HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
LỜI MỞ ĐẦU
A. Giới thiệu tổng quan về đề tài:
Arisotle là một nhà Đại hiền triết lỗi lạc của thế giới, bằng một trí tuệ phi thường
cùng với kiến thức uyên thâm của mình, ông đã để lại cho nhân loại rất nhiều tư
tưởng đúng đắn tiến bộ về rất nhiều lĩnh vực: vật lý học, sinh vật học, đạo đức
học, âm nhạc nghệ thuật, triết học,… Aritotle đã mở ra một chương mới cho xã
hội Hy Lạp cổ, những tư tưởng của ông đã ảnh hưởng sâu rộng và sâu sắc đến xã
hội, con người Hy Lạp cũng như ảnh hưởng vô cùng to lớn đến xã hội phương
Tây. Cuộc đời của Aristotle, những quan điểm triết học vĩ đại của ông cùng với
sự ảnh hưởng của nó đến xã hội phương Tây như thế nào sẽ được trình bày cụ
thể thông qua đề tài tiểu luận “Triết học Aristotle và sự ảnh hưởng của nó đến
xã hội phương Tây”. Kết cấu bài tiểu luận gồm có 2 chương chính:
- Chương I: Tổng quan về Aristotle và các quan điểm triết học của ông
- Chương II: Một số ảnh hưởng chính của triết học Aristotle đối với xã hội
phương Tây.
Bằng một cách khái quát nhất, đề tài sẽ nêu ra những điểm chính trong cuộc đời
Aristotle và những ảnh hưởng của tư tưởng triết học của ông đến với xã hội Tây
phương.
B. Mục tiêu của đề tài:
Dựa trên nguồn tài liệu tham khảo chính là giáo trình “Triết học - phần I: Đại
cương về lịch sử Triết học” của TS.Bùi Văn Mưa – Khoa Lý luận chính trị -
Trường Đại học Kinh tế TPHCM cùng với một số tài liệu tham khảo trên
Internet, bài tiểu luận sẽ nêu tóm tắt về cuộc đời cũng như những quan điểm triết
học của Aristotle, và nêu lên những ảnh hưởng nổi bật trong tư tưởng triết học
của ông đối với xã hội phương Tây. Qua đề tài tiểu luận này, người đọc sẽ hiểu
rõ hơn về cuộc đời, con người và sự nghiệp của nhà triết học vĩ đại Aristotle và
tầm ảnh hưởng lớn lao của ông đối với xã hội là như thế nào.
Trang 1
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ARISTOTLE VÀ CÁC QUAN ĐIỂM TRIẾT
độ quân chủ và rút ra được nhiều bài học từ những điều nghe thấy; đồng thời cũng
học được những nguyên tắc về thương mại, và ngân hàng từ thị quốc này.
Năm 342, ông được vua Philip xứ Macedonia mời làm gia sư cho hoàng tử
Alexander, người về sau trở thành Ðại đế. Aristotle đã ở lại Macedonia trong 7 năm.
Theo như thông lệ, nhà Đại Hiền Triết đã dạy cho Thái Tử về Chính Trị và Tu Từ
Pháp, và Aristotle cũng soạn một tác phẩm của Homer để giảng cho Alexander.
Aristotle đã cố gắng làm phát triển nơi Thái Tử các đức tính về điều độ và lý trí mà
đối với ông, rất cần thiết cho một vương quốc. Có lẽ chính vào dịp này, Aristotle đã
soạn ra cuốn “Khảo Sát về Vương Quyền” (Traité de la Royauté) để giáo huấn Thái
Tử nhưng tác phẩm này đã bị thất lạc hoàn toàn. Khi Alexander lên làm vua và bắt
đầu chinh chiến, Aristotle còn ở lại Macedonia thêm một thời gian nữa trước khi về
lại trung tâm văn hóa và học thuật của Hy Lạp.
Năm 325, Aristotle quay lại Athens, mở trường Lyceum. Ðược Alexander Ðại đế
hỗ trợ, ông lập thảo cầm viên đầu tiên của loài người để làm cơ sở học hỏi. Nền giáo
dục do Aristotle chủ trương gồm hai phần: phần truyền khẩu và phần công khai
(exoteric) (phổ biến ra bên ngoài). Nhà Đại Hiền Triết đề cập tới các câu hỏi hoàn
toàn lý thuyết cho các học viên mới vào buổi sáng còn buổi chiều, Aristotle giảng
dạy những học viên cũ về nhiều điều làm mở mang kiến thức. Trong 12 năm liền,
Aristotle vừa thuyết giảng, vừa viết sách và phổ biến nhiều tác phẩm đề cập tới hầu
hết kiến thức của thời đại. Trong các năm cuối cùng sống tại Lyceum, Aristotle đã
thiết lập bảng liệt kê các thế vận kỳ, cũng như lập ra bảng niên biểu kịch nghệ của
thành Athens mà về sau, bảng này đã được dùng làm căn bản để ấn định ngày tháng
của các vở kịch Hy Lạp. Tại trường Lyceum, Aristotle nhấn cực kỳ mạnh lên sự
Trang 3
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
quan sát trực tiếp thiên nhiên và ông giảng dạy rằng, trong khoa học, lý thuyết phải
đi đôi với thực tế. Ông đánh giá triết học là môn học thể hiện sự suy xét sâu sắc và
thận trọng các nguyên lý đệ nhất có tính hiển nhiên và bất biến, hình thành toàn bộ
tri thức. Ðối với Aristotle, ‘luận lý học là khí cụ cơ bản cho mọi thẩm tra, và tam
đoạn luận là chuỗi lập luận mà hết thảy các tư tưởng dựa trên lý tính phải đi theo’.
Aristotle phủ nhận quan điểm của Platon cho rằng thể xác là nơi trú ngụ tạm thời
của linh hồn bất tử, Aristotle cho rằng sinh thể và con người được cấu thành từ thể
xác và linh hồn. Không có linh hồn bất tử, không có linh hồn trong cơ thể chết và
cũng không có linh hồn nằm bên ngoài thể xác vật chất. Trong thể xác con người có
đủ 3 loại linh hồn: linh hồn thực vật ( thực hiện chức năng nuôi dưỡng và sinh sản,
linh hồn động vật ( thực hiện chức năng cảm ứng với môi trường xung quanh) và
linh hồn lý tính ( thực hiện chức năng hoạt động nhận thức) , khi con người chết đi,
linh hồn thực vật và linh hồn động vật mất đi cùng với sự tan rã của thể xác nhưng
linh hồn lý tính chứa tri thức vẫn tồn tại bất diệt. Theo ông, con người là một sinh
thể có lý trí.
- Quan niệm về nhận thức:
Aristotle cho rằng bản chất con người là khát vọng hướng đến tri thức, con người
sinh ra để nhận thức, kẻ nào không nhận thức kẻ đó không là con người. Nhận thức
là một quá trình xuất phát từ thực tại khách quan trải qua giai đoạn cảm giác, biểu
tượng để đến tư duy, lý luận. Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan
bên ngoài vào bên trong linh hồn, là ghi chép lên linh hồn những dòng chữ tri thức.
Nhiệm vụ của khoa học là khám phá ra cái phổ biến - tất yếu ( cái bản chất, cái quy
luật ) trong các sự vật, hiện tượng riêng lẻ nhằm tích lũy tri thức…
- Quan niệm về đạo đức:
Aristotle coi đạo đức học là sự mở rộng nhận thức vào lĩnh vực hành vi con
người, ông phủ nhận quan niệm của Platon coi hạnh phúc của con người gắn liền với
Trang 5
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
thế giới ý niệm, Aristotle cho rằng: ngu dốt, sai lầm là nguồn gốc của cái ác, lý trí và
lẽ phải đời thường là cơ sở điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh của con người.
Ðạo đức học Aristotle hoàn toàn phản ánh siêu hình học Aristotle. Theo bước Plato,
ông lập luận rằng cái thiện và đức hạnh của vật nằm trong cách thể hiện bản tính
chuyên biệt của nó. Ðối với con người, cái thiện tối thượng là thực hiện thường
xuyên và đầy đủ chức năng làm người, đặc trưng con người, cái hợp lẽ với nó. Theo
Aristotle, đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong thế giới ý
những khái niệm được hình thành trong quá trình nhận thức thành một thế giới riêng
biệt, siêu cảm giác, tồn tại một cách độc lập đối với những sự vật được phản ánh.
Như vậy thì, một là, thế giới của các ý niệm (khái niệm) là tồn tại tối cao, còn thế
giới các sự vật cảm tính chỉ là một tồn tại cấp thấp. Hai là, nếu thế giới các ý niệm
độc lập và tách rời thế giới các sự vật cảm tính, thì các khái niệm, phạm trù chẳng có
vai trò gì đối với nhận thức cả. Ba là, nếu cho rằng thế giới của các ý niệm là độc
lập đối với các sự vật, nhưng các sự vật lại là cái bóng, là bản sao của ý niệm, thì rõ
ràng là tự mâu thuẫn với mình, vì như thế là chúng có chỗ tương đồng. Sự phê phán
trên đây của Aristotle đối với thuyết ý niệm của Platong đã vạch ra một cách tài tình
căn nguyên nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm nói chung. Theo Aristotle, bản
chất tồn tại (chứa đựng) ngay trong bản thân sự vật. Những bản chất này được nhận
thức của con người khái quát thành những cái chung, cái phổ biến dưới dạng, các
khái niệm, các phạm trù, các quy luật. Vì vậy, không phải khái niệm phạm trù, quy
luật là cái có trước, sinh ra sự tồn tại của sự vật, mà ngược lại. Trong tác phẩm "Các
phạm trù", Aristotle khẳng định: "Khái niệm không bao giờ lại là nguyên nhân của
sự tồn tại của sự vật, mà sự vật, có thể gọi là nguyên nhân chân chính của khái
niệm". Quan niệm đó được Lênin đánh giá là đã tiến sát đến chủ nghĩa duy vật.
Trên cơ sở phê phán học thuyết ý niệm của Platong, Aristotle đã xây dựng hệ
thống triết học riêng của mình, ông thừa nhận giới tự nhiên tồn tại một cách khách
quan với những sự vật hết sức đa dạng. Vật lý học nghiên cứu các dạng tồn tại cụ
Trang 7
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
thể của nó; ông coi đây cũng là triết học, nhưng là "triết học thứ hai". Siêu hình học
nghiên cứu bản chất của tồn tại nói chung và được ông coi là "triết học thứ nhất".
Khi giải thích về bản chất của tồn tại, của sự vật, ông thường đặt các câu hỏi (vì sao,
vì cái gì) để giải thích nguyên nhân tồn tại của chúng. Từ đó ông đưa ra 4 nguyên
nhân của tồn tại nói chung: Nguyên nhân vật chất, nguyên nhân hình dạng, nguyên
nhân vận động, nguyên nhân mục đích. Ví dụ, cái nhà mà có được, là nhờ vật liệu
(vật chất), hình thức của nó (hình dạng), hoạt động của thợ (vận động), nhà để ở
(mục đích). Trong những nguyên nhân ấy, nguyên nhân thứ nhất và thứ hai là cơ
Chính Trị Luận có 8 quyển.
Quyển I mang tựa đề "Lý thuyết về Gia đình," gồm 13 chương. Aristotle mở đầu
Chương 1 bằng nhận xét bất hủ: "mỗi một cộng đồng được thiết lập nhằm đạt tới
một cái tốt nào đó; vì hoạt động của con người luôn luôn nhằm đạt được cái mà nó
nghĩ là tốt. Nhưng, nếu tất cả các cộng đồng đều nhắm đến một cái tốt, thì nhà nước
hay cộng đồng chính trị - cộng đồng cao nhất và bao trùm tất cả các cộng đồng phải
nhắm tới cái tốt cao cả hơn mọi cái tốt khác, và phải là cái tốt ở mức độ cao nhất."
Trong Quyển I, Aristotle dùng phương pháp luận lý phân tích và truy nguyên các
hình thức quần tụ của con người từ đơn vị nhỏ nhất là gia đình, đến làng mạc, rồi
đến quốc gia. Trong Chương 12, Q. I, Aristotle luận về vai trò phụ nữ trong hộ gia
đình. Dĩ nhiên, những nhận định này cũng tương tự như quan niệm về nô lệ, nay đã
lỗi thời nhưng có lý trong bối cảnh xã hộ đương thời. Aristotle quan niệm: "người
nam do bản chất tự nhiên, ngoại trừ trường hợp bị tật bẩm sinh, thích hợp với vai trò
chỉ huy hơn là người nữ; cũng tương tự như với tuổi tác và sự chín chắn thích hợp
với vai trò chỉ huy hơn tuổi trẻ thiếu khôn ngoan." Aristotle không nói "chỉ huy" cái
gì, nhưng nhận định thêm rằng vai trò người chồng đối với vợ cũng giống như vai
trò của nhà lãnh đạo chính trị đối với các công dân, và vai trò của người cha đối với
con cái cũng giống như của nhà vua đối với thần dân. Quan niệm của Aristotle về
phụ nữ cũng là quan niệm của Tây phương về vai trò phụ nữ là lo việc quản trị gia
Trang 9
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
đình. Ngay cả Thánh kinh của Ki tô giáo cũng quan niệm tương tự như vậy. Về
phương diện chính trị, trong thời đại "văn minh" của chúng ta, phụ nữ cũng chỉ mới
có quyền đầu phiếu từ năm 1893 tại New Zealand, và tại Mỹ từ năm 1920.
Quyển II gồm 12 chương. Trong phần đầu của Quyển II từ Chương 1 đến 8,
Aristotle bàn về các nhà nước lý tưởng trên lý thuyết. Trong các chương 9-12,
Aristotle nhận diện các nhà nước mà theo ông đã tiến đến gần lý tưởng như Sparta,
Crete, và Carthage cùng với những khuyết điểm sâu sắc mà các nhà nước này mắc
phải và đã đưa đến sự suy vong sau này.
Quyển III gồm 18 chương và chủ đề của Quyển III là khảo sát về bản chất công
huấn luyện thể chất sẽ giúp trẻ em phát triển các tập quán tốt như kỷ luật tự giác, rồi
đến âm nhạc, sau rốt mới đến các môn học về tri thức.
Aristotle mở đầu Chính Trị Luận bằng lập luận rằng "nhà nước, hay cộng đồng
chính trị là cái tốt cao nhất" và lý do để nhà nước hiện hữu là để giúp cho công dân
sống một đời sống "tốt." Do đó, việc giáo dục công dân trở thành những người dân
đạo đức là điều tối quan trọng. Khi một nước có được những người dân vừa học
thức lại vừa đức hạnh, dĩ nhiên đất nước đó phải trở nên tốt hơn. Đó cũng là kết luận
tự nhiên khi Aristotle chấm dứt Chính Trị Luận bằng chương luận về giáo dục.
Mặc dù đã trên hai ngàn năm, với một số nhận định về nô lệ và phụ nữ đã không
còn hợp thời nữa, nhưng Chính Trị Luận vẫn là một kiệt tác nêu lên những câu hỏi
căn bản của đời sống chính trị "lý tưởng" của mọi quốc gia, và là một trong những
tác phẩm kinh điển của khoa Chính trị học Tây phương.
3. Triết học Aristote làm căn bản cho các tư tưởng Thiên chúa giáo đời đó
Theo quan niệm của Aristotle, thì quyền lực của Thiên chúa được thể hiện trong
các hiện tượng thiên nhiên. Aristotle quan niệm rằng có một Thiên chúa. Ông đi từ
Trang 11
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
quan niệm cử động trong vũ trụ: mọi vật trong vũ trụ đều cử động xoay vần mãi
mãi, nguyên do sự cử động ấy là ở đâu? Aristotle cho rằng nguyên do ấy là ở Thiên
chúa, đó là vị chúa tể đã làm cho các tinh tú và hành tinh trong vũ trụ hoặc các yếu
tố nhỏ hơn được xoay vần cử động theo một định luật bất di bất dịch. Vị chúa tể này
không có hình thể, không thể phân chia, không thể thay đổi, không thể bị huỷ diệt.
Theo Aristotle thì Thiên chúa không tạo nên vũ trụ, ngài chỉ làm cho vũ trụ cử động.
Ngài là cứu cánh cuối cùng của sự vật, là nguyên thể của vũ trụ, là lẽ sống, là toàn
thể những diễn tiến sinh lý, là động lực của toàn thể. Ngài là năng lực hoàn toàn, có
thể so sánh được với quan niệm năng lực của nền khoa học và triết lý hiện đại.
Aristotle còn quan niệm rằng thượng đế là một thực thể có nhiều bí hiểm vì ngài
không bao giờ làm gì, không có ý muốn, không có mục đích, không có hành động.
Vì ngài là đấng toàn năng nên không bao giờ ngài ước muốn, vì không ước muốn
nên không bao giờ ngài hành động. Những tư tưởng của Aritotle ban đầu bị giáo hội
vậy, cuộc đấu tranh chống những giáo điều đó đã trở thành cuộc đấu tranh chính trị
hết sức khốc liệt
5. Những cống hiến của Aristotle trong lĩnh vực sinh vật học:
Ở lĩnh vực sinh học, Aristotle đã trình bày những kiến thức sinh học vô cùng cụ
thể và chi tiết. Đã có đến 50 loài động vật được Aristotle trình bày cấu tạo giải phẫu
tương đối cụ thể và chính xác. Giới động vật được Aristotle chia làm 2 nhóm: không
có lông và có lông hoặc không có máu và có máu. Ông cũng bước đầu xây dựng
được các khoa phân loại động vật tương đối hợp lý dựa trên hình thái ngoài, cấu tạo
trong, nơi cư trú, tập tính sinh hoạt của chúng. Theo Aristotle, sinh vật thấp nhất là
thực vật, cao nhất là thú và đặc biệt là con người. Ông quan niệm, loài động vật tạo
thành thang độ từ đơn giản (côn trùng và sâu bọ ở dưới cùng ) đến phức tạp ( con
người ở trên cùng ), nhưng sự tiến hóa không thể xảy ra. Những tư tưởng của
Aristotle là rất tiến bộ, tuy còn nhiều điểm chưa chính xác nhưng những tư tưởng về
động vật học của ông đã mở ra một sự hiểu biết mới cho con người về thế giới sinh
Trang 13
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
vật, do đó nó đã được giảng dạy ở rất nhiều trường đại học cho đến khi Thuyết tiến
hóa của nhà khoa học người Anh Charles Darwin ra đời vào thế kỷ thứ 19.
6. Ảnh hưởng của Aristotle trong lĩnh vực nghệ thuật:
Aristotle cho rằng, nghệ thuật là sự “mô phỏng” của hiện thực. Trước tiên, ông
khẳng định tính chân thực của thế giới hiện thực, từ đó cũng khẳng định tính chân
thực của nghệ thuật “mô phỏng” hiện thực. Đồng thời, Aristote đi xa hơn cho rằng
chức năng “mô phỏng” của nghệ thuật khiến nó hiện thực thế giới được nó “mô
phỏng” càng trở nên chân thực. Ông nhấn mạnh, cái mà nghệ thuật mô phỏng không
chỉ là vẻ bề ngoài hoặc hiện tượng của thế giới hiện thực, mà là bản chất, quy luật
bên trong của thế giới hiện thực. Từ đó, ông cho rằng nhà thơ và họa sĩ khong nên
“mô phỏng y nguyên dáng vẻ vốn có của sự vật” mà nên “mô phỏng cái dáng vẻ cần
có của sự vật”, cũng có nghĩa là vẫn nên biểu hiện đặc trưng, bản chất của sự vật.
Thuyết “mô phỏng” của Aristote có ảnh hưởng rất lớn đến thực tiễn nghệ thuật, từ
thời trung đại, thời văn nghệ phục hưng, đến thế kỉ 17,18 luôn là sự ngưỡng vọng
4. David Bradshaw (2004), Aristotle East and West: Metaphysics
and the Division of Christendom, Cambridge University Press
5. Tài liệu từ Internet:
- https://www.vietsciences.free.fr/biographie/artists/writers/aristotle.htm
- https://www.icevn.org
- https:// daichungvienvinhthanh.com
- https:// hoa-hao.com/kktd/chinh_tri/Aristotles.html
- http://www.nhomai.vn/forum/showthread.php?t=1096
Trang 16
HVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ARISTOTLE VÀ CÁC QUAN NIỆM TRIẾT
HỌC CỦA ÔNG 2
1. Giới thiệu về Aristotle 2
2. Các quan niệm triết học của Aristotle 4
CHƯƠNG II: MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CHÍNH CỦA TRIẾT HỌC ARISTOTLE
ĐỐI VỚI XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY 7
1. Phê phán thuyết ý niệm của Platong, mở ra một tư tưởng mới về triết học duy
vật 7
2. Tác phẩm “Chính trị luận” đã đặt nền tảng căn bản cho Chính trị học Tây
phương và ảnh hưởng sâu rộng đến các tư tưởng gia đời sau 9
3. Triết học Aristote làm căn bản cho các tư tưởng Thiên chúa giáo đời đó 11
4. Ảnh hưởng của Aristotle trong lĩnh vực khoa học tự nhiên 12
5. Những cống hiến của Aristotle trong lĩnh vực sinh vật học 13
6. Ảnh hưởng của Aristotle trong lĩnh vực nghệ thuật 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 17