Contents
Contents 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
1.Cơ sở khách quan của cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc 3
2.Quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc 6
3.Kết luận 14
3.1.Kết quả và những vấn đề đặt ra :ếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc 14
3.2.Một số gợi ý về cải cách doanh nghiệp nhà nước đối với Việt Nam 17
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP NHÓM
CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRUNG QUỐC
Nhóm: K20KTDN - VI
Thành viên: Phạm Huy Trung
Nguyễn Minh Tuấn
Trần Văn Sơn
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình cải cách, mở cửa nền kinh tế, cải cách doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) ở Trung Quốc được coi là một khâu trọng tâm của cải cách thể chế nền
kinh tế. Cải cách DNNN đã trải qua quá trình khó khăn, phức tạp qua nhiều thăm
dò và thử nghiệm từ những bài học và kinh nghiệm thu lượm được. Không có một
mô hình sẵn có nào áp đặt cho những quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam. Đây
là những nước đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường. Chúng ta phải tìm con đường cải cách riêng, dựa trên
điều kiện thực tiễn của chính mình.
Sau gần 3 thập kỷ, tiến trình cải cách DNNN Trung Quốc đã đạt được những thành
tựu đáng khích lệ. Các DNNN Trung Quốc đã chuyển hẳn từ những đơn vị sản
xuất đơn thuần sang những thực thể kinh tế độc lập thích ứng với sự phát triển của
kinh tế thị trường. Đặc biệt những năm gần đây, việc không ngừng xây dựng và
sút kém ở mọi nghành, kinh tế lạc hậu về khoa học, kĩ thuật, đời sống nhân dân
thiếu thốn, nhưng vẫn luôn hi vọng, tin tưởng vào sự thắng lợi của Chủ nghĩa xã
hội. Trung Quốc cũng chịu tác động của văn hoá, lịch sử truyền thống dài hàng
nghìn năm phong kiến. Di sản nặng nề của tư tưởng phong kiến, quan liêu vẫn phát
huy và ảnh hưởng không nhỏ vào đời sống xã hội ở Trung Quốc, đó chính là
nguyên nhân kìm hãm nước này trong tình trạng trì trệ, kém phát triển lâu dài.
Thứ ba, Trước cải cách 1978, theo quan niệm truyền thống, chủ nghĩa xã hội là
chế độ xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (dưới hai hình thức nhà
nước và tập thể; trong đó kinh tế nhà nước là hình thức cao, kinh tế tập thể là hình
thức thấp của chế độ công hữu, hình thức thấp phải quá độ sang hình thức cao).
Cũng theo quan niệm này, chế độ công hữu không chỉ xem xét là đồng nhất với
chủ nghĩa xã hội, mà còn không dung hợp với cơ chế thị trường; bỏi vậy chế độ
công hữu càng lớn, càng thuần nhất thị càng có nhiều chủ nghĩa xã hội, còn tư hữu
bị đồng nhất với chủ nghĩa tư bản. Những nhận thức sai lầm trên đã đẩy nền kinh
tế ở Trung Quốc đi đến trì trệ, tụt hậu
Thứ tư, là sự yếu kém về năng lực lãnh đạo, tổ chức và sự trì trệ trong phát triển
kinh tế xã hội đã làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản, vào nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm, bối cảnh quốc tế suốt thời kì đó có nhiếu yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh
tế Trung Quốc. Đáng kể nhất là việc Liên Xô và các nước Đông Âu đang trong quá
trình từ bỏ mô hình Chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết và chuyển sang nền kinh tế thị
trường. Đặc biệt lúc này kinh tế Nhật Bản và nền kinh tế công nghiệp mới NIEs
trong khu vực đã đạt được những thành tựu nổi bật và kinh nghiệm quý báu. Điều
đó thúc đẩy Trung Quốc phải đổi mới để theo kịp các nước. Đây cũng là lúc thế
giới đang đi đến đòi hỏi sự hợp tác phân công lao động của tất cả các nước, xu
hướng hợp tác hoá, quốc tế hoá ngày càng cao bất kể sự khác nhau về chính trị,
văn hoá. Đồng thời nguy cơ các thế lực Tư bản chủ nghĩa và phản động đang tìm
mọi cách phá hoại cách mạng, thực hiện âm mưu diến biến hoà bình để thay đổi,
xoá bỏ chế độ Chủ nghĩa xã hội.
2. Quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc
Đồng thời, Đại hội cũng đưa ra chủ trương phát triển và cải cách DNNN là nắm
chắc những xí nghiệp lớn, nới lỏng những xí nghiệp nhỏ, thực hiện cải tổ mang
tính chiến lược đối với các xí nghiệp quốc hữu.
Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 11- 2002) tiếp tục khẳng định việc
củng cố và phát triển kinh tế quốc hữu. Trong văn kiện đã nêu rõ: “Phải kiên trì
không lay chuyển việc củng cố và phát triển kinh tế quốc hữu. Phát triển và làm
lớn mạnh kinh tế quốc hữu, kinh tế quốc hữu khống chế mạch máu của nền kinh tế
quốc dân, có vai trò then chốt trong việc phát huy tính ưu việt của chế độ XHCN,
tăng cường thực lực kinh tế, thực lực quốc phòng và sự gắn bó dân tộc của nước
ta”
(3)
. Như vậy, quan điểm của nhà nước Trung Quốc về cải cách DNNN là tập
trung điều chỉnh sự phân bố và kết cấu của kinh tế quốc hữu, cải cách thể chế quản
lý tài sản quốc hữu. Kiên trì lấy chế độ công hữu làm chủ thể, thúc đẩy kinh tế phi
công hữu phát triển. Xúc tiến cải cách các ngành độc quyền nhà nước, đưa vào cơ
chế cạnh tranh nhằm phát triển các công ty lớn, tập đoàn lớn có sức cạnh tranh
quốc tế.
Mục tiêu cải cách doanh nghiệp nhà nước
Mục tiêu cải cách DNNN của Trung Quốc là rất rõ ràng, yêu cầu xác định DN là
thực thể pháp nhân và chủ thể cạnh tranh thị trường có quyền kinh doanh độc lập,
tự chịu lỗ lãi, tự tích lũy, tự phát triển.
Trong thời kỳ đầu Trung Quốc triển khai thực hiện cải cách DNNN theo tinh thần
đó đã tạo ra giới hạn mới, tạo điều kiện cho DNNN phát huy vai trò của DN trong
điều kiện kinh tế thị trường XHCN. Đến hội nghị trung ương 3 Khóa XIV Đảng
Cộng sản Trung Quốc đã đánh giá tổng kết quá trình cải cách DNNN và chỉ ra:
“tiếp tục đi sâu cải cách DN cần phải giải quyết mâu thuẫn nhiều tầng, tập trung
tiến hành đổi mới chế độ, từng bước xây dựng chế độ DN hiện đại với quyền tài
sản minh bạch, quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng, tách chính quyền với DN”
(4)
. Đại
.
2.2. Tóm lược quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc
Cải cách DNNN ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978, được chia làm 3 giai
đoạn.
Giai đoạn đầu tiên của cải cách là nỗ lực nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các
doanh nghiệp về cơ bản vẫn dựa trên khung thể chế của cơ chế kế hoạch hoá tập
chung. Mục tiêu chính của cải cách trong giai đoạn này là nhằm điều chỉnh mối
quan hệ Chính phủ doanh nghiệp theo hướng quản lí doanh nghiệp và các hoạt
động kinh doanh tự do hơn và nhằm lại động lực cho các nhà quản lí và người lãnh
đạo trong doanh nghiệp. Tháng 10 năm 1978, có 6 DNNN đầu tiên ở Tứ xuyên,
trong đó có Công ty Gang thép Trùng khánh được chọn để thực hiện thí điểm cải
cách. Ngay sau khi có việc thí điểm này, chính quyền và Thành uỷ tỉnh Tứ Xuyên
đã đưa ra 14 biện pháp chính sách nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các DNNN.
Các kinh nghiệm của tỉnh Tứ Xuyên về mở rộng quyền tự chủ cho các DNNN
được Uỷ ban Kinh tế Nhà nước, Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước khác áp
dụng thí điểm đối với 8 DNNN ở Bắc kinh, Thiên tân và Thượng hải vào tháng
5/1979, trong đó có Công ty Gang thép Thủ đô, nhằm tiếp tục thực hiện thí điểm
cải cách DNNN. Tháng 7/1979, Hội đồng Nhà nước ban hành “Một số quy định về
mở rộng quyền tự chủ trong quản lí ở các DNNN” nhằm mở rộng thí điểm trên
phạm vi toàn quốc. Cho đến tháng 6/1980, việc thí điểm mở rộng quyền tự chủ cho
các DNNN được áp dụng đối với 6600 DNNN quy mô lớn và vừa, các doanh
nghiệp này chiếm 14% tổng “ngân sách” trong các DNNN, 60% tổng giá trị sản
lượng công nghiệp và 70% tổng lợi nhuận công nghiệp[3].
Việc mở rộng quyền tự chủ cho các DNNN đã có một số tác động nhằm khuyến
khích các DNNN gia tăng sản lượng và lợi nhuận. Tuy nhiên do những hạn chế về
ngân sách mềm nên đầu vào cho các doanh nghiệp này cũng tăng rất nhanh, điều
này dẫn tới sự thâm hụt ngân sách và lạm phát. Để giải quyết vấn đề này, việc tiếp
tục thí điểm cơ chế phân chia lợi nhuận giữa nhà nước và doanh nghiệp (được gọi
là hệ thống trách nhiệm kinh tế) đã được thực hiện đối với một số DNNN trong
ngành công nghiệp. Tháng 11/1981 Hội đồng nhà nước đã phê chuẩn “Đề xuất
lợi nhuận của các DNNN lẫn tổng thu ngân sách nhà nước đều bị giảm sút nghiêm
trọng.
Giai đoạn thứ hai của cải cách DNNN đó là thực hiện Hệ thống trách nhiệm của
doanh nghiệp (hay Hệ thống hợp đồng doanh nghiệp) bắt đầu từ năm 1986. Để
tăng thêm động lực cho các DNNN, tháng 12/1986 Hội đồng Nhà nước đã ban
hành “Một số quy định về việc đưa cải cách doanh nghiệp đi vào chiều sâu và việc
tăng thêm sức mạnh của các DNNN” nhằm khuyến khích việc chấp nhận nhiều
mức trong hệ thống trách nhiệm của doanh nghiệp (ERS) đối với các DNNN. Cho
đến tận cuối năm 1987, hệ thống ERS đã được áp dụng tại 78% số DNNN có
100% vốn ngân sách. Đến tháng 2/1988, Hội đồng Nhà nước ban hành “pháp lệnh
tạm thời về việc thực hiện hợp đồng hệ thống trách nhiệm trong các DNNN công
nghiệp” tổng kết hệ thống ERS có hai nội dung: nội dung thứ nhất là đưa quyền tự
chủ trong hoạt động của các doanh nghiệp có hiệu quả và bảo vệ các quyền hợp
pháp của các doanh nghiệp; thứ hai là đặt ra mục tiêu đóng thuế tối thiểu cho các
DNNN và đặt ra tỷ lệ cho việc phân chia mục tiêu lợi nhuận giữa nhà nước và
doanh nghiệp. Đối với các DNNN không thực hiện đủ mục tiêu lợi nhuận thì phải
trang trải các khoản thuế bằng chính các quỹ của mình. Đến cuối năm 1998, trên
90% các DNNN trong ngành thương mại và công nghiệp có 100% vốn nhà nước
đã áp dụng hệ thống ERS. Đối với các DNNN có quy mô vừa và lớn, tỷ lệ áp dụng
hệ thống này đạt trên 95%.
Hệ thống ERS là bước thay đổi thụt lùi so với hệ thống thuế định mức. Có tình
trạng đó là do trên thực tế mức thuế có thể thương lượng được, vì vậy nên không
ổn định và rõ ràng. Tuy nhiên trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, khi không có sự thay
đổi về cơ cấu sở hữu của các DNNN và ngân sách nhà nước phụ thuộc rất lớn vào
thuế lợi tức của các DNNN thì điều đó là không tránh khỏi. Chỉ sau một thời gian
ngắn áp dụng hệ thống ERS, xu hướng lợi nhuận của các DNNN giảm liên tục
trong 20 tháng trước đây đã chấm dứt, cả lợi nhuận lẫn ngân sách nhà nước đều
tăng. Tuy nhiên cùng với quá trình thị trường hoá và phát triển nhanh chóng của
khu vực ngoài quốc doanh thì những hạn chế của hệ thống ERS ngày càng thể hiện
rõ hơn:
gồm cả việc bán cho tư nhân. Người ta hy vọng rằng hầu hết các DNNN quy mô
nhỏ sẽ được chuyển thành công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư
nhân,… trong một vài năm tới. Cùng thời gian đó, những cải cách đối với DNNN
quy mô vừa và lớn sẽ bị chậm lại. Trọng tâm vẫn là việc thay đổi cơ chế quản lí và
xa hơn nữa là đưa cơ chế tự chủ của DNNN vào thực tiễn.
Tháng 11/1993, Uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc thông qua “Quyết
định của Uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốcvề một số vấn đề thiết lập
cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” đặt ra mục tiêu nhằm “thiết lập hệ
thống doanh nghiệp hiện đại với quyền và trách nhiệm về tài sản được xác định rõ
ràng; tách bạch DNNN khỏi quản lí nhà nước với cơ cấu quản lí hiện đại để phù
hợp với nền kinh tế thị trường” Tháng 12/1993 “Luật Công ty của nước Cộng hoà
nhân dân Trung hoa” được quốc hội thông qua.
Vào tháng 11/1994, 100 DNNN vừa và lớn được lựa chọn để thí điểm thành lập hệ
thống doanh nghiệp hiện đại. Những ý tưởng chính của việc thí điểm nhằm: cơ cấu
lại quyền tài sản và xác định rõ cơ quan đầu tư cho doanh nghiệp; chuyển đổi các
DNNN sang công ty TNHH; đánh giá lại và cung cấp đầy đủ tài sản cho DN; và
giảm bớt gánh nặng các khoản nợ không xác định được nguyên nhân trong quá khứ
của doanh nghiệp. Thí điểm này kết thúc vào cuối năm 1997 đã đưa lại những kinh
nghiệm mới cho quá trình cải cách DNNN. Trong khi đó việc thí điểm chuyển
DNNN thành công ty cổ phần cũng được mở rộng một cách nhanh chóng. Những
thử nghiệm này cơ bản đã tái xác định quyền tài sản của doanh nghiệp; tách doanh
nghiệp ra khỏi cơ quan quản lí nhà nước; hình thành đại hội cổ đông, Hội đồng
quản trị, và thiết lập cơ chế quản lí công ty được chuẩn hoá. Cơ chế bán cổ phần
nhằm tăng cường cơ chế giám sát của chủ sở hữu. Sự thay đổi về giá cổ phần trên
thị trường, việc giám sát của các cổ đông và cơ chế kiểm toán độc lập cùng nhau
làm cho những hành vi của doanh nghiệp được hợp lý hoá.
Trong quá trình thí điểm đã phát hiện ra một số vấn đề chung. Ở nhiều doanh
nghiệp việc áp dụng cơ chế mới bị tụt lùi; sự vận hành của các cơ chế mới chưa
được chuẩn hoá, hoạt động của các doanh nghiệp dưới mức mong muốn, phương
thức quản lí hành chính nhà nước thay đổi không đáng kể, vì vậy nó làm chậm lại
tăng từ 74,3 tỷ NDT năm 1989 lên 238,8 tỷ NDT vào năm 2001. Các DNNN vẫn là
đơn vị kinh tế đóng góp nhiều nhất cho ngân sách nhà nước. Năm 2000, mức đóng
thuế của các DNNN đã chiếm 67% mức thuế của toàn bộ các DN công nghiệp.
Đồng thời, DNNN cũng là nơi giải quyết việc làm cho xã hội nhiều hơn so với các
DN tư nhân hay các DN hương trấn. Đặc biệt, tỷ trọng đầu tư vào tài sản cố định
của các DNNN luôn tỏ rõ tính vượt trội so với DN thuộc các thành phần kinh tế
khác. Năm 2000, tỷ trọng đầu tư về tài sản cố định của các DNNN chiếm trên 50%,
còn các DN thuộc thành phần khác là 21%.
Theo số liệu thống kê của Hội đồng Nhà nước công bố vào đầu năm 2006, Trung
Quốc còn khoảng 138.000 DNNN công nghiệp và thương mại, với khoảng 43 triệu
người đang làm việc. Doanh thu của các DNNN công nghiệp và DN có cổ phần
nhà nước chiếm tới 40,5% tổng doanh thu và 46% lợi nhuận của các DN công
nghiệp trong cả nước. Số liệu này đã phản ánh thực trạng của các DNNN trong lĩnh
vực công nghiệp và thương mại vẫn đang nắm vai trò kiểm soát trong nền kinh tế.
- Chuyển đổi và hoàn thiện cơ chế kinh doanh của các DN. Thông qua cải cách,
các DNNN đã thực hiện một sự chuyển đổi cơ chế kinh doanh mạnh mẽ bằng việc
chuyển sang thành các công ty, tập đoàn kinh tế, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, xí nghiệp liên doanh, công ty 100% vốn nhà nước hoạt động theo
“Luật công ty”. Theo đó, các DN đã có được quyền tự chủ nhiều hơn trong sử dụng
vốn và tài sản nhà nước. Trung Quốc đã từng bước hình thành được khung cơ bản
về quản lý, giám sát việc sử dụng tài sản nhà nước trong các DN, làm rõ quyền
hạn, trách nhiệm dân sự trước pháp luật của DN đối với việc bảo toàn và tăng giá
trị tài sản nhà nước của DN.
- Thông qua cải cách chế độ sở hữu, nhiều tập đoàn kinh tế mạnh của Trung Quốc
đã ra đời và có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đồng thời,
hình thành trong các DN ý thức cạnh tranh, mạnh thắng yếu thua, đào thải lẫn
nhau.
Những vấn đề đặt ra
Trung Quốc gia nhập WTO tháng 12 - 2001. Đây là mốc quan trọng đánh dấu công
cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc bước vào thời kỳ mới, nền kinh tế hội nhập
Đầu năm 2005, để xoá bỏ tình trạng DNNN làm ăn thua lỗ, Quốc vụ viện Trung
Quốc đã phê chuẩn quy hoạch công tác 4 năm về đóng cửa, phá sản các DNNN.
Đây là bước quá độ để từ sau năm 2008, Chính phủ Trung Quốc sẽ cho ra luật phá
sản DN. Hiện nay, Trung Quốc đã đẩy mạnh việc chuyển các DNNN có khả năng
niêm yết trên thị trường chứng khoán thành những công ty cổ phần. Đồng thời, đưa
ra nhiều chính sách về phá sản, trong đó quy định quyền của người lao động, về
quản lý tài sản và các khoản vay khó đòi. Ở một số tỉnh thành như: Bắc Kinh,
Thượng Hải, Triết Giang, Phúc Kiến, Giang Tô đã ngưng cấp các khoản tài trợ
chính cho các DNNN có nguy cơ phá sản
(10)
. Theo số liệu thống kê cho thấy, tính
đến tháng 5 - 2005 có đến hơn 1.800 DNNN làm ăn thua lỗ, đang chờ phá sản, gây
thất thoát lên đến 317,8 tỷ NDT.
- Tình trạng thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản DN không đúng quy định làm
tài sản nhà nước chảy vào túi tư nhân ở Trung Quốc đang trở thành vấn nạn của
nền kinh tế. Trong khi đó, Chính phủ chưa có những giải pháp hữu hiệu để chấm
dứt tình trạng này. Theo Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao Trung Quốc Giả Xuân
Vượng, năm 2004, có 10.407 cán bộ, nhân viên thuộc các DNNN bị khởi tố và bắt
giam vì đã chiếm đoạt, lạm dụng công quỹ, tự chia chác tài sản nhà nước. Điển
hình là các vụ khởi tố bắt giam Chủ tịch Hội đồng quản trị các tập đoàn Y Lợi,
Xuân Đô, Kỹ thuật số Kim Chính, Cao tốc Trung Nguyên.
Hiện nay, để tránh thất thoát tài sản khi tiến hành cải cách DNNN, Uỷ ban quản lý
tài sản quốc gia Trung Quốc đưa ra, đối với các DN lớn không cho phép giới lãnh
đạo mua DN. Với DN vừa và nhỏ, nếu giới lãnh đạo mua DN, cần làm rõ tình hình
thực tế và có sự phụ trách, giám sát của Uỷ ban quản lý tài sản quốc gia, hoặc cơ
quan có trách nhiệm tương đương. Nguồn gốc tài chính, lai lịch của người mua DN
cũng cần được làm rõ.
3.2. Một số gợi ý về cải cách doanh nghiệp nhà nước đối với Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu, cải cách doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc được đánh
giá là thành công hơn trong số những nước tiến hành chuyển đổi nền kinh tế. Dưới
với tiến trình cải cách DNNN, chính phủ cần phải xây dựng và kiện toàn một hệ
thống hỗ trợ cho cải cách. Hệ thống đó bao gồm một hệ thống văn bản pháp luật rõ
ràng, nghiêm minh; một thị trường tài chính vận hành lành mạnh và một hệ thống
kiểm toán minh bạch, chính xác. Các công ty kiểm toán có trách nhiệm đánh giá
một cách chính xác và trung thực tình hình kinh doanh của DN có niêm yết trên thị
trường chứng khoán để cung cấp thông tin, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa nhà đầu
tư, người lao động, doanh nghiệp và chính phủ. Hệ thống pháp luật cần được xử lý
nghiêm minh những trường hợp nhà quản lý DN hoặc công ty kiểm toán gian lận
trong khi tiến hành cổ phần hoá.
Ở Việt Nam, vào tháng 4 - 2007, một ví dụ điển hình của việc đánh giá chưa đúng
giá trị DN và thiếu minh bạch khi tiến hành Cổ phần hoá là công ty Intimex thuộc
Bộ Thương mại. Khi công ty đưa lên sàn giao dịch Hà Nội đấu giá thì có 10 nhà
đầu tư (hầu hết là cán bộ quản lý DN và người thân của họ) trả giá cao nhất là
160.000đ/CP và họ mua gọn. Hậu quả là, nhiều người công nhân có nhiều năm gắn
bó với công ty đã trở thành người làm thuê, mất hết quyền lợi, nhà nước bị thất
thoát tài sản. Tình trạng này cần được khắc phục ngay đối với các DN đang và sẽ
tiến hành Cổ phần hoá trong thời gian tới.
Bốn là, đa dạng hoá sở hữu các DNNN quy mô lớn. Hiện nay, Trung quốc đang
đẩy nhanh cải cách theo cơ chế đa dạng hoá sở hữu các DNNN lớn. Bởi lẽ, các DN
này chủ yếu đang hoạt động trong các ngành, lĩnh vực độc quyền, nên việc cải cách
sẽ phá bỏ độc quyền các DN. Đồng thời, các DNNN quy mô lớn thường có quan
hệ rất chặt với chính phủ. Thực hiện cải cách theo cơ chế đa dạng hoá sở hữu
DNNN sẽ cải thiện được 2 cấu trúc và 1 cơ chế, đó là, cải thiện cấu trúc quyền tài
sản DN và cấu trúc quản lý công ty, chuyển đổi và hoàn thiện cơ chế hoạt động
DN. Tuy nhiên, thực tiễn quá trình cải cách DNNN của Trung Quốc đang gặp phải
khâu nhạy cảm và cơ bản nhất đó là “cải cách quyền sở hữu tài sản DNNN”. Theo
đó, đã nảy sinh việc thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản DN không đúng quy
định, làm thất thoát tài sản nhà nước. Tình trạng tham ô, tham nhũng, làm tài sản
nhà nước chảy vào túi tư nhân ở Trung Quốc đang trở thành vấn nạn của nền kinh
tế. Trong khi đó, chính phủ chưa có những giải pháp hữu hiệu để chấm dứt tình