Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
Mở ĐầU
1.Lí do chọn đề tài.
Văn học phơng Tây thế kỉ XX đã ghi nhận một nhà văn Mỹ Ernest
Hemingway nh một gơng mặt tiêu biểu của văn chơng nhân loại. Nhà phê bình
Lê Huy Bắc đã gọi ông là nhà văn Mỹ lừng danh trên toàn thế giới [8- Tr.
4]. Sáu mơi năm sống trên cõi thế gian nhng ngời đời không những biết đến
Ernest Hemingway nh một chiến sỹ dũng cảm, một tay đấu bò hạng nặng hay
một tay đấm bốc nổi tiếng trên đấu trờng mà quan trọng hơn, thế giới biết đến
ông bởi những truyện ngắn nổi tiếng nh: Tuyết trên đỉnh Kilimanjarô, Cuộc đời
hạnh phúc ngắn ngủi của Francix Macomber, Năm mơi ngàn dollar và đặc biệt
là những trang tiểu thuyết đầy hấp dẫn: Mặt trời vẫn mọc (1926), giã từ vũ khí
(1929), Chuông nguyện hồn ai (1940), Ông già và biển cả (1952). Trong số
những tác phẩm ấy, có thể nói Chuông nguyện hồn ai là một tác phẩm tiêu biểu
góp phần đem lại vinh quang cho nhà văn: năm 1954, Ernest Hemingway đợc
nhận giải thởng Nobel văn học. Chuông nguyện hồn ai chính là sự tiếp nối, phát
triển, thể hiện tập trung nguyên lý Tảng băng trôi mà nhà văn khởi xớng từ trớc.
Hơn nữa, trong tiểu thuyết độc đáo này, nhà văn đã thể hiện tài năng của mình
qua sự khám phá một hình thức nghệ thuật độc đáo : độc thoại nội tâm.
Khi nghiên cứu tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai, có nhiều nhà phê
bình không ngần ngại gọi đó là bản anh hùng ca thời đại. Tác phẩm tái hiện lại
một giai đoạn, một khung cảnh của cuộc nội chiến Tây Ban Nha mà bản thân
Ernest Hemingway đã từng tham gia. Qua đó, một lần nữa, nhà văn tô đậm
thêm hình tợng ngời anh hùng trong sáng tác của mình. Để chứa đựng đợc ý
nghĩa sâu sắc đó, độc thoại nội tâm đã trở thành thủ pháp nghệ thuật chính mà d-
ới ngòi bút tài hoa của Hemingway, nó đã trở thành nghệ thuật viết truyện mới
mãnh liệt và đầy sáng tạo về phơng diện bút pháp (Tuyên dơng Nobel).
Là những ngời học văn, yêu văn, khi đọc tác phẩm của Hemingway, đặc
biệt là tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai, chúng tôi có một ấn tợng sâu sắc về
phong cách độc đáo in dấu trên từng trang viết. Và với niềm yêu thích văn chơng,
mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về độc thoại nội tâm và hiệu quả nghệ thuật của
Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, Hemingway đã sử dụng độc
thoại nội tâm và không ngừng gia tăng cờng độ của nó trong các tác phẩm về
sau. Trong bài viết Đối thoại và độc thoại nội tâm của Hemingway (TCVH Số
7, 1997), Lê Huy Bắc đã đa ra kết quả khảo sát về tỉ lệ độc thoại nội tâm trong
Nguyễn Hoài Thanh 2 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
các tác phẩm của Hemingway: 0,9% ở Mặt trời vẫn mọc, 1,8% trong giã từ vũ
khí, 8,7% với Có và không, 13,3% trong Chuông nguyện hồn ai và 30,7% ở Ông
già và biển cả. Những con số trên chứng tỏ đối thoại đã từng bớc nhờng lãnh thổ
cho độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết của Hemingway.
Tiểu thuyết ngắn Ông già và biển cả là tiểu thuyết hết sức thành công, nó
đem lại cho Hemingway niềm vinh quang khi ông đợc nhận giải Nobel văn học
năm 1954. Chính vì thế nó đã thu hút đông đảo giới nghiên cứu phê bình văn ch-
ơng. Đã có những ý kiến bình luận, đánh giá khác nhau về độc thoại nội tâm
trong tiểu thuyết này:
Đó là Lê Nguyên Cẩn trong Giáo trình cao đẳng s phạm - Văn học nớc
ngoài đã đề cập đến biện pháp độc thoại nội tâm trong Ông già và biển cả. Tác
giả nhận xét: Với độ dài hơn trăm trang sách lại sử dụng chủ yếu là độc thoại
nội tâm, Hemingway đã không làm độc giả thất vọng và nhàm chán. Điều đó
khẳng định tài năng xuất chúng của ông [23- Tr. 151]
Trong cuốn Văn học phơng Tây, nhà xuất bản Giáo dục 1997 có viết:
Ông già và biển cảtất cả bề dày chiều sâu của nhân vật đợc gọi lên từ hình thức
ngôn từ của nhân vật đặc biệt phát triển ở cuốn truyện này: đó là độc thoại nội
tâm Xen lẫn vào những suy nghĩ tởng chừng nh rất đơn giản về cá, về biển là
những chân lý lớn lao mà con ngời thể nghiệm ở thời đại này. [13- Tr. 720]
Hay Lê Huy Bắc trong Đọc Ông già và biển cả cũng đề cập đến độc
thoại nội tâm. Tác giả nhận xét: Trong tác phẩm, ngôn từ hầu hết đợc cấy trên
dòng hồi tởng của Santiagô. Nó tạo nên một kiểu ngôn từ tâm trạng: độc thoại
nội tâm.
Không chỉ ở Ông già và biển cả, độc thoại nội tâm trong tập truyện ngắn
này đợc hoan nghênh nồng nhiệt không những tại Hiệp chủng quốc mà còn tại
nhiều nơi khác trên hoàn vũ, đặc biệt là tại nhiều nớc châu Âu. Tác phẩm này ghi
dấu sự từ bỏ chán chờng của Hemingway. Nó còn nói lên cái ý thức, trách nhiệm,
cái niềm tin đặt vào cuộc sống và cái ý hớng muốn dấn thân vào hành động của
tri thức [15- Tr. 22]
Đó chính là ý nghĩa và sức ảnh hởng của tiểu thuyết Chuông nguyện hồn
ai đối với thế giới và bạn đọc.
Vũ Tú Nam nhân đọc Chuông nguyện hồn ai của Hemingway đã có bài
viết Suy nghĩ về tiểu thuyết trong báo Tác phẩm mới tháng 4 năm 1999. Trong
bài viết này ông nhận xét: ở Hemingway vừa có truyền thống Mỹ, vừa có hơi
thở của biển và rừng, có máu và Nam Mỹ và Tây Ban Nha. Ông là nhà văn của sự
quyết liệt, của máu, của đấu bò, súng săn, của bão biển, đồng thời là nhà thơ của
Nguyễn Hoài Thanh 4 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
tình yêu, của bầu trời xanh, của một nhà nghỉ với cần câu và biển lặng. Ông đã
sống và chết đúng nh nhân vật của ông. Ông đã sống cho đến khi chết. Và ông đã
chết nh chính ông- và Jorđan đang sống [19- Tr. 74]
Không chỉ đánh giá và nhìn nhận chung về tiểu thuyết Chuông nguyện
hồn ai, các khía cạnh khác về nghệ thuật của tiểu thuyết cũng đợc quan tâm. ở
góc độ này, độc thoại nội tâm mới chỉ đợc nhìn nhận ở mức độ khái quát và đợc
nhắc đến trong những bài nghiên cứu về độc thoại nội tâm trong các sáng tác của
Hemingway nói chung mà cha đề cập trực tiếp hoặc đi sâu phân tích tìm hiểu
độc thoại nội tâm trong toàn bộ tác phẩm.
Vũ Tú Nam trong bài Suy nghĩ về tiểu thuyết đã đề cập đến độc thoại
nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai: Có thể nói những đặc sắc trong nghệ
thuật viết của Hemingway là: đối thoại và độc thoại nội tâm- cảm giác (toàn
những cảm giác cao độ). Ông rất ít tả cảnh, rất ít tả dung mạo và dáng điệu nhân
vật. Rất nhiều đối thoại và độc thoại nội tâm, từ đó mà nhân vật nổi rõ lên.
Những đoạn kể lại (trên đờng đi tìm EnXorđô, Pila kể lại Phinitô ngày xa hộc
máu vì đấu bò; Maria kể lại chuyện cha mẹ cô bị giết và cô bị làm nhục) đều rất
ai, hay trong Ông già và biển cả Nhng trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp
đại học, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết
Chuông nguyện hồn ai qua bản dịch của Nguyễn Vĩnh và Hồ Thể Tần, do Phạm
Thành Vinh giới thiệu, nhà xuất bản Văn học năm 2006.
Chúng tôi hy vọng việc tìm hiểu nghệ thuật độc thoại nội tâm trong một
tác phẩm tiêu biểu sẽ ít nhiều soi sáng cho các tác phẩm khác của Hemingway.
4. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu đặc điểm của thủ pháp độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết và
làm rõ vai trò của nó đối với việc xây dựng hình tợng nhân vật chính Rôbơc
Jorđan nói riêng và trong toàn bộ tác phẩm nói chung.
- Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa độc thoại nội tâm và nguyên lý
Tảng băng trôi.
5. Phơng pháp nghiên cứu.
- Phơng pháp khảo sát, thống kê.
- Phơng pháp so sánh.
Nguyễn Hoài Thanh 6 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
- Phơng pháp phân tích- tổng hợp.
6. Cấu trúc khoá luận.
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, khoá luận gồm 2 chơng:
- Chơng 1: Đặc điểm của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai.
- Chơng 2: Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện
hồn ai
NộI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐặC ĐIểM CủA Độc thoại nội tâm
Trong ChU NG NGUYệN HồN AIÔ
1.1. Độc thoại nội tâm trong sáng tác văn chơng.
1.1.1. Khái niệm
Từ điển thuật ngữ văn học nhà xuất bản Giáo dục năm 2004 đã định
nghĩa: Độc thoại nội tâm là lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể
Nh vậy, những nhà nghiên cứu đã đa ra những khái niệm khác nhau về độc
thoại nội tâm song tựu trung họ đều khẳng định nét nổi bật nhất của độc thoại
nội tâm: đó chính là thủ pháp hữu hiệu nhất giúp nhà văn miêu tả, phơi bày nội
tâm nhân vật và mô tả nó từ bên trong. Nhà văn không chỉ mô tả phố xá, nhà
cửa, đồ dùng, áo quần, nét mặt, cử chỉ, lời nói của nhân vật mà còn đọc đợc
những ý nghĩ sâu kín nhất trong lòng nhân vật, nhiều khi ý nghĩ này trái ngợc
với vẻ ngoài của nó [16- Tr. 143]
Khi bớc vào khám phá hiện thực khách quan, nhìn nhận và chắt lọc những
vẻ đẹp chân thực nhất của nó, mỗi nhà văn có một phơng pháp và thế giới quan
riêng. Từ đó, hình tợng nghệ thuật mà tác giả dựng nên thể hiện rõ quan niệm
nghệ thuật của tác giả ấy. Nh vậy, độc thoại nội tâm cũng tùy thuộc rất nhiều vào
phơng pháp sáng tác và bản sắc riêng của nhà văn. Hay nói cách khác, độc thoại
nội tâm thể hiện rõ phong cách riêng của tác giả. Nhng nhìn chung, qua lăng
kính chủ quan của nhà văn, độc thoại nội tâm vẫn là thủ pháp lột tả một cách
chân thực và sinh động nhất con ngời bên trong, thế giới nội tâm nhân vật.
Trong cuốn Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phơng Tây hiện đại, nhà
nghiên cứu Đặng Anh Đào khi đa ra vấn đề độc thoại nội tâm và dòng tâm t đã
trích dẫn ý kiến đánh giá của một số nhà nghiên cứu Xô Viết trớc đây đã phân
biệt độc thoại nội tâm với dòng tâm t. Đó là Khrapchenkô và Suvkop. Nhng khác
Nguyễn Hoài Thanh 8 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
với hai nhà nghiên cứu trên, nhà viết kịch Bectôn Brecht lại không phân biệt độc
thoại nội tâm với dòng tâm t. Đặng Anh Đào đã nhất trí với ý kiến này và cho
rằng: độc thoại nội tâm hay dòng tâm t (dòng ý thức) đều là một. Nó không chỉ là
tiếng nói hớng nội ngôn từ không thốt nên lời của nhân vật mà nó còn là tiếng
nói của ý nghĩ đang hình thành.
Nh vậy, xung quanh một khái niệm có rất nhiều cách giải thích khác nhau.
Mỗi tác giả đều có cái lý riêng, ý kiến riêng của mình khi đa ra định nghĩa về
độc thoại nội tâm.
Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật độc thoại nội tâm và hiệu
của con ngời. Với tác phẩm tự sự, linh hồn của nó là nhân vật. Xây dựng nhân vật
nh một ngời lạ đã quen, một nhân vật sống là một thử thách lớn đối với ngời
nghệ sĩ. Điều đó đòi hỏi ngời nghệ sĩ phải có tài năng thực thụ, phải có phẩm
chất và thế giới quan tinh tờng. Cái đọng lại sâu sắc và để lại ấn tợng trong lòng
độc giả về nhân vật thờng là con ngời và tính cách bên trong, con ngời bên trong
của họ. Tuy nhiên, để xây dựng nhân vật đó thì thủ pháp nghệ thuật mà nhà văn
sử dụng chiếm vị trí đáng kể. Một trong những thủ pháp nghệ thuật làm nổi bật
con ngời bên trong của nhân vật trong tác phẩm tự sự đó chính là : độc thoại nội
tâm.
Theo giáo s Nguyễn Hải Hà trong Thi pháp tiểu thuyết Lep Tônxtôi thì
trong Chiến tranh và hoà bình, độc thoại nội tâm xuất hiện dới ba dạng:
Dạng thứ nhất là dạng thuần tuý: ở dạng này tác giả chỉ rõ nhân vật
nghĩ, tự nhủ hoặc phân thân tự nói to với mình và những ý nghĩ này của
nhân vật thờng đợc để trong ngoặc kép.
Dạng thứ hai là dạng lời nói nửa trực tiếp: ở dạng này tác giả trực tiếp
phơi bày, phân tích tâm lý nhân vật, nhng tới một lúc nào đó giọng tác giả hoà
quyện vào giọng nhân vật khiến khó mà phân biệt rạch ròi.
Dạng thứ ba là dạng tổng hợp: ở dạng này tác giả sử dụng xen kẽ cả hai
dạng trên, có khi kết hợp với nhật ký, chiêm bao.
Có độc thoại nội tâm chỉ vẻn vẹn có một ý nghĩ ngắn ngủi, nhiều độc thoại
nội tâm dài tới ba trang. Độc thoại nội tâm thờng gắn với nhân vật tích cực. Độc
thoại nội tâm bộc lộ tâm trạng, nghĩ suy, sự giằng xé trong nội tâm nhân vật ở
một thời điểm nào đó chứ không nhất thiết là bằng chứng cho sự phát triển tính
cách.
Lê Huy Bắc cũng cho rằng: độc thoại nội tâm cũng có chức năng hớng
ngoại, nghĩa là bộc lộ cái nhìn thế giới, cách đánh giá con ngời của nhân vật [5-
Nguyễn Hoài Thanh 10 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
Tr. 27]. Độc thoại nội tâm vì thế dờng nh bộc lộ, thể hiện phản ứng, nghĩ suy của
nhân vật đối với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, độc thoại nội tâm thờng hớng nội,
Trong tác phẩm văn học, để xây dựng hình tợng nghệ thuật, nhà văn phải
lựa chọn và chắt lọc lớp ngôn từ vốn có, đồng thời kết hợp các thủ pháp nghệ
thuật sao cho đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất. Độc thoại và độc thoại nội tâm là
hai thủ pháp đợc sử dụng khá phổ biến trong việc phơi bày nội tâm, con ngời bên
trong của nhân vật, từ đó góp phần hình thành cái nhìn về phẩm chất, nhân cách
của nhân vật. Thế nhng, trong sáng tạo nghệ thuật, độc thoại và độc thoại nội
tâm có phạm vi sử dụng khác nhau, đặc điểm khác nhau, từ đó hiệu quả của nó
đối với việc xây dựng hình tợng nhân vật là khác nhau.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học- nhà xuất bản Đà Nẵng 2004 đã
định nghĩa độc thoại là: nói một mình, trái với đối thoại (ví dụ: đoạn đối thoại
trong vở kịch); còn độc thoại nội tâm là: lời nhân vật trong tác phẩm văn học
nghệ thuật tự nói với mình về bản thân mình.[25- Tr. 336]
Trong chuyên luận Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phơng Tây hiện đại,
Đặng Anh Đào đã chỉ ra điểm khác nhau giữa độc thoại và độc thoại nội tâm nh
sau:
Đầu tiên là sự khác nhau về xuất xứ, khái niệm: Nếu độc thoại nội tâm
và dòng tâm t chỉ đợc lu ý trong sáng tác nghệ thuật cũng nh trong lý luận từ thế
kỷ XX thì khái niệm độc thoại đã có từ lâu.[12- Tr. 60]
Và sau đó là khác nhau về phạm vi sử dụng: độc thoại đợc nói đến ở kịch,
đôi khi trong tiểu thuyết, trong khi khái niệm độc thoại nội tâm chỉ dùng trong
tiểu thuyết. Có ngời coi độc thoại nội tâm và dòng tâm t là sự chuyển hoá của
độc thoại ở kịch sang tiểu thuyết.[12- Tr.60]
Nh vậy, có thể thấy giữa độc thoại (của cả kịch và tiểu thuyết) và độc thoại
nội tâm có những điểm giống nhau: đó cùng là sự tái hiện những ý nghĩ của nhân
vật, chúng đều có tính chất hớng nội, qua đó làm toát lên tính cách, suy nghĩ của
nhân vật ở thời điểm đang đợc nói tới bằng sự đấu tranh nội tâm.
Giữa độc thoại và độc thoại nội tâm cũng có những điểm khác biệt: độc
thoại vẫn gắn liền với hành động hơn, nhất là ở kịch. Trong tiểu thuyết, có thể
ranh giới bị xoá nhoà nhng độc thoại vẫn thiên về hành động hơn so với độc thoại
nội tâm.
và tạo nên hiệu quả nghệ thuật tối đa khi độc thoại nội tâm đợc sử dụng nhiều
trong tiểu thuyết. Hay nói một cách khác, tiểu thuyết chính là địa hạt thuận lợi
nhất để nghệ thuật độc thoại nội tâm bộc lộ rõ nhất u điểm nghệ thuật của mình.
Hemingway không những đã nắm bắt đợc thế mạnh ấy của nghệ thuật độc
thoại nội tâm, ông còn tận dụng, phát huy và sáng tạo nó thành độc thoại nội tâm
mang đậm phong cách Hemingway. Trong Chuông nguyện hồn ai, độc thoại nội
Nguyễn Hoài Thanh 13 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
tâm đợc sử dụng với những đặc điểm đặc sắc và hết sức độc đáo. Không chỉ nhân
vật trung tâm Rôbơc Jorđan độc thoại nội tâm mà ngay cả những nhân vật khác
cũng có lúc chìm trong suy t của mình, đấu tranh với bản thân mình. Vì thế,
trong tác phẩm, Hemingway lựa chọn sử dụng độc thoại nội tâm chứ không phải
độc thoại. Mặc dù đôi khi ranh giới giữa độc thoại và độc thoại nội tâm rất khó
xác định bởi vì ta vẫn thấy tính chất hớng về hành động vẫn toát ra từ thế giới bên
trong ở đoạn văn của Hemingway. Chẳng hạn, ở đoạn:
Hãy nghĩ tới Môngtana. Mình không thể nghĩ đ ợc, nghĩ tới Mađrit. Mình
không thể nghĩ đợc. Hãy nghĩ tới một cốc nớc mát. Đợc lắm, cứ thế. Nh một cốc
nớc mát. Mày là thằng nói dối. Điều đó chẳng có nghĩa lý gì. Thế thì làm đi. Làm
cái đó đi. Bây giờ làm đi. Tới đó rồi làm đi. Không mày phải chờ đã. Sao? Mày
biết qua đi chứ lị . [27- Tr. 554]
Đây là suy nghĩ của Rôbơc Jorđan khi anh bị thơng nằm lại bên cầu chờ
bọn giặc tới. Về hình thức, lời độc thoại nội tâm có tính chất hớng về hành động
nhng lời độc thoại nội tâm của nhân vật trong hoàn cảnh này lại chính là lời anh
đang tự đấu tranh trong nội tâm, đấu tranh với chính nỗi đau của thể xác để vợt
lên hoàn cảnh.
Sự độc đáo và thú vị ấy của độc thoại nội tâm có thể thấy nhiều trong bộ
tiểu thuyết hấp dẫn Chuông nguyện hồn ai. Hemingway với tầm am hiểu uyên
thâm và một bút lực đầy tài năng đã chứng tỏ tài năng của mình trên bình diện
ngôn ngữ đầy quyến rũ song thực không dễ điều khiển: độc thoại nội tâm.
[5- Tr. 28]
cầu. Tuyết ngừng rơi đột ngột, nhóm EnXorđô bị quân phát xít phát hiện, ném
bon và giết chết trên ngọn đồi. Pablo lấy trộm thuốc nổ quẳng xuống sông. Vì thế
Jorđan phải kết lựu đạn để phá cầu và vẫn quyết định tiến hành kế hoạch. Tới
phút cuối trớc khi trận đấu nổ ra, Pablo lại tham gia cùng mọi ngời. Cầu sập, trên
đờng rút lui, Jorđan bị ngã ngựa gãy chân, anh buộc phải chia tay Maria và đồng
đội, tình nguyện nằm lại chặn đờng quân địch.
Cũng giống nh các tiểu thuyết khác của Hemingway, cốt truyện ở Chuông
nguyện hồn ai không phải là yếu tố tác giả quan tâm bậc nhất. Câu chuyện chỉ
xoay quanh ba ngày đêm tiến hành nhiệm vụ phá cầu của Rôbơc Jorđan. Với
khoảng thời gian ngắn ấy, biết bao suy nghĩ, biết bao trạng thái phức tạp diễn ra
trong đầu anh. Thông thờng, độc thoại nội tâm chỉ đợc tác giả xây dựng và chú ý
nhiều ở nhân vật tích cực, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Song, ở Chuông
Nguyễn Hoài Thanh 15 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
nguyện hồn ai, không chỉ có Rôbơc Jorđan độc thoại nội tâm mà còn có những
nhân vật khác cũng có những suy nghĩ, những đấu tranh, giằng xé trong nội tâm
của mình.
Theo kết qủa thống kê khảo sát, trong Chuông nguyện hồn ai, có 32 nhân
vật có tên cụ thể, ngoài ra còn có những nhân vật không tên nh cha cố, nông dân,
tên xạ thủ, ngời mặt nặng nề, sĩ quan, hạ sĩ. Trong số những nhân vật có tên,
ngoài nhân vật trung tâm của tác phẩm - Rôbơc Jorđan có số lần độc thoại nội
tâm nhiều nhất, còn có cụ Anxenmô và ngời du kích già EnXorđô cũng có những
lần độc thoại nội tâm.
Có thể thống kê số lần độc thoại nội tâm (ĐTNT) của các nhân vật ấy qua
bảng sau:
Tên nhân vật Rôbơc Jorđan Anxenmô EnXorđô
Số lần ĐTNT 205 21 13
Số dòng 2030 142 66
Ghi chú:
Cách tính dòng:
Anxenmô khi cụ nhận lệnh của Rôbơc Jorđan canh bốt của địch: Đáng lẽ bây
giờ mình phải về trại. Mình sẽ ở lại đây thêm một chút nữa- ông nghĩ- sẽ về trại.
Đó là khuyết điểm của mệnh lệnh cứng nhắc quá [27- Tr. 230]
Qua những suy nghĩ của cụ Anxenmô, dờng nh ta thấy trong đó một phần
suy nghĩ của chính nhà văn: Cụ nghĩ: bọn phát xít đang s ởi ấm, chúng nó đang
bàng hoàng dễ chịu, nhng đêm mai là chúng ta sẽ giết hết chúng nó. Thật là một
sự lạ: mình không muốn nghĩ đến điều đó. Suốt ngày hôm nay mình theo dõi
chúng nó, và chúng nó cũng là ngời nh chúng ta Chỉ có mệnh lệnh đã chi rẽ
chúng ta. Những ngời đó không phải là phát xít. Mình gọi thế chứ họ không phải
thế. Họ là những ngời nghèo nh chúng ta. Đáng lẽ họ không bao giờ nên đánh lại
chúng ta và mình không thích nghĩ đến chuyện chém giết [27- Tr. 232]
Và với EnXorđô- ngời du kích già khi chiến đấu với địch trên ngọn đồi gần
nơi trú ẩn của toán du kích Pablo, Hemingway cũng để ông dũng cảm sẵn sàng
đón nhận cái chết bằng lời độc thoại nội tâm:
Chết không sao cả Nhng sống là cả một cánh đồng lúa dạt dào trong
nắng sớm. Sống là con chim ng trên bầu trời. Sống là một vò nớc giữa bụi bặm
trong buổi đập lúa hạt lúa rơi ra và trấu bay tơi tả. Sống là cỡi trên lng một con
Nguyễn Hoài Thanh 17 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
ngựa, khẩu súng trờng cài bên yên dới một bên chân và là một ngọn đồi, một
thung lũng, một dòng suối mọc hai bên bờ, mọc bên kia thung lũng và trên những
ngọn đồi xa xa [27- Tr. 367]
Nh vậy, kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ độc thoại nội tâm ở nhân vật Rôbơc
Jorđan là chủ yếu. Độc thoại nội tâm ở các nhân vật khác chỉ chiếm một tỉ lệ
nhỏ và chủ yếu để khắc hoạ suy nghĩ, tâm t của nhân vật trong một thời điểm
nhất định. Độc thoại nội tâm ở nhân vật Rôbơc Jorđan là lớn nhất chính là dụng
ý nghệ thuật của Hemingway- xây dựng nhân vật trung tâm mang t tởng, ý đồ
của chính nhà văn.
1.2.2 Đặc điểm.
Hemingway đã từng cho rằng: Đối với nhà văn chân chính, mỗi cuốn
có thể xảy ra . [27- Tr. 194]
Đó chính là tâm trạng lo lắng về việc phá cầu của Jorđan khi công việc
của anh đợc bắt đầu. Không chỉ có thế, khi Jorđan ghép mìn phá cầu, khi bị th-
ơng phải nằm lại bên cầu chờ bọn giặc đến, những đấu tranh nội tâm của anh
cũng đợc bộc lộ khá rõ:
Mình chiến đấu đến nay đã đợc một năm cho những gì mình tin tởng.
Nếu ở đây chúng ta thắng thì chúng ta sẽ thắng ở khắp mọi nơi. Thế giới này thật
là đẹp để cho mình chiến đấu vì nó. Và mình thật ghét phải rời bỏ thề giới này .
[27- Tr. 550].
Lời độc thoại nội tâm của nhân vật giúp chúng ta hình dung rõ hơn những
suy nghĩ, dằn vặt, giằng xé của ngời chiến sĩ trớc lẽ sống và cái chết. Nó giống
nh một tiếng chuông ngân nga cho những ai sống dũng cảm và chết vinh quang.
Dõi theo toàn bộ văn bản tác phẩm, hầu nh ở trang nào cũng thấy Rôbơc
Jorđan thầm nghĩ, anh thầm nghĩ, anh nghĩ, anh tự nói to với mình
Những cụm từ biểu hiện những ý nghĩ trong nội tâm nhân vật xuất hiện với tần số
khá lớn, có khi là những dòng độc thoại nội tâm dài của nhân vật.
Chẳng hạn, ở chơng 30, từ trang 392 đến trang 399 đều là những lời độc
thoại nội tâm dài của Rôbơc Jorđan. Chỉ trong một chơng có tới 20 lần anh tự
nhủ hoặc Rôbơc Jorđan tự nhủ, hay anh tự nói đùa mình , rồi anh nghĩ ,
anh vẫn nghĩ, anh thầm nghĩ và mỉm cời. Đó là tâm trạng, là suy t của anh
trớc giờ phút anh cùng đồng đội bớc vào trận chiến quyết định: Không, mình
không muốn làm quân nhân- anh nghĩ- Mình biết thế. Nh vậy là không thành vấn
đề nữa. Mình chỉ muốn chúng ta thắng trong cuộc chiến tranh này thôi. Mình
cho rằng những ngời đã là quân nhân thật sự giỏi rồi thì không làm đợc cái gì
Nguyễn Hoài Thanh 19 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
khác thật sự tốt hơn nữa- anh nghĩ - Điều đó rõ ràng là không đúng. Hãy coi
Napoleông và Oelinhton. Tối hôm nay mày thật là ngớ ngẩn đấy- anh nghĩ [27-
Tr. 339]
Đó là những đoạn độc thoại nội tâm dài. Cũng có khi, độc thoại nội tâm
một số lợng khá lớn những lần anh nghĩ , anh tự nhủ , hay Rôbơc Jorđan
nghĩ , chúng tôi nhận thấy các dạng độc thoại nội tâm mà Nguyễn Hải Hà đã
chỉ ra xuất hiện khá đa dạng trong tiểu thuyết. ở cả ba dạng: dạng thuần tuý,
dạng nửa trực tiếp hay dạng tổng hợp, Hemingway đều sử dụng nhuần
nhuyễn và tạo ra hiệu quả biểu cảm cao nhất đối với việc khắc hoạ nội tâm nhân
vật.
a/ Dạng thuần tuý:
ở dạng này, tác giả chỉ rõ nhân vật nghĩ, tự nhủ hoặc nói to với
mình và những ý nghĩ này của nhân vật thờng để trong ngoặc kép. Đây là dạng
đợc sử dụng phổ biến nhất trong tiểu thuyết. Soát từ đầu tới cuối tác phẩm, có rất
nhiều lần tác giả để cho nhân vật tự nghĩ , tự nhủ, tự nói to với mình.
Độc giả cảm nhận đợc những dòng độc thoại nội tâm trong nhân vật chủ yếu qua
dạng độc thoại nội tâm này.
Ngay từ phần đầu tác phẩm, ta đã thấy những suy nghĩ của Rôbơc Jorđan
hiện lên qua những dòng độc thoại nội tâm: Thế thì chính kiến của anh là thế
nào? Lúc này anh chẳng có chứng kiến gì cả, - anh tự nhủ - Nhng - anh thầm
nghĩ, - không nên nói cho ai biết cái đó. Không bao giờ nên thừa nhận điều đó.
Rồi sau này ta sẽ làm gì? Ta sẽ trở về sinh sống bằng cách dạy tiếng Tây Ban
Nha nh trớc và sẽ làm một cuốn sách thật trung thực - Dám chắc - anh nghĩ -
dám chắc điều đó sẽ dễ dàng thôi .[27- Tr. 196]. Đó là suy tính, là những dự
định của Jorđan khi anh nghĩ về tơng lai, sau khi cuộc chiến kết thúc.
ở hầu khắp tác phẩm, phần lớn cứ mỗi lần xuất hiện anh nói , anh
nghĩ là một lần tác giả để cho nhân vật độc thoại nội tâm một cách trực tiếp.
b/ Dạng nửa trực tiếp:
Trong Chuông nguyện hồn ai, càng về sau những lời độc thoại nội tâm của
Jorđan càng trở nên nhiều hơn. Mặc dù bên ngoài vẫn là dạng thuần tuý với
những biểu hiện anh nghĩ , anh tự nhủ song thực chất độc thoại nội tâm
trong nhân vật có lúc hoà quyện cả lời của tác giả.
Chẳng hạn, ở chơng 35, khi Jorđan nằm bên cạnh Maria, anh lại nghĩ về
công việc sắp tới của mình vì tức giận vì mìn nổ đã bị Pablo lấy trộm hết: Cắt
chỉ biết về gia đình anh, cuộc đời anh qua chính những lời độc thoại nội tâm ấy.
Đó chính là tính chất hớng nội sâu sắc của độc thoại nội tâm trong Chuông
nguyện hồn ai.
Độc thoại nội tâm trong tác phẩm có khi là dạng đối thoại, tức là nhân vật
tự phân thân để nói với chính mình. Tính chất đối thoại này của độc thoại nội
tâm mang lại sự đa dạng, nhiều vẻ cho lời độc thoại nội tâm của nhân vật, từ đó
Nguyễn Hoài Thanh 22 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
tạo nên sự thú vị, hấp dẫn cho câu chuyện. Đây cũng là một dạng độc thoại nội
tâm khá phổ biến trong Chuông nguyện hồn ai.
Đó là khi Rôbơc Jorđan suy nghĩ, lo âu khi thời gian tiến hành kế hoạch
càng ngày càng đến gần: Phải. Cứ giả thử là nh thế, - anh tự nhủ -, mình sẽ đi
La Granja, - anh tự bảo Nhng mà mày sắp phải phá cái cầu kia rồi, anh sực
hiểu ra một cách rõ rệt. Sẽ không có trì hoãn gì cả. Vì rằng những điều mà mày
vừa mới giả dụ cách đây một chút, chính đó là những triển vọng của cuộc tấn
công này trớc con mắt của những ngời đã quyết định nó. [27- Tr. 399]
Hay khi bị thơng nằm lại bên cầu, anh đã nghĩ:
Có lẽ bây giờ mày nên xuống thôi. Mày nên tìm quanh đây một chỗ nào
mày có thể giúp ích hơn là cứ ngồi đây mà dựa vào cây nh một thằng cầu bơ cầu
bất. Mày đã gặp may nhiều đấy. Có nhiều trờng hợp còn bị hơn thế này nhiều.
Chẳng sớm thì muộn, ai ai cũng phải làm cái việc này thôi. Một khi đã biết ta sẽ
phải làm cái đó thì ngời ta không còn sợ nữa, phải không? Không anh nói -
Thật đấy. Dầu sao cũng thật là may, may mà dây thần kinh không bị dập
[27- Tr. 579]
Những lời nhân vật tự hỏi mình, rồi lại tự trả lời cứ xoáy sâu vào nội tâm
nhân vật, khiến cho sự đấu tranh giằng xé càng trở nên sâu sắc hơn.
Nh vậy, có thể thấy nghệ thuật độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện
hồn ai rất đa dạng và phong phú về kiểu dạng, độc đáo về bút pháp thể hiện. Hơn
thế nữa, độc thoại nội tâm trong tác phẩm còn có một tính chất khá nổi bật
tính chất suy t.
ở hai nhân vật này, độc thoại nội tâm thờng thiên về đấu tranh nội tâm, những
mâu thuẫn, trăn trở bên trong nhân vật. Cũng mang tính chất suy t nhng tính chất
suy t của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai đã làm tăng thêm sự sâu
sắc, chiều sâu triết lí mà nhà văn gửi gắm qua lời nhân vật. Cùng với sự đa dạng,
phong phú về tỉ lệ độc thoại nội tâm khá nhiều trong tác phẩm, tính chất suy t đã
làm nên một độc thoại nội tâm riêng của Chuông nguyện hồn ai, của Ernest
Hemingway.
Hemingway trong tác phẩm của mình luôn chứa chất một kì vọng khôn
cùng. Ông khát khao một cái gì hồn nhiên, giản dị, chân chính, nhân đạo. Nhà
văn căm ghét tất cả những gì ồn ào một cách trơ trẽn, phô trơng một cách giả tạo,
lạc quan một cách dối trá, thơng tâm một cách xảo quyệt. Ông muốn bằng bất cứ
giá nào, vứt phăng lớp vỏ ngoài hào nhoáng, cự tuyệt giá trị h tạo, giải phóng
những tình cảm giản dị, chân thực, giải phóng t tởng lơng thiện. Và ông đã tìm đ-
ợc một thủ pháp nghệ thuật hữu hiệu để thể hiện khát vọng ấy trong sáng tác của
Nguyễn Hoài Thanh 24 K30A - Ngữ Văn
Hiệu quả nghệ thuật của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai của Ernest Hemingway
mình. Đó là nghệ thuật độc thoại nội tâm. Những đặc điểm vừa phân tích về độc
thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai đã khẳng định bút lực, tài năng của
nhà văn có phong cách hết sức độc đáo này.
1.2.3. Nét độc đáo của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai.
Trong số các tác phẩm của Hemingway, tiểu thuyết Chuông nguyện hồn
ai là tiểu thuyết khá nổi bật và thành công. Sự thành công ấy phải kể đến nghệ
thuật độc thoại nội tâm độc đáo mà nhà văn sử dụng nh một thủ pháp nghệ thuật
chính khi xây dựng hình tợng và khai thác tâm lý nhân vật.
1.2.3.1. Nét độc đáo của độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai so với
các tác phẩm khác của Hemingway.
So với các tác phẩm khác có sử dụng độc thoại nội tâm của Hemingway,
nghệ thuật độc thoại nội tâm trong Chuông nguyện hồn ai có nét đặc sắc và riêng
biệt.
Trong Chuông nguyện hồn ai, nhà văn đã cho nhân vật hành động bằng thủ