chuẩn mực kiểm toán việt nam số 620 sử dụng công việc của chuyên gia - Pdf 24

CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM SỐ 620
SỬ DỤNG CÔNG VIỆC CỦA CHUYÊN GIA
I/ QUY ĐỊNH CHUNG
Phạm vi áp dụng
01. Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên
và doanh nghiệp kiểm toán (sau đây gọi là “kiểm toán viên”) đối với việc sử dụng
công việc của chuyên gia là cá nhân hoặc tổ chức hoạt động trong lĩnh vực riêng
biệt ngoài lĩnh vực kế toán, kiểm toán để thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm
toán thích hợp.
02. Chuẩn mực kiểm toán này không áp dụng trong trường hợp:
(a) Khi nhóm kiểm toán có một thành viên có kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh
vực riêng biệt liên quan đến kế toán, kiểm toán hoặc nhóm kiểm toán có xin ý
kiến tư vấn của một cá nhân hoặc tổ chức có kinh nghiệm chuyên sâu trong
lĩnh vực riêng biệt liên quan đến kế toán, kiểm toán, theo hướng dẫn tại đoạn
A10, A20-A22 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220; hoặc
(b) Khi kiểm toán viên sử dụng công việc của một cá nhân hoặc một tổ chức
trong một lĩnh vực riêng biệt ngoài lĩnh vực kế toán, kiểm toán và công việc
trong lĩnh vực riêng biệt đó được đơn vị được kiểm toán sử dụng để hỗ trợ họ
trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính (chuyên gia của đơn vị được
kiểm toán), theo hướng dẫn tại đoạn A34-A48 Chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 500.
Trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với ý kiến kiểm
toán
03. Kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán chịu trách nhiệm toàn bộ về ý kiến
kiểm toán đưa ra, việc sử dụng công việc của chuyên gia không làm giảm trách
nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán về ý kiến kiểm toán. Tuy
nhiên, nếu kiểm toán viên sử dụng công việc của chuyên gia theo quy định của
chuẩn mực kiểm toán này và kết luận rằng công việc của chuyên gia là đầy đủ cho
mục đích kiểm toán, kiểm toán viên có thể sử dụng những phát hiện hoặc kết luận
của chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn riêng biệt của chuyên gia như là bằng
chứng kiểm toán thích hợp.

II/ NỘI DUNG CHUẨN MỰC
Yêu cầu
Xác định sự cần thiết phải có chuyên gia 07. Kiểm toán viên phải xác định sự cần
thiết của việc sử dụng công việc của chuyên gia nếu kinh nghiệm chuyên môn
trong một lĩnh vực riêng biệt ngoài lĩnh vực kế toán, kiểm toán là cần thiết để thu
thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp (xem hướng dẫn tại đoạn A4-A9
Chuẩn mực này).
Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán
08. Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán theo quy định tại đoạn 09-13
Chuẩn mực này sẽ thay đổi tùy theo từng trường hợp. Để xác định nội dung, lịch
trình và phạm vi các thủ tục này, kiểm toán viên phải xem xét (xem hướng dẫn tại
đoạn A10 Chuẩn mực này):
(a) Nội dung của vấn đề có liên quan đến công việc của chuyên gia;
(b) Rủi ro có sai sót trọng yếu của vấn đề có liên quan đến công việc của chuyên
gia;
(c) Tầm quan trọng của công việc của chuyên gia đối với cuộc kiểm toán;
(d) Hiểu biết và kinh nghiệm của kiểm toán viên đối với các công việc trước đó
của chuyên gia;
(e) Liệu chuyên gia có phải tuân theo các chính sách và thủ tục kiểm soát chất
lượng của doanh nghiệp kiểm toán hay không (xem hướng dẫn tại đoạn A11-
A13 Chuẩn mực này).
Năng lực, khả năng và tính khách quan của chuyên gia
09. Kiểm toán viên phải đánh giá xem chuyên gia có đủ năng lực, khả năng và tính
khách quan cho mục đích kiểm toán hay không. Trường hợp sử dụng chuyên gia
bên ngoài, khi đánh giá tính khách quan của chuyên gia, kiểm toán viên phải tìm
hiểu những lợi ích và những mối quan hệ có thể ảnh hưởng đến tính khách quan
của chuyên gia (xem hướng dẫn tại đoạn A14-A20 Chuẩn mực này).

2
Hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn của chuyên gia

mục đích kiểm toán, kiểm toán viên phải (xem hướng dẫn tại đoạn A40 Chuẩn mực
này):
(a) Thỏa thuận với chuyên gia về nội dung và phạm vi công việc chuyên gia cần
tiến hành thêm; hoặc
(b) Thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán phù hợp cho từng trường hợp.
Dẫn chứng công việc của chuyên gia trong báo cáo kiểm toán
14. Khi phát hành báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần, kiểm toán viên
không được đề cập đến công việc của chuyên gia trừ khi có yêu cầu của pháp luật
hoặc các quy định. Nếu pháp luật và các quy định yêu cầu việc dẫn chứng công việc
của chuyên gia trong báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải nêu rõ trong báo cáo
kiểm toán là việc dẫn chứng này không làm giảm trách nhiệm của kiểm toán viên đối
với ý kiến kiểm toán (xem hướng dẫn tại đoạn A41 Chuẩn mực này).

3
15. Nếu kiểm toán viên dẫn chứng công việc của chuyên gia trong báo cáo kiểm toán
mà việc dẫn chứng giúp hiểu rõ lý do của ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến
chấp nhận toàn phần, kiểm toán viên phải nêu rõ trong báo cáo kiểm toán việc dẫn
chứng này không làm giảm trách nhiệm của kiểm toán viên đối với ý kiến kiểm
toán (xem hướng dẫn tại đoạn A42 Chuẩn mực này).

III/ HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG
Khi thực hiện chuẩn mực kiểm toán này cần tham khảo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số
200
Định nghĩa về chuyên gia của doanh nghiệp kiểm toán (hướng dẫn đoạn 06(a))
A1. Kinh nghiệm chuyên môn trong một lĩnh vực riêng biệt ngoài lĩnh vực kế toán,
kiểm toán có thể bao gồm kinh nghiệm chuyên môn liên quan đến các vấn đề như:
(1) Việc định giá các công cụ tài chính phức tạp, đất đai, nhà cửa, nhà xưởng và
máy móc thiết bị, đồ trang sức, tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ, tài sản vô hình, tài
sản được mua và các khoản nợ phải gánh chịu từ hợp nhất kinh doanh và
những tài sản có thể đã bị giảm giá trị;

nghiệp kiểm toán đã sử dụng trước đó nhưng lại không có kinh nghiệm làm việc

4
với cá nhân chuyên gia mà tổ chức đó mới chỉ định; hoặc ngược lại, doanh nghiệp
kiểm toán có thể đã có kinh nghiệm làm việc với một cá nhân chuyên gia nhưng lại
không có kinh nghiệm làm việc với tổ chức của cá nhân chuyên gia đó. Trong hai
trường hợp này, kiểm toán viên có thể cần thực hiện việc đánh giá dựa trên cả đặc
tính cá nhân của chuyên gia và đặc tính quản trị của tổ chức (như hệ thống quản lý
chất lượng mà tổ chức thực hiện).
Xác định sự cần thiết phải sử dụng công việc của chuyên gia (hướng dẫn đoạn 07)
A4. Chuyên gia có thể trợ giúp kiểm toán viên trong một hoặc một số công việc sau:
(1) Tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có
kiểm soát nội bộ;
(2) Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu;
(3) Xác định và thực hiện các biện pháp xử lý tổng thể đối với các rủi ro được
đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính;
(4) Thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo đối với các rủi ro được
đánh giá ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, bao gồm các thử nghiệm kiểm soát và thử
nghiệm cơ bản;
(5) Đánh giá tính đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán đã thu thập để
hình thành ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính.
A5. Rủi ro có sai sót trọng yếu có thể tăng lên khi Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán
cần có chuyên môn khác ngoài lĩnh vực kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo
tài chính, ví dụ do mức độ phức tạp của vấn đề hoặc do Ban Giám đốc đơn vị được
kiểm toán không có kiến thức về lĩnh vực chuyên môn đó. Nếu khi lập báo cáo tài
chính, Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán không có kiến thức chuyên môn cần
thiết thì một chuyên gia của đơn vị được kiểm toán có thể được sử dụng để giải
quyết rủi ro này. Các kiểm soát phù hợp, bao gồm cả những kiểm soát liên quan
đến công việc của chuyên gia của đơn vị được kiểm toán, nếu có, cũng có thể làm
giảm rủi ro có sai sót trọng yếu.

cách toàn diện;
(3) Thảo luận với các kiểm toán viên khác đã thực hiện những cuộc kiểm toán
tương tự.
A8. Trong các trường hợp khác, kiểm toán viên có thể xác định sự cần thiết, hoặc có thể
chọn một chuyên gia để trợ giúp cho việc thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp. Để xác định sự cần thiết phải sử dụng công việc của chuyên gia, kiểm
toán viên cần xem xét các nội dung sau:
(1) Đơn vị được kiểm toán có sử dụng chuyên gia của đơn vị khi lập báo cáo tài
chính hay không (xem đoạn A9);
(2) Bản chất, tầm quan trọng và độ phức tạp của vấn đề cần được chuyên gia tư
vấn;
(3) Rủi ro có sai sót trọng yếu liên quan đến vấn đề cần được chuyên gia tư vấn;
(4) Nội dung của các thủ tục nhằm giải quyết những rủi ro được phát hiện, gồm:
kiến thức hoặc kinh nghiệm với công việc của chuyên gia liên quan đến những
vấn đề cần chuyên gia tư vấn và tính sẵn có của các bằng chứng kiểm toán
khác.
A9. Nếu đơn vị được kiểm toán đã sử dụng chuyên gia trong việc lập báo cáo tài chính,
quyết định của kiểm toán viên về việc có sử dụng chuyên gia của doanh nghiệp
kiểm toán hay không có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
(1) Nội dung, phạm vi và mục tiêu công việc của chuyên gia của đơn vị được
kiểm toán;
(2) Chuyên gia của đơn vị được kiểm toán là nhân viên của đơn vị hay được thuê
từ ngoài;
(3) Mức độ kiểm soát hoặc ảnh hưởng của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán
đối với công việc của chuyên gia của đơn vị được kiểm toán;
(4) Năng lực và khả năng của chuyên gia của đơn vị được kiểm toán;
(5) Liệu chuyên gia của đơn vị được kiểm toán có phải tuân thủ các chuẩn mực về
kỹ thuật hay yêu cầu nghề nghiệp hoặc yêu cầu của ngành hay không;
(6) Các kiểm soát của đơn vị được kiểm toán đối với công việc của chuyên gia.
Đoạn 08 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 đưa ra những quy định và hướng

lượng theo quy định của Chuẩn mực Kiểm soát chất lượng VSQC 1. Tuy nhiên,
nếu có yêu cầu của pháp luật và các quy định, chuyên gia bên ngoài có thể được
coi như một thành viên của nhóm kiểm toán, và do đó có thể phải tuân theo các yêu
cầu về đạo đức nghề nghiệp, bao gồm các yêu cầu về tính độc lập và các yêu cầu
mang tính nghề nghiệp khác theo quy định của pháp luật.
A13.Nhóm kiểm toán có quyền tin tưởng vào hệ thống kiểm soát chất lượng của doanh
nghiệp kiểm toán, trừ khi thông tin do doanh nghiệp kiểm toán hoặc các bên khác
cung cấp đưa ra cách hiểu khác, theo quy định tại đoạn 04 Chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam số 220. Mức độ tin tưởng sẽ thay đổi theo từng trường hợp, và có thể ảnh
hưởng tới nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán đối với những vấn
đề sau:
(1) Năng lực và khả năng của chuyên gia nội bộ, thông qua quy trình tuyển dụng
và các chương trình đào tạo của doanh nghiệp kiểm toán;
(2) Tính khách quan: Chuyên gia nội bộ phải tuân thủ những yêu cầu về đạo đức
nghề nghiệp có liên quan, bao gồm các yêu cầu về tính độc lập;
(3) Đánh giá của kiểm toán viên về tính đầy đủ, thích hợp của công việc của
chuyên gia. Ví dụ, chương trình đào tạo của doanh nghiệp kiểm toán có thể
cung cấp cho các chuyên gia nội bộ những kiến thức phù hợp về mối liên hệ
giữa chuyên môn của họ và quy trình kiểm toán. Mức độ tin tưởng vào những
chương trình đào tạo như vậy và những quy trình khác của doanh nghiệp kiểm
toán, như những quy định về phạm vi công việc của chuyên gia nội bộ, có thể
ảnh hưởng đến nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán khi đánh

7
giá tính đầy đủ, thích hợp của công việc của chuyên gia;
(4) Tính tuân thủ các yêu cầu của pháp luật và các quy định, thông qua quy trình
giám sát;
(5) Thỏa thuận với chuyên gia .
Việc tin tưởng nêu trên không làm giảm trách nhiệm của kiểm toán viên đối với
việc tuân thủ những quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực kiểm toán này.

chuyên ngành, tiêu chuẩn tín chỉ của tổ chức cấp bằng, hoặc các yêu cầu khác của
pháp luật và các quy định.
A17.Những vấn đề khác có thể liên quan đến năng lực, khả năng và tính khách quan của
chuyên gia bao gồm:
(1) Tính phù hợp giữa năng lực của chuyên gia với vấn đề có sử dụng công việc
của chuyên gia, bao gồm bất kỳ lĩnh vực nào thuộc phạm vi chuyên môn của
chuyên gia đó. Ví dụ, một chuyên gia thống kê tính phí có thể có kinh nghiệm
về tính phí bảo hiểm tài sản và tai nạn, nhưng lại không có nhiều kinh nghiệm
chuyên môn về tính phí bảo hiểm nhân thọ;

8
(2) Năng lực của chuyên gia liên quan đến yêu cầu về kế toán, kiểm toán, như
kiến thức về các giả định và phương pháp kế toán có phù hợp với khuôn khổ
về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng;
(3) Những sự kiện không dự tính trước, sự thay đổi của các điều kiện, hoặc bằng
chứng kiểm toán thu thập được từ kết quả của các thủ tục kiểm toán cho thấy
cần phải xem xét lại đánh giá ban đầu về năng lực, khả năng và tính khách
quan của chuyên gia khi cuộc kiểm toán đang được tiến hành.
A18.Có nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của chuyên gia, như
nguy cơ do tư lợi, nguy cơ về sự bào chữa, nguy cơ về sự quen thuộc, nguy cơ tự
kiểm tra và nguy cơ bị đe dọa. Các biện pháp bảo vệ có thể loại trừ hoặc làm giảm
những nguy cơ này và có thể do yếu tố bên ngoài tạo ra (ví dụ tiêu chuẩn nghề
nghiệp của chuyên gia, yêu cầu của pháp luật và các quy định), hoặc do môi trường
làm việc của chuyên gia tạo ra (ví dụ những chính sách và thủ tục về kiểm soát chất
lượng). Kiểm toán viên có thể có biện pháp bảo vệ cụ thể khác cho từng cuộc kiểm
toán.
A19.Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nguy cơ đối với tính khách quan của
chuyên gia và sự cần thiết phải có các biện pháp bảo vệ có thể dựa trên vai trò của
chuyên gia và tầm quan trọng của công việc của chuyên gia đối với cuộc kiểm
toán. Có trường hợp mà các biện pháp bảo vệ không thể làm giảm các nguy cơ tới

(3) Giả định và phương pháp mà chuyên gia áp dụng, tính phổ biến của các giả
định và phương pháp trong lĩnh vực chuyên môn của chuyên gia và sự phù
hợp với mục đích lập báo cáo tài chính;
(4) Nội dung của thông tin hoặc dữ liệu nội bộ và bên ngoài mà chuyên gia sử
dụng.
Thỏa thuận với chuyên gia (hướng dẫn đoạn 11)
A23.Nội dung, phạm vi, mục tiêu công việc của chuyên gia; vai trò và trách nhiệm của
kiểm toán viên và chuyên gia cũng như nội dung, lịch trình, phạm vi của việc trao
đổi thông tin giữa kiểm toán viên và chuyên gia có thể thay đổi trong từng trường
hợp. Vì vậy, kiểm toán viên cần thỏa thuận những vấn đề này với chuyên gia, dù đó
là chuyên gia nội bộ hay chuyên gia bên ngoài của doanh nghiệp kiểm toán.
A24.Quy định tại đoạn 08 Chuẩn mực này có thể ảnh hưởng đến mức độ chi tiết và hình
thức của thỏa thuận giữa kiểm toán viên và chuyên gia, như thỏa thuận bằng văn
bản hay hình thức khác. Các yếu tố sau đây cần phải có thỏa thuận chi tiết hoặc
thỏa thuận bằng văn bản:
(1) Chuyên gia sẽ được tiếp cận với các thông tin nhạy cảm và bí mật của đơn vị
được kiểm toán;
(2) Vai trò hoặc trách nhiệm của kiểm toán viên và của chuyên gia có sự khác biệt
so với thông lệ;
(3) Việc áp dụng đồng thời các yêu cầu của pháp luật và các quy định của Việt
Nam và quốc tế;
(4) Tính phức tạp của các vấn đề có liên quan đến công việc của chuyên gia;
(5) Kiểm toán viên chưa từng sử dụng công việc của chuyên gia đó;
(6) Khi phạm vi công việc của chuyên gia mở rộng hơn và tầm quan trọng của
việc này đối với cuộc kiểm toán.
A25. Thỏa thuận giữa kiểm toán viên và chuyên gia bên ngoài thường được thể hiện dưới
hình thức hợp đồng. Phụ lục của Chuẩn mực này hướng dẫn các vấn đề kiểm toán
viên cần cân nhắc đưa vào hợp đồng, hoặc bất kỳ hình thức thỏa thuận nào khác với
chuyên gia bên ngoài.
A26. Khi không có thỏa thuận bằng văn bản giữa kiểm toán viên và chuyên gia, bằng

gia là một phần của tài liệu, hồ sơ kiểm toán. Giấy tờ làm việc của chuyên gia bên
ngoài không phải là một phần của tài liệu, hồ sơ kiểm toán, trừ khi có thỏa thuận
khác.
Trao đổi thông tin (hướng dẫn đoạn 11(c))
A30.Việc trao đổi thông tin hai chiều có hiệu quả sẽ giúp phối hợp tốt nội dung, lịch
trình và phạm vi của các thủ tục của chuyên gia với các công việc khác của cuộc
kiểm toán, và những sửa đổi đối với mục tiêu công việc của chuyên gia trong quá
trình kiểm toán. Ví dụ, khi công việc của chuyên gia liên quan đến các kết luận
của kiểm toán viên về một rủi ro đáng kể, thì báo cáo chính thức bằng văn bản về
kết luận đối với công việc của chuyên gia hoặc báo cáo bằng lời trong quá trình
làm việc đều có thể phù hợp. Việc xác định thành viên Ban Giám đốc hoặc nhân
viên nào của doanh nghiệp kiểm toán sẽ trao đổi với chuyên gia, và thủ tục trao đổi
giữa chuyên gia và đơn vị được kiểm toán sẽ giúp việc trao đổi thông tin kịp thời
và hiệu quả, đặc biệt trong các cuộc kiểm toán lớn.
Tính bảo mật (hướng dẫn đoạn 11(d))
A31.Những điều khoản về tính bảo mật theo yêu cầu đạo đức nghề nghiệp áp dụng cho
kiểm toán viên cũng phải được áp dụng cho chuyên gia của doanh nghiệp kiểm
toán. Pháp luật và các quy định có thể có thêm các yêu cầu khác. Đơn vị được
kiểm toán cũng có thể yêu cầu phải có điều khoản về tính bảo mật với chuyên gia
bên ngoài của doanh nghiệp kiểm toán.
Đánh giá tính đầy đủ, thích hợp của công việc của chuyên gia (hướng dẫn đoạn 12)
A32.Việc đánh giá về năng lực, khả năng và tính khách quan của chuyên gia, kinh
nghiệm của kiểm toán viên trong lĩnh vực chuyên môn của chuyên gia và đặc điểm
công việc của chuyên gia sẽ ảnh hưởng tới nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ
tục kiểm toán để đánh giá tính đầy đủ, thích hợp của công việc của chuyên gia cho
mục đích kiểm toán.
Phát hiện và kết luận của chuyên gia (hướng dẫn đoạn 12(a))
A33.Những thủ tục cụ thể để đánh giá tính đầy đủ, thích hợp của công việc của chuyên
gia cho mục đích kiểm toán có thể bao gồm:
(1) Phỏng vấn chuyên gia;

Các giả định và phương pháp (hướng dẫn đoạn 12(b))
A35.Khi công việc của chuyên gia là đánh giá những giả định và phương pháp liên
quan, bao gồm cả các mô hình - nếu có, được Ban Giám đốc đơn vị được kiểm
toán sử dụng trong việc thực hiện một ước tính kế toán, thì các thủ tục chủ yếu của
kiểm toán viên là đánh giá xem chuyên gia đã soát xét đầy đủ những giả định và
phương pháp đó hay chưa. Khi công việc của chuyên gia là xây dựng một điểm
hoặc một khoảng ước tính để so sánh với điểm ước tính của Ban Giám đốc đơn vị
được kiểm toán, thì các thủ tục của kiểm toán viên chủ yếu là đánh giá các giả định
và phương pháp đó, bao gồm cả các mô hình - nếu có, mà chuyên gia sử dụng.
A36.Đoạn 08, 13 và 15 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 540 đề cập đến những giả
định và phương pháp được Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán sử dụng trong
việc xây dựng các ước tính kế toán, kể cả trường hợp sử dụng mô hình mang tính
chuyên môn hóa cao do chính đơn vị được kiểm toán xây dựng và đưa ra những
quy định, hướng dẫn giúp kiểm toán viên thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp liên quan đến giả định và phương pháp của Ban Giám đốc. Đồng thời,
các quy định và hướng dẫn này cũng trợ giúp kiểm toán viên khi đánh giá những
giả định và phương pháp của chuyên gia .

12
A37.Khi công việc của chuyên gia liên quan đến việc sử dụng những giả định và
phương pháp quan trọng, kiểm toán viên cần xem xét và đánh giá những giả định
và phương pháp đó có:
(1) Được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực chuyên môn của chuyên gia;
(2) Phù hợp với yêu cầu của khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được
áp dụng;
(3) Phụ thuộc vào việc sử dụng những mô hình mang tính chuyên môn hóa cao;
(4) Phù hợp với những giả định và phương pháp của đơn vị được kiểm toán, và
nếu không thì lý do và ảnh hưởng của sự khác biệt đó là gì.
Nguồn dữ liệu của chuyên gia (hướng dẫn đoạn 12(c))
A38.Khi công việc của chuyên gia liên quan đến việc sử dụng nguồn dữ liệu quan trọng

13
Phụ lục
(hướng dẫn đoạn A25)
CÁC VẤN ĐỀ CẦN XEM XÉT ĐỐI VỚI THỎA THUẬN GIỮA KIỂM
TOÁN VIÊN VÀ CHUYÊN GIA BÊN NGOÀI
Phụ lục này hướng dẫn những vấn đề kiểm toán viên cần cân nhắc để đưa vào bất cứ
thỏa thuận nào với chuyên gia bên ngoài của doanh nghiệp kiểm toán. Hướng dẫn này
mang tính minh họa và không bao gồm tất cả mọi trường hợp. Hướng dẫn này có thể
được sử dụng kết hợp với những vấn đề được quy định trong chuẩn mực kiểm toán này.
Việc có đưa một khoản mục cụ thể nào đó vào trong thỏa thuận với chuyên gia hay
không phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể của cuộc kiểm toán. Hướng dẫn này cũng
có thể giúp lựa chọn những vấn đề cần đưa vào trong thỏa thuận với chuyên gia nội bộ
của doanh nghiệp kiểm toán.
A. Nội dung, phạm vi và mục tiêu của công việc của chuyên gia bên ngoài
(1) Nội dung và phạm vi của các thủ tục cần được chuyên gia bên ngoài thực hiện;
(2) Các mục tiêu công việc của chuyên gia bên ngoài liên quan đến tính trọng yếu và
đánh giá rủi ro của vấn đề liên quan đến công việc của chuyên gia, và nếu cần thiết
khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng;
(3) Những chuẩn mực về kỹ thuật hay các yêu cầu nghề nghiệp hoặc các yêu cầu của
ngành mà chuyên gia bên ngoài phải tuân theo;
(4) Những giả định và phương pháp, bao gồm các mô hình nếu có, mà chuyên gia bên
ngoài sử dụng và dẫn chứng tài liệu;
(5) Ngày hiệu lực, hoặc giai đoạn kiểm tra (nếu có) của vấn đề chính trong công việc của
chuyên gia, và yêu cầu liên quan đến những sự kiện xảy ra sau đó.
B. Vai trò, trách nhiệm của kiểm toán viên và của chuyên gia bên ngoài
(1) Những chuẩn mực kế toán và kiểm toán, những yêu cầu của pháp luật và các quy
định có liên quan;
(2) Sự chấp thuận của chuyên gia bên ngoài đối với việc kiểm toán viên sử dụng báo cáo
của chuyên gia, bao gồm việc dẫn chứng, hoặc công khai với các bên khác, ví dụ
việc lấy đó làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp

(2) Thời điểm chuyên gia bên ngoài hoàn thành công việc và báo cáo những phát hiện
và kết luận cho kiểm toán viên;
(3) Trách nhiệm của chuyên gia bên ngoài trong việc trao đổi kịp thời những tình huống
xảy ra làm ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành công việc, và bất kỳ nghi ngại hoặc
hạn chế tiềm tàng nào đối với những phát hiện hoặc kết luận của chuyên gia;
(4) Trách nhiệm của chuyên gia bên ngoài trong việc trao đổi kịp thời những trường hợp
mà đơn vị được kiểm toán hạn chế việc tiếp cận của chuyên gia với những ghi
chép, tài liệu, nhân sự hay chuyên gia do đơn vị được kiểm toán thuê;
(5) Trách nhiệm của chuyên gia bên ngoài trong việc trao đổi với kiểm toán viên tất cả
những thông tin mà chuyên gia cho là phù hợp với cuộc kiểm toán, bao gồm bất kỳ
thay đổi nào so với các lần trao đổi trước đó;
(6) Trách nhiệm của chuyên gia bên ngoài trong việc trao đổi những trường hợp có thể
làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan của chuyên gia, và các biện
pháp bảo vệ có thể loại bỏ hoặc giảm bớt những nguy cơ đó xuống mức có thể
chấp nhận được.
D. Bảo mật
Chuyên gia bên ngoài phải tuân thủ các yêu cầu về bảo mật, bao gồm:
(1) Các yêu cầu bảo mật theo quy định về đạo đức nghề nghiệp áp dụng cho kiểm toán
viên;
(2) Những yêu cầu khác theo pháp luật và các quy định, nếu có;
(3) Những điều khoản bảo mật cụ thể do đơn vị được kiểm toán yêu cầu, nếu có./.
***

15


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status