Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU … …………………………………………………………………… 3
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI…….….
… 5
I. Khái niệm……………………………………………………………………… 5
1. Khái niệm……… ….………………………………………………………5
2. Bản chất của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói
riêng………………………………………………………………….………7
II. Vai trò, đặc trưng của kinh tế trang trại…………………………………… ….8
1. Vai trò của kinh tế trang trại…………………………………….………… 8
2. Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói
riêng…………………………………….……………………………………9
III. Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung và trang trại chăn
nuôi nói riêng……………………………………………………… …………12
1. Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung…………………
12
2. Điều kiện ra đời và phát triển kinh tểtang trại chăn nuôi nói riêng…………
12
IV. Các loại hình kinh tế trang trại nói chung và chăn nuôi nói
riêng…………….13
1. Xét về tính chất sở hữu……………………… ………… ……………… 13
2. Xét về loại hình sản xuất……………………… …………………………14
V. Tình hình phát triển kinh tế trang trại nói riêng và kinh tế trang trại chăn nuôi
nói riêng ở nước ta và một số nước trên thế giới…………………
………… 15
1. Tình hình phát triển kinh tế trang trại nói chung ở nước ta……… ………
15
2. Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thế
địa bàn tỉnh Phú Thọ……………………………………………………… 45
3. Đời sống và khả năng tái sản xuất của các trang trại chăn nuôi
trong địa bàn tỉnh Phú Thọ……….……………………………………………….47
4. Hiệu quả các trang trại chăn nuôi……….………………………………….47
IV. Đánh giá sự phát triển các trang trại chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ…… ………47
1. Ưu điểm……………………………….……………………………………47
2. Nhược điểm…………………….……………………………………………
47
PHẦN III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRANG TRẠI CHĂN NUÔI Ở TỈNH PHÚ
THỌ………………………………………49
I. Quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở
tỉnh Phú Thọ……………………………….………………………………… 49
II. Phương hướng phát triển kinh tểtang trại chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ….
……… 53
1. Phân vùng sinh thái để phát triển kinh tế trang trại nói chung
và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng ở tỉnh Phú Thọ………… ………53
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Xu hướng hình thành và phát triển kinh tế trang trại nói chung
và trang trại chăn nuôi nói riêng ở tỉnh Phú Thọ…………………… ……53
3. Đề xuất phát triển mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi phù hợp………… 54
III. Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ…………56
1. Giải pháp về đất đai……………………………….……………………… 56
2. Giải pháp về vốn đầu
tư…………………………………………………….56
3. Giải pháp về lao động…………………………… ……………………….57
4. Giải pháp về công nghệ…………………………… …………………… 57
trở lại đây.
Riêng đối với tỉnh Phú Thọ kinh tế trang trại dần được hình thành và phát triển
từ năm 1986 trở lại đây, số lượng các trang trại tăng lên và đã khẳng định vị trí của
mình trong điều kiện kinh tế thị trường. Nhưng các trang trại ở Phú Thọ phát triển
mạnh ở các hình thức như: trang trại lâm nghiệp , trang trại thuỷ sản, trang trại
trồng cây lâu năm, còn một số loại hình như trang trại trồng trọt, chăn nuôi chưa
phát triển. Đây là một yếu tố tạo nên sự mất cân đối trong việc phát triển kinh tế
nông, lâm - ngư nghiệp của tỉnh Phú Thọ
Để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung, thì cần phải đẩy mạnh
phát triển cân đối giữa nông- lâm- ngư nghiệp. Việc đẩy mạnh và phát triển kinh tế
trang trại trồng trọt và chăn nuôi là cần thiết để tạo nên sự phát triển bền vững trong
nông nghiệp cả nước nói chung và ở tỉnh Phú Thọ nói riêng.
Vì vậy em đã chọn đề tài thực tập tốt nghiệp về “Thực trạng và giải pháp
phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ“ . Đây là một vấn đề nếu
được giải quyết tốt có thể phần giúp cho kinh tế trang trại ở Phú Thọ đưọc phát
triển một cách toàn diện hơn, đa dạng hơn. Nền nông nghiệp của Phú Thọ phát
triển một cách bền vững hơn .
Đề tài này gồm 3 phần chính :
+ Phần I : Cơ sở lý luận chung về kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn
nuôi .
+ Phần II : Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tể trang trại chăn nuôi ở tỉnh
Phú Thọ.
+ Phần III : Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở
tỉnh Phú Thọ
Đó là nội dung trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng của ngành
chăn nuôi nói chung cũng như trang trại chăn nuôi nói riêng, nhằm đánh giá được
ưu điểm, nhược điểm để đưa ra những giải pháp phù hợp trong điều kiện kinh tế thị
trường, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở Tỉnh Phú Thọ
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này em xin chân thành cảm ơn Sở Nông Nghiệp
& PTNT Tỉnh Phú Thọ, cảm ơn các đơn vị phòng ban trực thuộc Sở Nông nghiệp
a. Khái niệm về trang trại :
- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trại
trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ thể sau:
+ Trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
trong thời kỳ công nghiệp hoá.
- Trang trại là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể pháp lý có
tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội.
- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp, có tổ
chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán kinh
tế).
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt
động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ và các
tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản.
+ Trang trại là loại hình sản xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động sản
xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản lý
khác nhau.
+ Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ở
tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh
của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể sử dụng lao động thuê
ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (ruộng đất, công cụ sản xuất,
vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên.
+ Trang trại tư bản tư nhân là loại hình trang trai nông nghiệp ít phổ biến ở các
nước, đến nay số lượng không nhiều thường là các trang trại tư bản tư nhân, công
ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê kể cả lao
động sản xuất và lao động quản lý.
- Trang trại thường có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song tồn
tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình…Trang trại thường
có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoài
nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa
xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá.
- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới có
tính ưu việt hơn hẳn so với các lạo hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tế
nông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng,
nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông.
- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng
hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các nghành sản xuất nông- lâm– ngư nghiệp ở các
vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đã thích ứng với các
trình độ công nghiệp hoá khác nhau.
Thời gian tới bước vào thế kỷ 21 theo dự báo của nhiều nhà kinh tế trên thế
giới, kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh mẽ, với số lượng ngày càng nhiều ở
các nước đang phát triển, trên con đường công nghiệp hoá và vấn đề còn tồn tại ở
các nước công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lượng và cơ cấu trang trại
cho phù hợp .
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
c- Khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi:
- Cũng như khái niệm về kinh tế trang trại nói chung, ta đi vào xem xét khái
niệm cụ thể về kinh tế trang trại chăn nuôi.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với
nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm…Đó là tổng thể
các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông
nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi. Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất
nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn
nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá,
quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp
hoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất,
80% trở lên, đáp ứng phần lớn hàng hoá ra thị trường không chỉ ở trong nước mà
còn xuất khẩu ra nước ngoài.
- Kinh tế trang trại với hình thức sản xuất nông nghiệp theo kiểu tập chung, quy
mô lớn và đã có từ lâu trên Thế giới và ở Việt nam.
+ Ở Trung Quốc kinh tế trang trại có từ thời hán với các hình thức: hoàng
trang, cung trang, gia trang và điền trang
+ Ở Việt Nam kinh tế trang trại đã có từ thời Lý, Trần với các hình thức như
thái ấp, các điền trang trong nông nghiệp. Thời nhà Lê_Nguyễn, kinh tế trang trại
tồn tại dưới các hình thức như: đồn điền, điền trang
- Đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản : Lực lượng sản xuất phát triển thì hình thức sản
xuất tập chung qui mô lớn trong nông nghiệp theo kiểu trang trại.
- Đến Nghị quyết 10 của Bộ chính trị khoá VI (4/1988) về phát huy quyền làm
chủ kinh tế hộ, đã đặt nền móng cho sự phát triển một cách nhanh chóng. Vì vậy
kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng bao
gồm : Nông -Lâm; Thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản
xuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của một chủ trang trại, sản xuất được tiến
hành trên qui mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tập chung đủ lớn, trình độ kỹ
thuật cao hơn phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ gắn với thị trường có hạch toán
kinh tế theo kiểu doang nghiệp .
b. Bản chất của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất
về chăn nuôi trong chuồng trại với qui mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ,
là hình thức sản xuất với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá là các sản phẩm
chăn nuôi để cung ứng ra thị trường, tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70 đến 80% trở
lên, đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá của thị trường trong và ngoài nước.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng được phát triển rất sớm, nhưng với qui mô
nhỏ, tỷ trọng hàng hoá chưa cao cho nên hàng hoá cung ứng ra thị trường còn ít.
- Cho đến hiện nay thì kinh tế trang trại chăn nuôi đã phát triển cả về qui mô số
lượng, tỷ trọng hàng hoá cao, nhưng tập chung chủ yếu ở các vùng đồng bằng; đối
với các khu vực trung du niềm núi phía Bắc thì chưa phát triển nhiều, tuy nhiên đã
phát triển.
+ Kinh tế trang trại là đơn vị sản xuất có qui mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vây có
khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng
cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
+ Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang trại là
nơi tiếp nhận và chuyền tải các tiến bộ khoa học công nghệ đến hộ nông dân thông
qua chính hoạt động sản xuất của mình.
+ Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu ở nông thôn, tạo
thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động và dân cư ở nông thôn, góp
phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn là tấm gương cho các hộ nông
dân về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến và có hiệu quả. Tất cả những
vấn đề đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội ở nông thôn.
+ Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo vệ
môi trường sinh thái. Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nước ta đã đem lại
nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trường. Nhưng phát triển kinh tế trang trại ở
nước ta phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế từng vùng và từng địa phương.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhất là những vùng địa phương có điều kiện đất đai và điều kiện sản xuất hàng
hoá .
2. Đặc trưng của kinh tế trang trai nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi
nói riêng :
a. Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung:
Từ những khái niệm về kinh tế trang trại đã nêu ở trên ta đi vào tìm hiểu đặc
trưng của kinh tế trang trại có những điểm gì khác so với các loại hình tổ chức sản
xuất nông nghiệp khác:
- Ngay khi kinh tế trang trại mới hình thành ở một số nước công nghiệp hoá
Tây Âu, Các Mác đã là người đầu tiên đưa ra nhận xét chỉ rõ đặc trưng cơ bản của
- Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang trại gia đình là
phổ biến, có những đặc trưng là rất linh hoạt trong tổ chức hoạt động vì có thể dung
nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn hoá sản xuất nông
nghiệp.
+ Dung nạp các qui mô sản xuất khác nhau: Trang trại nhỏ, vừa, thậm chí đến
cực lớn.
+ Dung nạp các cấp trình độ công nghệ sản xuất khác nhau từ thô sơ đến hiện
đại, riêng biệt hoặc đan xen.
+ Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau (cá thể, tư nhân, hợp tác, quốc doanh
với các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh đa dạng).
+ Chính vì vậy mà kinh tế trang trại có khả năng thích ứng với các trình độ, với
các thời kỳ công nghiệp hoá từ thấp đến cao, ở các nước đang phát triển cũng như
các nước công nghiệp phát triển.
- Kinh tế trang trại có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao về nông sản hàng
hoá do các đặc điểm về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các trang trại
quyết định. Chủ trang trại, chủ doanh nghiệp là người có ý chí, năng lực tổ chức
quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm nhất định về sản xuất kinh doanh nông nghiệp
và thường là người trực tiếp quản lý trang trại. Trang trại gia đình có tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh thích hợp, tiến bộ và sử dụng có hiệu quả hơn các tư liệu sản
xuất (đất đai, vốn ,công nghệ …) Chọn và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa
học công nghệ tiên tiến, tạo ra năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế cao của các
trang trai, thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu về sản lượng, năng xuất
và giá thành sản phẩm.
- Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn, trang trai có nhu cầu cao
hơn nông hộ về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thường xuyên tiếp cận với thị trường
biểu hiện.
+ Do mục đích của trang trại là sản xuất hàng hoá, nên hầu hết các trang trại
đều kết hợp giữa chuyên môn hoá với phát triển tổng hợp, đây là điểm khác biệt so
với hộ sản xuất tự túc, tự cấp.
+ Do sản xuất hàng hoá đòi hỏi các trang trại phải ghi chép hạch toán kinh
của từng trang trại còn diễn ra xu thế tập trung các trang trại thành các vùng chuyên
môn hoá về từng loại như vùng chuyên canh nuôi đại gia súc như: trâu, bò …vùng
thì chuyên môn hoá nuôi lợn nái sinh sản, lợn thịt, sữa với mục đích tạo ra khối
lượng hàng hoá lớn .
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang
trại gia đình vẫn là phổ biến, có đặc trưng rất linh hoạt trong từng hoạt động, vì có
thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn hoá Dung
nạp các quy mô sản xuất trang trại chăn nuôi khác nhau như các trang trại chăn
nuôi nhỏ, vừa và lớn và thậm chí đến cực lớn. Dung nạp các cấp độ công nghệ sản
xuất khác nhau từ thô sơ đến hiện đại, riêng biệt hoặc đan xen. Liên kết các loại
hình kinh tế khác nhau cá thể, tư nhân, hợp tác quốc doanh…Với các hình thức hợp
tác sản xuất kinh doanh đa dạng. Chính vì vậy mà kinh tế trang trại chăn nuôi có
khả năng thích ứng với các nước đang phát triển và ở các nước công nghiệp phát
triển .
- Kinh tế trang trai chăn nuôi có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao về
nông sản hàng hoá mà chủ yếu là sản phẩm thịt, trứng, sữa …do đặc điểm về tính
chất quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại quyết định. Chủ trang trại là người
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và có kinh nghiệm trong sản
xuất chăn nuôi, cũng như kinh doanh trong cơ chế thị trường.
III-Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung và trang trại
chăn nuôi nói riêng:
1-Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung :
a-Điều kiện về môi trường pháp lí.
- Có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nước .
- Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách tập trung ruộng đất .
- Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến.
nghiệp chế biến để có thể đáp ứng được các loại sản phẩm về chủng loại và về chất
lượng.
- Có sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá như chuyên
môn hoá về nuôi trâu, bò, ngựa …và chuyên môn hoá về nuôi lợn như nái sinh sản,
lợn thịt, lợn thịt xuất khẩu, lợn sữa, gia cầm như gà, vịt.
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng mà trước hết là giao thông, thuỷ
lợi…Đặc biệt là hệ thống giao thông là điều kiện quan trọng phát triển cho ngành
chăn nuôi nói riêng và nông nghiệp và các ngành khác nói chung, muốn có sự phát
triển thì hệ thống giao thông phải phát triển, hàng hoá tiêu thụ dễ dàng với chi phí
thấp, giá thành hạ, lợi nhuận cao.
- Có môi trường pháp lý thuận lợi khuyến khích, thúc đẩy kinh tế trang trại
chăn nuôi ra đời và phát triển .
- Có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nước thông qua các chính sách tác
động, khuyến khích, hỗ trợ giúp các trang trại chăn nuôi ra đời hình thành và phát
triển.
b-Điều kiện với trang trại và chủ trang trại chăn nuôi:
- Chủ trang trại phải là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông, cụ thể
là từ chăn nuôi phát triển tới một trình độ quy mô một trang trại chăn nuôi.
- Chủ các trang trại chăn nuôi phải có sự tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản
xuất và kinh doanh về tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là tiền vốn
và đất đai.
- Quản lý sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi phải dựa trên cơ sở
hạch toán kinh tế (lỗ, lãi) và phân tích kinh doanh.
IV-Các loại hình kinh tế trang trại nói chung và chăn nuôi nói riêng:
1-Xét về tính chất sở hữu:
Xét về tính chất sở hữu thì đối với kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang
trại chăn nuôi nói riêng nó cũng bao gồm các loại hình sau:
a-Trang trại gia đình :
gia đình không có điều kiện trực tiếp quản lý thì giao cho một thành viên trong gia
đình có năng lực và uy tín quản lý .
b. Trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất kinh doanh từng
việc theo từng vụ liên tục hay nhiều vụ.
- Loại trang trại này thường có quy mô nhỏ, đất ít nên chuyển sang làm nghề
khác, nhưng không muốn bỏ ruộng đất, vì sợ saunày muốn trở về khó đòi, hay
chuộc lại ruộng đất. Ở nhiều nước hình thức này trở nên phổ biến, đặc biệt là các
nước châu á như ở Đài Loan 75% chủ trang trại gia đình áp dụng hình thức này.
2- Xét về loại hình sản xuất :
+ Trang trại sản xuất cây thực phẩm , các trang trại loại này thường ở vùng sản
xuất thực phẩm trọng yếu , xung quanh các khu đô thị, khu công nghiệp và gần thị
trường tiêu thụ .
+ Trang trại sản xuất cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su, mía …)thường phát
triển ở vùng cây công nghiệp gắn với hệ thống chế biến.
+ Trang trại sản xuất cây ăn quả nằm ở vùng cây ăn quả tập trung, có cơ sở chế
biến và thị trường tiêu thụ thuận lợi.
+ Trang trại nuôi trồng sinh vật cảnh thường phát triển ở gần các khu đô thị, các
khu di tích, thuận lợi cho việc tiêu thụ.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Trang trại nuôi trồng đặc sản (hươu, trăn, rắn, ba ba, dê, cây dược liệu…)
nằm ở những nơi thuận lợi cho nuôi trồng và tiêu thụ.
+ Trang trai nuôi trồng thuỷ sản: Tôm, cá…Loại này thì phất triển khá phổ
biến ở các vùng đồng bằng, trung du và miền núi nhưng mạnh nhất là ở đồng bằng
và các vên biển.
+ Trang trại chăn nuôi : Đây là loại hình trang trại đang được phát triển rất
mạnh trong cả nước, nhưng chưa thực sự chuyên môn hoá mà chủ yếu phát triển
chăn nuôi tổng hợp kết hợp với trồng trọt. Loại này được phân ra các loại hình sau
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
yếu. Từ các hộ vùng đồng bằng lên xây dựng vùng kinh tế mới, các hộ vốn là thành
viên của các lâm trường, nông trường, một số tư nhân đến xin nhận hoặc thuê đất
lập trại để tiến hành sản xuất kinh doanh.
Phương hướng kinh doanh chủ yếu dưới dạng: kinh doanh tổng hợp theo
phương thức nông –lâm kết hợp; chuyên trồng cây ăn quả; chuyên trồng cây công
nghiệp; chuyên chăn nuôi đại gia súc…và trồng cây lâm nghiệp
- Vùng ven biển: Tuỳ theo điều kiện của từng vùng các nông, ngư trại…Phát
triển theo quy mô và đặc điểm khác nhau. Trong đó vùng ven biển miền Bắc vùng
Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đã tương đối phát triển và phân
thành hai loại: Hội kinh doanh lớn chuyên về nuôi trồng thuỷ sản và hải sản, hộ ít
vốn có sự kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với sản xuất nông nghiệp. Quy mô ở ven
biển Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửi Long gấp 2-3 lần vùng ven biển Bắc
Bộ. Vùng ven biển Miền Trung sự phát triển các ngư trại còn hạn chế .
- Vùng đồng bằng : Đã xuất hiện các trang trại trồng trọt và chăn nuôi nhưng
quy mô nhỏ hơn trong đó có sự kết hợp voứi ngành nghề phi nông nghiệp.
Kinh tế trang trại đã trở thành nhân tố mới cho sự phát triển kinh tế ở nônh
thôn. Phát triển kinh tế trang trại là động lực mới nối tiếp và phát huy động lực kinh
tế hộ, là điểm đột phá trong bước chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá. Các
trang trại đã tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá từng bước đáp ứng nhu cầu trong
nước và xuất khẩu.
Chủ trang trại có cơ cấu xuất thân rất đa dạng, trong đó chủ trang trại có nguồn
gốc xuất thân từ hộ nông dân làm ăn giỏi là chủ yếu chiếm tới 71,19%. Ngoài ra
chủ trang trại còn là các thành phần xuất thân khác như các cán bộ hưu trí, công
chức, đương chức, nhưng cũng đều xuất thân từ nông dân.
Quy mô các trang trại ở mức độ khác nhau, tuỳ theo từng loại hình kinh
doanh ,vùng và thành phần xuất thân. Nhưng nhìn chung các trang trại có quy mô
nhỏ là chủ yếu, quy mô diện tích của các trang trại không đồng đều và phụ thuộc
136,5 triệu đồng; Quy mô đất đai bình quân một trang trại 6,08ha (trong đó bao
gồm đất đai và diện tích mặt nước ) các trang trại sử dụng 369,6 nghìn ha đất tạo ra
4965,9 tỷ đồng. Giá trị hàng hoá : Bình quân một trang trại 81,7triệu đồng giá trị
hàng hoá. Tổng số các trang trại sử dụng 374.701 lao động trong đó 168.634 lao
động là của hộ gia đình ;Còn 206.067 lao động thuê ngoài.
Tính đến năm 2002 cả nước có khoảng 113.000 trang trại trông đó các tỉnh phía
Bắc từ Thừa Thiên Huế trở ra có 67.000 trang trại với mức vốn đầu tư bình quân
116,22 triệu đồng. Điều đó phản ánh trình độ đầu tư thâm canh, áp dụng tiến bộ kỹ
thuật theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các trang trại trong hơn 10 năm
qua đã dần dần tăng lên.
Quá trình chuyển kinh tế hộ sang kinh tế trang trại đã trở thành xu hướng
nhưng còn có những mặt hạn chế sau:
- Vẫn còn có những nhận thức chưa đúng về trang trại và kinh tế trang trại,
băn khoăn về việc phát triển kinh tế trang trại ở nước ta.
- Quỹ đất đai còn hạn hẹp đang là một trong những nguyên nhân hạn chế phát
triển kinh tế theo hướng trang trại.
- Việc quy hoạch, định hướng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung chưa tốt
- Thị trường hàng hoá nông sản không ổn định, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ,
quan hệ giữa nông dân với các tổ chức thương mại, các doanh nghiệp chế biến chưa
thoả đáng gây trở ngại cho sản xuất và sự đầu tư theo hướng sản xuất hàng hoá.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Trình độ công nghệ còn thấp dẫn đến chất lượng nông sản kém, khó cạnh
tranh và không thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng nên khó
tiêu thụ.
- Các chính sách vĩ mô của nhà nước chưa thực sự tác động đồng bộ, chưa theo
kịp với yêu cầu của sản xuất, nên chưa thực sự khuyến khích hộ phát triển theo
hướng trang trại.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Về mặt xã hội kinh tế trang trại so với kinh tế hộ bình quân hiện nay có gây ra
sự chênh lệch cao hơn về giàu nghèo, nhưng nhìn chung xã hội nông thôn được cải
thiện nhanh hơn, giải quyết được việc làm, phân công lao động hợp lý hơn, tạo điều
kiện đẩy mạnh sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp – Nông thôn
theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá.
b-Tình hình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở nước ta:
Ở nước ta hiện nay phần lớn các trang trại chủ yếu là trồng cây lương thực, cây
hàng năm, cây lâu năm và trang trại nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh mẽ về quy
mô và số lượng, còn về trang trại chăn nuôi thì còn kém phát triển cả về quy mô và
số lượng. Chủ yếu chỉ còn mức độ hộ gia đình, hoặc với quy mô trang trại nhưng
dưới dạng kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt…
Đối với khu vực trung du miền núi thì trang trại chăn nuôi còn chưa phát triển,
chủ yếu là trang trại trồng cây ăn quả, cây hàng năm có kết hợp với chăn thả gia
súc: Trâu, bò, lợn…Kết hợp việc chuyên canh về chăn nuôi mới chỉ là phương
hướng hiện nay, do quy mô ruộng đất còn hạn chế, vốn và thị trường chưa phát
triển.
Vùng ven biển: Trang trại chăn nuôi nói chung cũng chưa phát triển lắm ở đây
chủ yếu là phát triển các trang trại nuôi trồng thuỷ hải sản là chính, hầu như trang
trại chăn nuôi ở khu vực này chưa xuất hiện.
Vùng đồng bằng: Vùng này thì trang trại chăn nuôi có phát triển hơn so với các
vùng khác. Nhưng quy mô diện tích đất đai ít, thường tập chung ở các vùng đô thị,
ven đô, kinh doanh thường chuyên môn hoá như nuôi gà, thỏ, lợn, bò sữa, bò thịt,
bồ câu. Chẳng hạn như quận 12 thành phố Hồ Chí Minh có trang trại nổi tiếng về
nuôi 600 cặp bồ câu với 20m
2
đất. Đây là một điển hình với quy mô diện tích nhỏ
mức độ quy mô nhỏ, hộ gia đình là chủ yếu. Việc chuyển dịch phát triển kinh tế hộ
chăn nuôi sang kinh tế trang trại đang là một vấn đề cần phải giải quyết như vấn đề
đất đai, vấn đề vốn và quan là về thị trường còn hạn chế, công nghệ chế biến còn
kém phát triển làm cho hàng hoá chưa đảm bảo về chất lượng, giá thành cao, kinh
doanh chưa hiệu quả. Việc chuyển từ kinh tế hộ chăn nuôi lên kinh tế trang trại
chăn nuôi đang là một thách thức đối với nước ta cũng như đối với các nước đang
phát triển.
Một số mô hình chăn nuôi điển hình Việt Nam.
- Mô hình chăn nuôi dê nhốt chuồng ở Ninh Thuận: Đã đạt hiệu quả kinh tế
cao, nuôi trong chuồng như nuôi lợn phát triển trong mấy năm qua. Mô hình này
phù hợp với nơi có diện tích đất hẹp không có đồng cỏ trang trại, dễ quản lý cũng
như chăm sóc phòng ngừa dịch bệnh cho dê, chỉ cần vài trăm mét vuông đất trong
thị xã cũng có thể trở thành chủ trang trại chăn nuôi, nếu có nguồn thức ăn chủ
động, chủ yếu là các loại cỏ lá… ven chân đê, sông Dinh thuộc phường Phước Mỹ
thị xã Phan Rang, Tháp Tràm Ninh Thuận đã xuất hiện nhiều trại nuôi dê (cả cừu)
của nông dân, công nhân viên chức, trong đó có trại nuôi dê của anh Phạm Đức
Toàn công nhân lái xe nhà máy xi măng Phương Hải ở Ninh Thuận.
Ban đầu ít vốn, nuôi chưa đến mười con dê, loài dê vốn mắn đẻ, hai năm có thể
cho 3 lứa, mỗi lứa từ một đến 2 con. Qua 6 năm chăn nuôi, anh đã có hơn 500 con
dê. Dê đực bán thịt, dê cái bán giống.
Hiện nay, giá dê hơi 27.000/kg, còn giá dê cái Bách Thảo nổi tiếng ở Ninh
Thuận từ 4 – 5 triệu đồng /con. Hàng năm vợ chồng công nhân tuổi đời chưa đến
tuổi 40 đã có thu nhập từ con dê hàng trăm triệu đồng, quy mô diện tích trại chỉ có
1500m
2
đất, trong đó nhà ở, công trình phụ và chuồng nuôi dê chiếm khoảng 500
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
con đạt 86 kg/con/2tháng, thấp nhất có con chỉ tăng 28 kg/con/tháng. Lãi suất bình
quân thu được qua 2 tháng/1 thời điểm nuôi là 1.450.581 đồng, cao nhất có điểm
nuôi thu được 2.586.000 đồng/2 tháng, thấp nhất có điểm nuôi đạt 659.000 đồng/2
tháng… Thông qua chương trình đào tạo được 39 nông dân chủ chốt và gần 2500
lượt hộ nông dân đến thăm quan học tập và trao đổi kinh nghiệm, đây là lực lượng
nòng cốt để tiếp tục tuyên truyền , nhân rộng mô hình trên địa bàn tỉnh.
2. Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới :
- Hiện nay trên thế giới kinh tế phát triển khá mạnh cả về quy mô số lượng và
các hình thức khác nhau như trang trại theo kiểu tư bản tư nhân khá phát triển, chủ
trang trại không trực tiếp quản lý mà thuê hoàn toàn lao động, trang trại chăn nuôi
khá phát triển nhưng chủ yếu là trang trại chăn nuôi bò sữa điển hình như ở Mỹ,
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nga, Nhật Bản …Còn đa số là phát triển trang trại sản xuất cây lương thực, cây ăn
quả, cây hàng năm, cây công nghiệp như ở Malaysia, Đài Loan…
Ở đây ta chỉ xem xét tình hình phát triển kinh tế trang trại của một số nước
trong cùng khu vực có điều kiện tự nhiên, khí hậu gần giống với Việt Nam xem đặc
thù trang trại của những nước này phát triển như thế nào.
Malaysia: Là nước ở đông nam Á, có diện tích rộng 329.200km2 nhưng có
diện tích đất rừng, nổi tiếng giàu tài nguyên thiên nhiên. Malaysia có khoảng
600.000 trang trại gia đình, quy mô trung bình 2 đến 3ha trên một trang trại ngoài
ra còn một số đồn điền trồng cây công nghiệp quy mô hàng trăm ha trở lên của nhà
nước và các công ty tư nhân trong và ngoài nước.
Sản phẩm công nghiệp chiếm 90% sản phẩm trồng trọt hàng năm, các trang
trại sản xuất 4triệu tấn dầu cọ và chiếm 73% sản lượng dầu cọ thế giới. 1,6 đến 1,8
triệu tấn cao su (trên diện tích 2 triệu ha), đạt giá trị xuất khẩu 3 tỷ đôla, 6,3 triệu
tấn dầu thực vật, 72 000 tấn dừa quả, 23.000 tấn hồ tiêu, 274.000 tấn ca cao. Tổng
diện tích cây ăn quả của các trang trại gia đình năm 1999 là 130.000ha, năm 2000
ruộng đất của mình, chi phí thanh toán theo giá thoả thuận.
- Chủ trang trại uỷ thác cho một nông dân khác quản lý theo hình thức khoán
gọn toàn bộ đất đai, hoặc toàn bộ quy trình sản xuất một cây trồng hoặc một sản
phẩm trong thời gian thoả thuận và thanh toán theo giá thoả thuận.
Nhật Bản : Nhật Bản là một nước ở châu Á trang trại phát triển khá mạnh, hiện
nay Nhật Bản có 4 loại hình trang trại sau.
- Các trang trại chuyên làm nông nghiệp: Không làm việc gì khác và nguồn thu
nhập duy nhất là sản xuất nông nghiệp. Năm 1988 có 62.000 cơ sở quy mô diện
tích từ 2-3ha trở lên, bình quân 4ha, sản xuất 45% sản lượng thóc gạo của cả nước.
Ngoài ra còn có các loại trang trại chăn nuôi: lợn, gà, bò sữa, bò thịt có quy mô lớn
và chuyên môn hoá.
- Các trang trại làm nông nghiệp là chính: Thu nhập từ nông nghiệp là chủ yếu,
ngoài ra còn làm các công việc ngoài nông nghiệp nhưng thu nhập không đáng kể.
Năm 1988 có 404.000 cơ sở có quy mô từ 1-2ha. Sử dụng lao động gia đình sản
xuất nông nghiệp trong lúc thời vụ khẩn trương, lúc nông nhàn đi làm công nhân ở
các xí nghiệp hoặc làm nghành nghề thủ công ngay ở trang trại như lắp ráp linh
kiện điện tử, nghề thủ công mỹ nghệ.
- Các trang trại coi nông nghiệp là nghề phụ, còn phi nông nghiệp là nghề
chính: Loại này năm 1987 có 3 triệu cơ sở thường có ruộng đất (0,5-1ha). Các trang
trại giành thời gian chủ yếu làm các công việc như làm công nhân thường xuyên
hoặc thời vụ cho các xí nghiệp công nghiệp. Sản xuất nông nghiệp chủ yếu vào các
ngày nghỉ hàng tuần,ngày lễ, nghỉ phép.
- Loại trang trại ở nông thôn của những người dân thành Phố: Những năm gần
đây loại này xuất hiện càng nhiều do những người công nhân, viên chức, nhà
buôn…ở thành phố về nông thôn thuê những mảnh đất nhỏ để lao động sản xuất
nông nghiệp trong những ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, ngày nghỉ phép để thay đổi
môi trường làm việc, lao động và sinh hoạt tránh không khí ô nhiễm ở thành phố và
tăng thêm một phần thu nhập.
Ruộng đất của các trang trại gia đình ở Nhật Bản hiện nay vẫn chủ yếu là sở
hữu riêng, số lượng lĩnh canh ít.