giải pháp mở rộng hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam - chi nhánh linh đàm - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG BẢO
LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ
PHẦN KỸ THƢƠNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH LINH ĐÀM
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN CÔNG MINH
MÃ SINH VIÊN : A16062
CHUYÊN NGÀNH : NGÂN HÀNG HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân em đã
nhận được sự giúp đỡ tận tình từ nhiều phía. Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo
nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của cô giáo hướng dẫn - TS Nguyễn Thị
Thúy. Em cũng xin cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế - Trường
Đại học Thăng Long đã trang bị cho em những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình
em học tập tại trường. Đây sẽ là nền tảng vững chắc, hành trang cho em tự tin bước
vào đời.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám đốc cùng các anh chị phòng Quan
hệ khách hàng của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam – Chi nhánh
Linh Đàm đã tạo điều kiện thuận lợi cho em có cơ hội tiếp cận với công việc thực tế
hàng ngày của một cán bộ tín dụng, đặc biệt là trong nghiệp vụ bảo lãnh.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Công Minh
LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có
sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu
của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có
nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Công Minh


1.1.6.1. Điều kiện để được bảo lãnh 18
1.1.6.2. Quy trình bảo lãnh chung 19
1.2. Mở rộng hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng thƣơng mại 19
1.2.1. Khái niệm mở rộng hoạt động bảo lãnh 19
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá 20
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định tính 20
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng 21
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng 23
1.2.3.1. Các nhân tố có thể kiểm soát được 23
1.2.3.2. Các nhân tố không kiểm soát được 25
CHƢƠNG 2:THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƢƠNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH LINH ĐÀM 28
2.1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại cổ phần Kỹ Thƣơng Việt Nam – Chi
nhánh Linh Đàm 28
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 28
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam –
Chi nhánh Linh Đàm 29
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ
Thương Việt Nam – Chi nhánh Linh Đàm. 31
2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn 31
2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn (chủ yếu là cho vay) 35
2.1.3.3. Hoạt động kinh doanh khác 38
2.1.3.4. Kết quả kinh doanh 38
2.2. Thực trạng mở rộng hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần
Kỹ Thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Linh Đàm 40
2.2.1. Các quy định chung về bảo lãnh của ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ
Thương Việt Nam – Chi nhánh Linh Đàm 40
2.2.1.1. Đối tượng bảo lãnh 40
2.2.1.2. Các hình thức bảo lãnh 41

3.3.5. Thực hiện tốt công tác tổ chức cán bộ 75
3.3.6. Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng 77
3.4. Một số kiến nghị 79
3.4.1. Kiến nghị với Chính phủ 79
3.4.2. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước 80
3.4.3. Kiến nghị với ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam 81
3.4.4. Kiến nghị với khách hàng 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 DANH MỤC VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NH
Ngân hàng
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
QHKH
Quan hệ khách hàng
HTQHKH
Hỗ trợ quan hệ khách hàng
CV
Chuyên viên
TCKT

Bảng 2.6: Doanh số bảo lãnh của ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt
Nam - Chi nhánh Linh Đàm qua các năm 54
Bảng 2.7: Tỷ trọng các loại bảo lãnh theo đối tượng bảo lãnh 56
Bảng 2.8: Tỷ trọng các loại bảo lãnh theo đối tượng bảo lãnh 57
Bảng 2.9: Tỷ trọng doanh số bảo lãnh theo phạm vi bảo lãnh 59
Bảng 2.10: Tỷ trọng doanh thu từ bảo lãnh trên tổng doanh thu của ngân hàng thương
mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Linh Đàm 60
Bảng 2.11: Dư nơ bảo lãnh quá hạn của ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương
Việt Nam - Chi nhánh Linh Đàm 61 1
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm bảo lãnh
Hoạt động bảo lãnh ngân hàng ra đời đầu tiên ở Mỹ vào những năm 70 dưới
hình thức bảo lãnh thư hoặc tín dụng thư dự phòng và sau đó được quốc tế hoá như là
giải pháp hữu hiệu nhất đảm bảo thực thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính trong
các giao dịch thương mại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Ngày nay, khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại hình giao dịch (kể cả
trong các giao dịch tài chính và phi tài chính, thương mại hay phi thương mại) nên vị
trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được củng cố và mở rộng không ngừng. Hầu hết
các giao dịch lớn trong phạm vi nội địa cũng như trên phạm vi quốc tế đều có sự hỗ trợ
của bảo lãnh ngân hàng. Cụ thể thì hoạt động bảo lãnh ngân hàng được áp dụng trong
mọi lĩnh vực như: vay vốn, đấu thầu, thực hiện hợp đồng, đảm bảo chất lượng sản
phẩm, thanh toán, hoàn thanh toán, bảo hành, bảo trì, bảo dưỡng…
Có thể nhìn nhận bảo lãnh ngân hàng dưới các góc độ sau:
- Xét về góc độ học thuật, bảo lãnh là một hình thức “Tín dụng chữ ký –

với bên thụ hưởng bảo lãnh.
- Bên thụ hưởng bảo lãnh (The Beneficialy): là các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước hợp pháp có quyền thụ hưởng bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Bên thụ
hưởng bảo lãnh có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng đứng ra thanh toán số tiền bảo lãnh
nếu bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết.
Ngoài ra có thể có sự tham gia của các bên có liên quan đến việc bảo lãnh của
ngân hàng như bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh và các bên khác (nếu có).
1.1.2. Phân loại bảo lãnh
1.1.2.1. Phân loại theo phương thức phát hành
Bảo lãnh trực tiếp
Là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng phát hành cam kết bồi thường không hủy
ngang, trực tiếp cho người thụ hưởng. Sau khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ
hưởng bảo lãnh, ngân hàng có thể truy đòi bồi hoàn trực tiếp từ người được bảo lãnh.
- Trường hợp bên nhận bảo lãnh ở trong nước thì mối quan hệ giữa các bên
tham gia trong một nghiệp vụ bảo lãnh như sau :
Sơ đồ 1.1: Bảo lãnh trực tiếp - bên nhận bảo lãnh ở trong nƣớc (Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2010), “Giáo trình ngân hàng thương mại”, Nhà
xuất bản Thống Kê, Hà Nội)

(Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2010), “Giáo trình ngân hàng thương mại”, Nhà
xuất bản Thống Kê, Hà Nội)
(1) Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thỏa thuận, thống nhất ký kết hợp
đồng kinh tế.
(2) Trên cơ sở hợp đồng kinh tế đã ký, khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ
mình phát hành bảo lãnh và cam kết hoàn trả.
(3) Ngân hàng phát hành chuyển thư bảo lãnh cho ngân hàng thông báo (ngân
hàng đại lý phục vụ bên nhận bảo lãnh).
(4) Ngân hàng đại lý kiểm tra tính xác thực của thư bảo lãnh, nếu đúng thì
thông báo cho bên nhận bảo lãnh.

Ngân hàng phát hành

Ngân hàng thông báo

Bên được bảo lãnh

Bên nhận bảo lãnh
(3)

(Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2010), “Giáo trình ngân hàng thương mại”, Nhà
xuất bản Thống Kê, Hà Nội)
(1) Hợp đồng kinh tế được ký kết giữa 2 bên
(2) Trên cơ sở hợp đồng kinh tế, bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ
mình (ngân hàng chỉ thị) chỉ thị cho ngân hàng đại lý phát hành bảo lãnh và
chuyển cho bên thụ hưởng.
(3) Ngân hàng chỉ thị phát hành bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng phát hành bảo
lãnh hưởng.
(4) Ngân hàng bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh và chuyển cho bên nhận bảo
lãnh.

Ngân hàng chỉ thị

Ngân hàng phát hành

Bên được bảo lãnh

Bên nhận bảo lãnh
(3)
(1)
(2)
(4)

5
Trong loại hình bảo lãnh này, thông thường có bốn bên tham gia như sơ đồ trên.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp có thể có sự tham gia của một ngân hàng đóng vai
trò là ngân hàng thông báo như trong bảo lãnh trực tiếp.
Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp bên nhận bảo lãnh là
người nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại nước của bên thụ hưởng. Do vậy
mà quyền lợi của bên thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn.

vi phạm, ngân hàng bảo lãnh sẽ bồi thường cho bên thụ hưởng.

Ngân hàng bảo lãnh

Ngân hàng xác nhận

Bên được bảo lãnh

Bên nhận bảo lãnh
(4)
(1)
(2)
(5)

6
(4) Ngân hàng bảo lãnh đề nghị ngân hàng xác nhận phát hành xác nhận bảo
lãnh cho bên thụ hưởng.
(5) Ngân hàng xác nhận phát hành xác nhận bảo lãnh cho bên thụ hưởng. Khi
ngân hàng bảo lãnh vi phạm hợp đồng bảo lãnh, ngân hàng xác nhận có trách
nhiệm bồi thường cho bên thụ hưởng.
Đồng bảo lãnh
Là loại bảo lãnh do nhiều ngân hàng cùng đứng ra bảo lãnh cho một nghĩa vụ
của khách hàng thông qua một ngân hàng đầu mối. Đối với những dự án có giá trị lớn
vượt quá quy định an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng, các ngân hàng buộc phải hợp
tác lại với nhau và thực hiện bảo lãnh dưới hình thức đồng bảo lãnh nhằm giảm thiểu
rủi ro.
Trong nghiệp vụ đồng bảo lãnh, một ngân hàng đóng vai trò đầu mối thường là
ngân hàng có uy tín và giàu kinh nghiệm – phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia
của các ngân hàng cộng sự khác.
Nếu hợp đồng bị vi phạm, ngân hàng đầu mối sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho

lãnh

Bên nhận
bảo lãnh
(4b
)
(1)
(2)
(4b)
(3)

Ngân hàng A

Ngân hàng A

Ngân hàng A

7
(1) Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thỏa thuận, thống nhất ký kết hợp
đồng kinh tế.
(2) Bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng đầu mối phát hành bảo lãnh
(3) Các ngân hàng thành viên phát hành bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng đầu
mối
(4) Căn cứ vào các bảo lãnh đối ứng mà các ngân hàng thành viên phát hành,
ngân hàng đầu mối phát hành bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh sẽ được thông báo
trực tiếp từ ngân hàng đầu mối (4a) hoặc thông qua ngân hàng trung gian –
ngân hàng thông báo nếu có (4b).
1.1.2.2. Phân loại theo mục đích bảo lãnh
Theo nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2010), “Giáo trình ngân hàng thương mại”,
Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.

Bảo lãnh thanh toán là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh (người
bán, cung ứng) về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng (người
mua, đặt hàng) trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đối với bên nhận bảo lãnh khi đến hạn.
Đây là loại bảo lãnh phổ biến ở các nước đang phát triển. Về mục đích thì bảo
lãnh thanh toán giống như thư tín dụng chứng từ (L/C) thông thường là bảo đảm cho
nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, nó khác hoàn toàn về bản chất và phương thức truy
đòi tiền. Trong bảo lãnh thanh toán, ngân hàng chỉ thanh toán cho bên thụ hưởng khi
bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Còn đối với thư tín dụng, ngân hàng đại diện
cho người mua thanh toán cho người bán khi người bán đã thực hiện hợp đồng kinh tế,
mọi phát sinh từ hợp đồng này đều ảnh hưởng đến quyết định thanh toán của ngân
hàng.
Mục đích: Cung cấp sự đảm bảo cho bên thụ hưởng có thể nhận được khoản
thanh toán một cách thuận lợi, đầy đủ và đúng hạn về các sản phẩm hàng hoá hay dịch
vụ đã cung ứng cho bên được bảo lãnh.
Trị giá bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh thường bằng 100% giá trị hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực: Do các bên tự thoả thuận, thường kết thúc khi hoàn tất việc
thanh toán.
Thời hạn và giá trị của bảo lãnh thanh toán có thể giảm dần theo tiến độ thanh
toán cho bên thụ hưởng.
Bảo lãnh dự thầu
Là cam kết của ngân hàng với bên mời thầu (chủ thầu) để đảm bảo nghĩa vụ
tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp, khách hàng phải nộp phạt do vi phạm
quy định đấu thầu mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì
ngân hàng sẽ thực hiện nộp phạt thay.
Mục đích: Bảo lãnh dự thầu nhằm bù đắp thiệt hại về thời gian và chi phí cho
chủ thầu do những vi phạm của người dự thầu gây ra như rút đơn dự thầu, trúng thầu
nhưng bỏ không ký tiếp hợp đồng, bổ sung thêm các điều kiện khi ký hợp đồng so với
bản dự thầu,… Nếu người dự thầu đã trúng thầu nhưng không ký hợp đồng thì chủ
thầu (người thụ hưởng) sẽ rút dần thanh toán từ bảo lãnh để trang trải cho chi phí đấu

không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì ngân hàng sẽ thực hiện thay.
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước thường được sử dụng trong các hợp đồng mua
bán máy móc thiết bị hoặc các hợp đồng có giá trị lớn.
Mục đích: Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước nhằm đảm bảo cho người mua sẽ
nhận lại số tiền trước kia đã đặt cọc hay ứng trước trong trường hợp người bán không
hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng.
Trị giá bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh bằng số tiền đặt cọc (kể cả tiền lãi) được tính
từ ngày nhận được số tiền đặt cọc tới ngày giao hàng cuối cùng cộng thêm một số
ngày để người thụ hưởng làm thủ tục đòi tiền. Bảo lãnh loại này cũng có một số điều
khoản quy định giảm giá trị bảo lãnh tương ứng với số lượng hàng hoá được giao đối
với các loại hàng hoá sản xuất, máy móc, công trình,… số tiền đặt cọc thường từ 5-
10% giá trị hợp đồng.

10
Thời hạn hiệu lực: Bằng thời gian thực hiện hợp đồng tức là kể từ khi người
được bảo lãnh nhận được số tiền đặt cọc cho đến ngày giao hàng cuối cùng, có thể
cộng thêm một số ngày làm thủ tục đòi tiền do hai bên quy định.
Bảo lãnh bảo hành
Là cam kết của của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách
hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký
kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và
phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ ngân hàng sẽ thực hiện thay.
Mục đích: Loại bảo lãnh này áp dụng chủ yếu trong đấu thầu xây dựng để bảo
hành công trình hoặc trong các hợp đồng nhập thiết bị đồng bộ để bảo hành thiết bị
máy móc,…
Trong thời gian bảo hành này nếu có sự cố xảy ra đối với sản phẩm phát sinh do
chất lượng sản phẩm không đảm bảo thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu được bồi
thường từ phía ngân hàng bảo lãnh.
Trị giá bảo lãnh: Theo thoả thuận thường bằng 5 – 10% giá trị hợp đồng.

- Hợp đồng kinh tế: thể hiện mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận
bảo lãnh. Đây là hợp đồng đóng vai trò chủ đạo và là cơ sở cho việc hình thành hai
hợp đồng còn lại, đồng thời là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Trong mối quan hệ
này, bên được bảo lãnh bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh.
Đó có thể là nghĩa vụ tài chính như nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ đóng thuế,… hoặc nghĩa
vụ phi tài chính như nghĩa vụ cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nghĩa vụ bảo hành sản
phẩm,…Bên bảo lãnh không có quyền can thiệp vào các thỏa thuận đã cam kết trong
hợp đồng này mà chỉ có thể đứng trên góc độ phân tích để đưa ra quyết định có chấp
nhận mở bảo lãnh hay không.
- Hợp đồng bảo lãnh: thể hiện mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo
lãnh. Đây thực chất là hợp đồng cung cấp dịch vụ hay tài trợ giữa khách hàng và ngân
hàng. Hợp đồng này hoàn toàn độc lập với bên nhận bảo lãnh. Ngân hàng chỉ có trách
nhiệm thông báo với bên thụ hưởng quyết định chấp nhận bảo lãnh của mình.
- Cam kết bảo lãnh: thể hiện mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo
lãnh. Đó là quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng. Cam
kết này chính là thông báo của ngân hàng cho bên nhận bảo lãnh về việc chấp nhận
bảo lãnh của mình đối với người yêu cầu bảo lãnh. Ngân hàng có trách nhiệm thanh
toán ngay sau khi nhận được yêu cầu của bên thụ hưởng theo đúng thỏa thuận trong
thư bảo lãnh mà không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng với bên được bảo
lãnh.
1.1.3.2. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập
Một đặc tính hết sức quan trọng của bảo lãnh ngân hàng là tính độc lập với hợp
đồng. Đặc tính này không chỉ giới hạn trong quan hệ giữa các bên liên quan mà còn
thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn
Bên bảo lãnh
Hợp đồng bảo lãnh
Cam kết bảo lãnh
Bên đƣợc bảo lãnh
Bên nhận bảo lãnh
Hợp đồng kinh tế

dụng tỏ ra là người có khả năng cung cấp dịch vụ bảo đảm tốt nhất trên thị trường và
dường như sự bảo đảm bằng bảo lãnh của tổ chức tín dụng bao giờ cũng được người
nhận bảo lãnh ưa chuộng hơn sự bảo đảm bằng bảo lãnh của các chủ thể khác, do tính
chất độc lập, vô điều kiện và không thể huỷ ngang của bảo lãnh ngân hàng. Ngân hàng
không thể viện cớ bên được bảo lãnh còn nợ tiền của ngân hàng, bên được bảo lãnh
phá sản…để trì hoãn việc thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên nhận bảo lãnh đưa
ra đầy đủ chứng từ.
13
1.1.3.4. Tính phù hợp của bảo lãnh
Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu ngân hàng thanh toán thì ngân hàng
có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. Ngân hàng bảo
lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ có dấu hiệu không hợp lệ hay
những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng.
1.1.3.5. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng
Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân hàng không
phải xuất tiền ngay khi kí bảo lãnh. Do đó bảo lãnh được coi là một tài sản ngoại bảng.
Khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh thì bảo lãnh được
xếp vào nội bảng. Lúc này bảo lãnh được xếp vào loại tài sản xấu cấu thành nợ quá
hạn. Qua đó cho ta thấy, bảo lãnh cũng là một nghiệp vụ chứa đựng rủi ro như một
khoản cho vay. Do vậy, ngân hàng phải phân tích kỹ lưỡng khách hàng trước khi nhận
bảo lãnh.
1.1.3.6. Bảo lãnh ngân hàng là giao dịch không thể đơn phương hủy ngang
Tính chất không thể huỷ ngang của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ, sau khi
cam kết bảo lãnh hay thư cam kết đã được phát hành hợp lệ bởi một tổ chức tín dụng,
không một cơ quan nào (ví dụ như chủ tịch hội đồng quản trị hay tổng giám đốc hoặc
giám đốc chi nhánh…) có thể lấy danh nghĩa đại diện cho tổ chức tín dụng phát hành
bảo lãnh để tuyên bố đơn phương huỷ bỏ cam kết bảo lãnh , trừ khi tuyên bố này được

dựng nguyên tắc bảo lãnh dựa vào chứng từ không chỉ nhằm đảm bảo quyền lợi hợp
pháp và chính đáng của các bên giao dịch, mà còn góp phần nâng cao ý thức trách
nhiệm cũng như tính kỷ luật hợp đồng, trên cơ sở đó tạo dựng một môi trường kinh
doanh lành mạnh, minh bạch và an toàn hiệu quả cho các tổ chức tín dụng.
1.1.4. Chức năng của bảo lãnh
Theo nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2010), “Giáo trình ngân hàng thương mại”,
Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.
1.1.4.1. Chức năng bảo đảm
Đây được xem là chức năng quan trọng nhất của nghiệp vụ bảo lãnh. Đó là
cung cấp một sự bảo đảm cho người thụ hưởng, không chỉ về mặt thanh toán mà bao
gồm cả việc thực hiện hợp đồng và nhờ đó bảo đảm sự công bằng về quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Theo chức năng này, người thụ hưởng sẽ
được bồi thường một khoản tài chính cho những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng
của người được bảo lãnh gây ra.
Trong giao dịch mua bán, các doanh nghiệp còn có nhiều khó khăn, hạn chế
trong việc đánh giá đối tác của mình về khả năng tài chính, uy tín cũng như khả năng
thực hiện hợp đồng,… trong khi ngân hàng lại có đầy đủ các điều kiện thuận lợi để
tiến hành thẩm định khách hàng cũng như dự án của khách hàng. Nếu không có sự
đảm bảo của ngân hàng thì rất nhiều hợp đồng kinh tế sẽ không được ký kết do sự
thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa các đối tác như bên bán lo sợ bên mua không thanh toán
hoặc thanh toán không đầy đủ, đúng hạn; bên mua lo bên bán không giao hàng hoặc
giao hàng không đúng hạn, không đúng quy cách, số lượng và chất lượng,… Vì vậy,
nhờ có uy tín và sự bảo đảm của ngân hàng, bên thụ hưởng bảo lãnh có thể đánh giá
được đối tác của mình một cách chính xác, cụ thể, tránh được những rủi ro không đáng
có, tiến tới một mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài với đối tác.
Đồng thời do chịu trách nhiệm bồi thường nên ngân hàng thường xuyên theo
dõi, kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh. Và

15
trong trường hợp ngân hàng phải thanh toán tiền bồi hoàn cho bên nhận bảo lãnh thì

bảo lãnh đồng nghĩa với việc ngân hàng đã gián tiếp tài trợ cho bên được bảo lãnh có
được một khoản tài trợ về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ví dụ
công ty xây dựng khi thiếu vốn sẽ yêu cầu chủ công trình ứng trước một khoản tiền để
mua nguyên vật liệu và trả lương cho công nhân. Bằng uy tín của mình, ngân hàng của
công ty xây dựng phát hành Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước như là một công cụ tài
trợ để công ty xây dựng nhận được khoản tiền ứng trước từ chủ công trình. Trong rất

16
nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh mà người được bảo lãnh không phải ký quỹ, thu
hồi vốn nhanh, Vì vậy, cho dù không trực tiếp cấp vốn, nhưng với việc phát hành thư
bảo lãnh, ngân hàng đã giúp khách hàng được hưởng những thuận lợi về vốn tương tự
như khi được vay vốn thật sự. Điều này đã góp phần đáp ứng kịp thời các nhu cầu mở
rộng thương mại, phát triển sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt sự căng thẳng về nguồn
vốn hoạt động của các doanh nghiệp.
1.1.4.3. Chức năng thúc đẩy hoàn thành hợp đồng
Chức năng này xuất phát từ người được bảo lãnh, có thể bị người thụ hưởng
bảo lãnh yêu cầu thanh toán bầt kỳ lúc nào trong thời gian hiệu lực của bảo lãnh nếu
như họ vi phạm hợp đồng, ở bất kể mức độ nào, là bao nhiêu. Người được bảo lãnh
luôn phải chịu áp lực của việc phải bồi hoàn bảo lãnh. Chính vì vậy bảo lãnh như có
tác dụng thúc đẩy người được bảo lãnh hoàn tất hợp đồng đã được ký kết và hoạt động
kinh doanh có hiệu quả hơn.
1.1.5. Vai trò của bảo lãnh
Theo nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2010), “Giáo trình ngân hàng thương mại”,
Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.
1.1.5.1. Đối với ngân hàng
- Tăng doanh thu: Bảo lãnh là một loại hình dịch vụ ngân hàng cung ứng cho
nền kinh tế đem lại thu nhập cho ngân hàng thông qua phí bảo lãnh. Đó là hoa hồng
phần trăm tính trên doanh số bảo lãnh. Phí bảo lãnh chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí
dịch vụ của các ngân hàng hiện đại. Một ưu điểm trong bảo lãnh là ngân hàng không
phải xuất vốn ra ngay do vậy chưa phải sử dụng vốn của mình, không phải trả chi phí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status