng rup và đồng won mất giá quá mức so với USD sẽ làm
suy giảm lòng tin của nhà đầu tư và dân chúng, dẫn tới hành động bán tháo những đồng
tiền này và sự tăng giá của hàng hoá nhập khẩu, gây sức ép tới lạm phát. Do đó, chính
phủ Nga và Hàn Quốc đã bơm một lượng lớn USD vào thị trường để ngăn chặn đà sụt
giảm của đồng nội tệ. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới Dự trữ ngoại hối
tháng 10 của các nước này sụt giảm mạnh.
Tuy nhiên còn một lý do quan trọng khác dẫn tới sự sụt giảm Dự trữ ngoại hối trong
tháng 10/2008 đó là sự mất giá của đồng euro, đồng tiền đang chiếm khoảng 25% trong
cơ cấu ngoại tệ Dự trữ ngoại hối của các quốc gia. Tỷ giá EUR/USD ngày 1/10/2008 là
1,4019 và giảm sâu tới mốc 1,2466 vào ngày 27/10/2008 và dừng ở mức 1,273 vào ngày
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 22 31/10. Như vậy, chỉ trong tháng 10/2008 đồng euro đã mất giá khoảng 10% so với USD
do tâm lý nắm giữ đồng USD như tài sản an toàn trong thời kỳ khủng hoảng và lo ngại
các nền kinh tế thuộc khu vực châu Âu sẽ phục hồi chậm chạp hơn so với Mỹ. Đồng euro
mất giá khiến Dự trữ ngoại hối quy đổi ra USD của hầu hết các nước sụt giảm.
Như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động tới mọi khía cạnh của
nền kinh tế trong đó có cả mức Dự trữ ngoại hối của các quốc gia do ảnh hưởng trực tiếp
từ biến động tỷ giá của các đồng tiền so với USD, đồng tiền đang tỏ ra rất nhạy cảm trước
những tín hiệu của thị trường trong giai đoạn hiện nay.
2.1.2. Ảnh hưởng đối với nền kinh tế Việt Nam.
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ từ cuối năm 2007 đã nhanh chóng lan rộng ra các nền
kinh tế lớn, trở thành cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu và hiện đang diễn

ngạch và tốc độ tăng (tương ứng là 65 tỷ USD và 33,9%) do xuất khẩu giảm không chỉ về
số lượng các đơn hàng, mà cả về giá bán của hàng hóa xuất khẩu. Năm 2009, dự kiến kim
ngạch xuất khẩu là 64 tỷ USD, giảm cả về kim ngạch và tốc độ tăng kim ngạch so với con
số đã được trình Quốc hội đầu tháng 10-2008 (số trình Quốc hội tháng 10-2008 tương
ứng là 67,7 tỷ USD và 18%).
b. Về hoạt động ngân hàng và thị trường tiền tệ
Tuy cuộc khủng hoảng chưa có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng,
nhưng một số tác động gián tiếp là đáng kể. Trước hết, đó là diễn biến của tỷ giá và lãi
suất USD. Tỷ giá USD với đồng Việt Nam trên thị trường có nhiều biến động do tâm lý
của người dân. Trước tình hình đó, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có
các biện pháp, chính sách để điều hành, ổn định tỷ giá, hạ lãi suất cơ bản, giúp doanh
nghiệp tiếp cận nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất -
nhập khẩu, rà soát và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại.
Về thị trường chứng khoán, luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam suy giảm và đã có
hiện tượng các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường. Mặc dù tình hình kinh tế vĩ
mô của Việt Nam trong những tháng gần đây có những chuyển biến tích cực, nhưng thị
December 28, 2009 CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM Nhóm Wall.E | Lớp K8T --- KHOA KINH TẾ-LUẬT --- ĐHQG TP.HCM 24 trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục sụt giảm. VN-index giảm liên tục và lập đáy mới
xuống dưới 350 điểm. Việc nhà đầu tư nước ngoài có biểu hiện rút khỏi thị trường chứng
khoán Việt Nam đã gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư trong nước.
c. Về đầu tư nước ngoài
Cuộc khủng hoảng đã bước đầu có ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và
viện trợ phát triển chính thức (ODA). Số dự án FDI đăng ký mới có xu hướng chững lại,
trong tháng 10-2008, tổng số dự án đăng ký mới là 68 dự án với tổng vốn đăng ký là 2,02
tỷ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu năm (9 tháng đầu năm có 885 dự án đăng ký

làm cho nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được ký kết hoặc không thể giải ngân. Những
dự báo ban đầu cho thấy, số vốn ODA cam kết và giải ngân tại Việt Nam trong những
năm tới sẽ có xu hướng giảm do nguồn vốn đầu tư của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc
tế và dự trữ cho vay của các nước phát triển được cân đối lại để bình ổn thị trường tài
chính. Năm 2010 và các năm tiếp theo, kinh tế thế giới nói chung và kinh tế châu Á nói
riêng được dự báo khả quan hơn, điều này sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam.
Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian nền kinh tế thế
giới khủng hoảng sẽ rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn.
Việc bán tháo chứng khoán khỏi thị trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất không
cao, do tính thanh khoản và quy mô của thị trường. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong
các năm tới. Việc huy động vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường
tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao.
Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi suất nhằm hưởng
chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong khi tỷ giá ổn định. Các giao dịch này thường
mang tính đầu cơ ngắn hạn cao. Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo
VND vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VND vẫn ở mức cao, có thể dòng vốn này
sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch. Trong
những trường hợp thoái vốn, dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VND. Việc phát

Trích đoạn Đối với thị trường xuất khẩu Đối với thị trường nội địa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status