1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Trong vòng 10 năm trở lại đây, ngành du lịch thế giới tăng trưởng khoảng 25%.
Hiện tại du lịch chiếm khoảng 10% hoạt động kinh tế toàn cầu và một trong những
ngành tạo ra công ăn việc làm chính trên thị trường lao động thế giới [37]. Ngành du
lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều
quốc gia. Từ nay đến năm 2020 theo UNWTO, dự báo du lịch còn tăng trưởng ồ ạt
hơn nữa, tạo ra các cơ hội kinh tế lớn lao song mang lại những thách thức gay gắt và
những mối đe dọa tiềm ẩn đối với môi trường và các cộng đồng địa phương nếu không
được quản lý tốt [87,28]. Trước những nguy cơ đó, con người bắt đầu nhìn nhận, chuyển
hướng nhận thức và cách tiếp cận trong hoạt động du lịch, họ mong muốn đóng góp
trách nhiệm cho một thế giới phát triển bền vững hơn. Theo đó, xu thế phát triển du
lịch dựa vào thiên nhiên nói chung và DLST nói riêng đang trở thành xu thế của thời
đại và có ý nghĩa quan trọng không những về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa đặc biệt
đối với sự phát triển bền vững của du lịch trên khía cạnh trách nhiệm đối với tài
nguyên và môi trường.
Vùng duyên hải cực Nam Trung bộ là vùng được thiên nhiên ưu đãi về tiềm năng du
lịch nói chung và DLST nói riêng. Trong những năm qua đã đón bắt nhiều cơ hội để
phát triển du lịch và DLST, qua đó nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên như các bãi biển
(Mũi Né, Ninh Chữ, Cà Ná, Hàm Tân,…) các VQG, các khu bảo tồn thiên nhiên đã và
đang được khai thác sử dụng để phát triển du lịch. Tuy với thế mạnh vượt trội về tài
nguyên du lịch, là cơ sở để phát triển DLST nhưng cho đến nay việc khai thác tiềm
năng này trên cả lĩnh vực tự nhiên lẫn nhân văn còn ở mức nhỏ lẻ, tự phát, chưa có
được những nghiên cứu mang tính bài bản, khoa học để tạo nền tảng cho việc khai
thác có hiệu quả những nguồn tiềm năng to lớn này.
Hiện nay, đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế du lịch với quy mô lớn, tốc độ
nhanh, làm cho các địa phương đối phó với nhiều vấn đề nan giải, tồn tại mâu thuẩn
kinh nghiệm, làm cơ sở cho tác giả đề xuất giải pháp ở chương 3.
Tổ chức khảo sát thực tế các địa bàn vùng DHCNTB để hỗ trợ đánh giá thực
trạng khách DL-DLST, qua đó phác họa bức tranh về DLST đang có nhiều
mãng sáng tối, chưa phối hợp hài hòa và thiếu tính bền vững.
3
Đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp hợp lý nhằm xây dựng kế hoạch hành
động phát triển DLST của vùng DHCNTB
4- Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
* Đối tƣợng nghiên cứu: đối tượng chính tập trung nghiên cứu là các hoạt động liên
quan đến tổ chức quản lý phát triển DLST, là chủ thể gắn với yếu tố cung. Ngoài ra
các đơn vị lữ hành, các công ty dịch vụ, khách DL-DLST, cộng đồng địa phương tham
gia vào hoạt động DLST cũng là những đối tượng được nghiên cứu bổ trợ để so sánh
đối chiếu, suy diễn.
* Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trên không
gian thuộc tiểu vùng DHCNTB (gồm hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận). Về mặt
thời gian luận án giới hạn thời gian từ 1995 đến 2010, đây là khoảng thời gian mà hoạt
động DLST tại Ninh Thuận–Bình Thuận đã có những bước khởi đầu đáng ghi nhận.
5- Phƣơng pháp nghiên cứu: Có 2 phương pháp được sử dụng nghiên cứu gồm:
5.1 Phƣơng pháp định tính:
5.1.1 Phƣơng pháp phân tích thống kê: tác giả sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp
đáng tin cậy được thu thập từ các Sở VHTT-DL, Sở NN &PTNT, Sở Kế hoạch & Đầu
tư, Cục Thống kê của 2 tỉnh, từ Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch, Tổng Cục DL.
Bên cạnh đó còn sử dụng các nguồn dữ liệu chính thức của các tổ chức Du lịch thế
giới (UNWTO), Hiệp hội DLST quốc tế (TIES), Hội đồng Du lịch Lữ hành quốc tế,
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Với các nguồn dữ liệu này tác giả đã sử
dụng phương pháp phân tích thống kê để phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động
DLST tại vùng DHCNTB.
5.2 Phƣơng pháp định lƣợng:
A/. Sử dụng mô hình phi tuyến dạng hàn mũ để thực hiện dự báo lƣợng du khách
đến: Khác với trước đây, các dự báo thường dùng các mô hình tuyến tính giản đơn để
dự báo. Trong chương 3, với đặc điểm số liệu của lượng khách du lịch (quốc tế và nội
địa) là số liệu chuỗi thời gian (Time series), thường diễn biến theo xu hướng phi tuyến.
Do đó tác giả sau khi chạy thử 2 dạng hàm bậc 2 và hàm mũ, đã quyết định sử dụng
mô hình hồi quy phi tuyến dạng hàm mũ theo mô hình kinh tế lượng Holt-Winter là
hàm thích hợp nhất. (đây là dạng mô hình mà Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch
đã ứng dụng trong dự báo- Tạp chí Du lịch VN số 10/2011). Tác giả đã sử dụng phần
5
mềm kinh tế lượng chuyên dụng Eviews 7.0 để giải quyết bài toán định lượng dự báo
nói trên. Sai số mô hình cho thấy rất thấp, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cho dự báo (xem phụ
lục C)
B/ Sử dụng phƣơng pháp phân tích định lƣợng để khảo sát nhu cầu và yêu cầu
của du khách đối với DLST ở vùng DHCNTB: Tác giả đã sử dụng số liệu sơ cấp
được thu thập khi khảo sát trực tiếp 883 du khách (144 khách quốc tế, 739 khách nội
địa) với phần mềm PASW-SPSS 20.0 để tính toán tần suất, phân tích, phân loại theo
nhóm gắn với tính chất, hành vi để làm cơ sở cho các phân tích tích định lượng khác
trong chương 2.
6- Phƣơng pháp luận trong nghiên cứu luận án: Luận án “Phát triển DLST các tỉnh
vùng DHCNTB đến năm 2020”. Tác giả muốn nghiên cứu làm rõ các nội dung lý luận
về DSLT, về các nguyên tắc, điều kiện để hoạch định sự phát triển DLST bền vững
trên một địa bàn lãnh thổ nhất định. Tác giả sử dụng các phương pháp định tính và
định lượng trong phân tích đánh giá thực trạng về tổ chức hoạt động DLST trong các
năm qua, thống kê phân tích nguồn tài nguyên DLST của 2 tỉnh, cùng với dự báo khả
năng phát triển. Tác giả vạch ra các định hướng mục tiêu phát triển, định hướng tổ
chức không gian DLST của vùng và đề xuất các giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát
“Du lịch sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” do PGS.TS.
Phạm Trung Lương chủ biên; “Du lịch sinh thái – Ecotourism” do GS-TSKH. Lê
Huy Bá biên soạn; “Du lịch bền vững” do Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu đồng
biên soạn; “ Du lịch sinh thái những nguyên tắc- thực hành và chính sách để phát
triển bền vững” của tác giả M.Epler Wood, “ Phát triển DLST tại Malaysia – Có thật
sự bền vững ?” của M. Badaruddin; “ DLST ở Australia-Sự kết nối của năng suất
xanh” của Tsung –Weilai; “DLST ở Indonesia” của Ricardo Manurung; “ DLST ở
Philippines” của A.M. Alejandriino. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu nêu
trên, tôi nhận thấy chưa có tài liệu nào trên đây đề cập đến nội dung đề tài mà mình
đang nghiên cứu, thêm vào đó những lý luận mà các tài liệu đã nêu ra chỉ là bước đầu
mang tính khái quát, chưa đề cập được những đặc trưng về các loại hình DLST
chuyên sâu về biển và hải đảo trên địa bàn vùng duyên hải Việt Nam. Nhìn chung
qua các công trình nghiên cứu ở trong nước về DLST trong thời gian qua, tác giả đề
tài có một số nhận xét như sau:
7
* Ƣu điểm: Nhiều công trình nghiên cứu khá công phu về lý luận, có sự tiếp cận của
các thành tựu về lý luận lẫn thực tiển nghiên cứu DLST của các nước Asean và trên
thế giới; bước đầu đã thống kê khá bài bản các nguồn tài nguyên DLST thiên nhiên và
nhân văn trên phạm vi quốc gia hoặc vùng lớn, định hướng được những nội dung khai
thác DLST trên một số khu vực đặc trưng, các VQG và các khu bảo tồn thiên nhiên ở
nước ta.
* Tồn tại: Các công trình nghiên cứu còn thiên về lý luận, chỉ dừng lại mức độ
nghiên cứu tổng quát, hàn lâm chưa có nhiều nội dung sáng tạo thể hiện dựa trên đặc
thù DLST của Việt Nam; chưa đi sâu vào nghiên cứu các vùng miền và các tỉnh có
tiềm năng phát triển DLST; số lượng nghiên cứu còn ít, đặc biệt nội dung phát triển
DLST văn hóa, DLST cộng đồng; nghiên cứu và đề xuất về sản phẩm DLST còn rất sơ
sài, nghèo nàn, chỉ tập hợp những sản phẩm đã có sẳn và lại trùng lập trên nhiều tour,
không thấy hết được những mối liên hệ nội tại vốn có về các khía cạnh kinh tế-xã hội,
về sự nối kết do truyền thống lịch sử, tính chất thúc đẩy khai thác tài nguyên liên
vùng,… Luận án đã phân tích đứng trên bình diện vùng lãnh thổ thống nhất, xuyên
suốt với nguyên tắc hướng đến tối ưu trong gắn kết khai thác tài nguyên DLST, tận
dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có để xây dựng mối liên hệ phát triển DLST bền
vững.
-Thứ hai: lần đầu tiên một luận án với đề tài phát triển DLST trên một vùng duyên hải
giàu tiềm năng DLST được xây dựng. Ngoài những yếu tố được đề cập về nội dung về
khái niệm mang tính học thuật, phân tích thực trạng, nội dung kinh doanh DL,…Tác
giả luận án còn hướng đến ứng dụng về lĩnh vực địa lý kinh tế du lịch trong việc đi sâu
phân định, tổ chức không gian, lãnh thổ DLST để thiết kế phân khu chức năng hoạt
động và phân vùng tài nguyên DLST. Từ đó đã đề xuất xây dựng trên 30 tour, tuyến,
điểm DLST liên vùng cụ thể, xuyên suốt tạo nên một mạng lưới hoạt động DLST hợp
lý.
-Thứ ba: định hướng phát triển du lịch sinh thái của vùng DHCNTB giai đoạn 2008-
2020. Trên các cơ sở tính toán và phân tích, tác giả đã đề xuất các giải pháp thực hiện
nhiệm vụ phát triển, các khung kế hoạch hành động ngắn hạn cho các thời kỳ 2012-
2015, và 2016-2020.
-Thứ tư: qua việc phân tích và đánh giá thực trạng về tài nguyên du lịch, về tổ chức
quản lý hoạt động DLST của vùng DHCNTB, tác giả phát hiện việc quản lý theo địa
9
giới hành chính hiện nay đã làm “đứt mạch” Các dòng giao lưu hoạt động văn hóa
Chăm vốn có trên giải đất Ninh Thuận – Bình Thuận trước đây là lãnh địa có tên
“Panduranga” của các vương triều Chăm Pa, là cơ sở để phát triển loại hình du lịch
sinh thái văn hóa Chăm đặc sắc của vùng DHCNTB. Từ đó tác giả ngoài việc đề xuất
các tour DLST chung, đã đề xuất tổ chức xây dựng các tour DLST chuyên đề mới đặc
thù, phù hợp với thực tiễn (trong mỗi tour đều được nêu rõ chi tiết về kết nối địa điểm,
nội dung chính đề cập đến những quan điểm phát triển DL và DLST của cả nước,
của vùng và của 2 Tỉnh, các quan điểm - định hướng-mục tiêu phát triển của tác
giả, các cơ sở kinh tế-xã hội cho việc đề xuất các giải pháp. Dự báo các chỉ tiêu
kinh tế du lịch của vùng, cuối cùng là các nhóm giải pháp đồng bộ cho chiến lược
phát triển gắn với khung kế hoạch hành động cụ thể của vùng về phát triển DLST
cho từng thời kỳ.
11
Chƣơng 1
Năm 1993 Allen đưa ra một định nghĩa đề cập sâu sát đến lĩnh vực họat động trách
nhiệm của du khách, đó là: “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên
khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng
dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người với thiên
nhiên hoang dã đã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành
những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường. Phát triển DLST sẽ làm giảm
thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường đảm bảo cho địa phương
được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp
tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên” [23,10]
Đối với các tổ chức quốc tế, định nghĩa về DLST do Hiệp hội du lịch sinh thái quốc
tế (TIES) đưa ra hiện được sử dụng khá phổ biến như sau:
“Du lịch sinh thái là việc đi lại của có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà
bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương” [10,31]
Sơ đồ 1.1: Sự tiếp cận của phát triển bền vững là nền tảng của DLST (UNWTO, 2009)
1.1.3 Một số định nghĩa về DLST ở Việt Nam:
Luật Du lịch Việt Nam 2005, định nghĩa về DLST: “là hình thức du lịch dựa vào
thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm
phát triển bền vững” [27,23]
Tổng cục Du lịch Việt Nam đưa ra một định nghĩa tương tự về DLST:
“ DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục
môi trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích
cực của cộng đồng địa phương” [25, 35]
13
nguồn tài nguyên thiên - tài nguyên nhân văn và lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa
phương một cách bền vững”[11,10].
+ Bổ sung của tác giả về khái niệm DLST liên quan đến vùng DHCNTB:
*Khái niệm DLST biển-đảo: là một loại hình DLST cụ thể, dựa vào môi trường
biển, bờ và hải đảo, có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường thiên
nhiên, các giá trị văn hóa của cộng đồng cư dân đang sinh sống ở vùng duyên hải và
hải đảo. DLST biển- đảo chú trọng đề cao sự tham gia tích cực của người dân địa
phương vào việc hoạch định quản lý và khai thác một cách có hiệu quả các nguồn tài
nguyên du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát triển bền vữn, tạo điều kiện mang lại lợi ích
kinh tế - xã hội cho toàn cộng đồng.
DLST biển-đảo có thể chia làm 3 khu vực không gian hoạt động cơ bản: khu vực bờ
và mép nước; khu vực mặt nước và hải đảo; khu vực dưới mặt nước và đáy biển.
Khu vực bờ và mép nước: phân bố không gian từ mép nước trở vào là nơi thiết
lập các cơ sở hạ tầng dịch vụ cho toàn hoạt động DLST biển-đảo (xây dựng
các khu nghỉ dưỡng sinh thái, resort, khách sạn, các băng rừng cây xanh tạo
sinh cảnh và chắn gió cát, đường sá, bến cảng, nhà hang,…). Các loại hình
khai thác tổng hợp bao gồm: du lịch khám phá đồi cát di động và rừng Savan,
tham gia nghỉ dưỡng biển, tham gia các hoạt động thể thao biển và giải trí trên
bờ, kết hợp tham gia các loại hình DLST văn hóa với cộng đồng ngư dân sống
ven biển (lễ hội Cầu Ngư, lễ hội Nghinh Ông Nam Hải, lễ tế tại các vạn chài,
homestay ở các làng chài ven biển và các làng chài nông ngư kết hợp…)
Khu vực mặt nước và hải đảo: đây là vùng có không gian địa lý rộng lớn, toàn
bộ mặt biển và các hải đảo. Đối với khu vực mặt nước có thể tổ chức khai thác
các loại hình: thưởng ngoạn, câu cá bằng du thuyền; tham gia đánh bắt hải đặc
sản trên biển cùng với ngư dân, đua thuyền vượt đại dương, các môn thể thao
15
mạo hiểm trên biển, Đối với các hải đảo, đặc biệt với những đảo lớn có cư
cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động ngành cùng các mối liên hệ với điều kiện phát sinh
của ngành với các ngành khác, với các địa phương [22,45]
Tổ chức lãnh thổ DLST là môt bộ phận không thể tách rời của du lịch, trong DLST
việc tổ chức phân vùng tổ chức lãnh thổ được tổ chức chuyên môn hóa và chú trọng
nhiều hơn đến đặc điểm phân bố các tài nguyên DLST, đến lợi ích thụ hưởng của cộng
đồng, đến sự bảo tồn và phát triển tài nguyên này để đạt mục tiêu phát triển DLBV.
1.2 Những nguyên tắc và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái:
1.2.1 Những nguyên tắc của DLST bền vững:
Các cơ sở nền tảng ban đầu làm kim chỉ nam cho hoạt động DLST bao gồm:
- Nghiên cứu và bảo tồn các giá trị thiên nhiên, giá trị văn hóa.
- Tăng cường nội dung giáo dục môi trường.
- Tổ chức đồng bộ và chuyên nghiệp về nghiệp vụ du lịch và lữ hành nhằm
giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.
- Hướng mọi khả năng đến việc góp phần bảo vệ môi trường.
Từ đó DLST khi hướng đến mục tiêu bền vững đã xây dựng các nguyên tắc cơ bản sau
đây:
a. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm tài nguyên tự
nhiên, tài nguyên nhân văn. Cân đối hài hòa trong việc sử dụng một cách bền
vững nguồn tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển DLST .
b. Bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa,… (chủng loài các hệ động thực vật,
bản sắc văn hóa dân tộc,…) vì DLST lấy bảo tồn là tiêu chí hàng đầu trong
hoạt động, khai thác du lịch chỉ là hoạt động thứ yếu.
c. Thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và
các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả. Tác động giảm thiểu mức
tiêu thụ tài nguyên hiện có, giảm thiểu lượng chất thải một cách triệt để nhằm
nâng cao chất lượng môi trường.
d. Trong quá trình khai thác họat động DLST, cần phối hợp mục tiêu hỗ trợ phát
triển kinh tế địa phương, vì trách nhiệm của DLST là đóng góp vào phúc lợi
tự nhiên (Natural Ecology); Sinh thái động vật (Animal Ecology); Sinh thái thực vật
(Plant Ecology); Sinh thái nông nghiệp điển hình (Agricultural Ecology); Sinh thái khí
hậu (Ecoclimate); Sinh thái nhân văn (Human Ecology) [10,32]
18
Các yếu tố sinh thái đặc thù nêu trên góp phần nêu bật tính chất DLST là loại hình
du lịch dựa vào thiên nhiên. Tuy nhiên ngày nay DLST cũng còn phát triển hoạt động
dưới nhiều loại hình khác như: du lịch sinh thái vùng nông thôn (Rural tourism), du
lịch trang trại điển hình (Farm tourism), DLST văn hóa (Cultural Ecotourism).
- Điều kiện thứ hai: nói lên tính chất quản lý tổ chức của con người nghĩa là:
+ Đòi hỏi tính chuyên nghiệp của nhân viên tác nghiệp trong hoạt động DLST. Vì
để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người
hướng dẫn viên du lịch ngoài khả năng về ngôn ngữ truyền đạt, còn là người có am
hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng sở tại. Yếu tố này rất quan
trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến đến hiệu quả của hoạt động DLST. Trong nhiều
trường hợp, cần thiết phải có sự cộng tác của người địa phương để có những hiểu biết
tốt nhất truyền đạt đến cho du khách.
+ Đòi hỏi người quản lý điều hành phải có nguyên tắc cụ thể. Trước đây các nhà
điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có bất kỳ
cam kết nào cho việc bảo tồn hoặc quản lý các khu thiên nhiên, họ chỉ đơn giản là tạo
cho du khách cơ hội để nhận biết những giá trị tự nhiên và văn hóa mặc cho sau này
những giá trị này suy giảm hay vĩnh viễn biến mất. Ngược lại các nhà điều hành và
quản lý DLST luôn có sự cộng tác chặt chẽ giữa với các nhà quản lý của những khu
bảo tồn thiên nhiên và cả cộng đồng địa phương để thiết lập những nguyên tác quản lý
với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn
hóa bản địa, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa
phương và khách du lịch.
- Điều kiện thứ ba: mục đích hạn chế đến mức tối đa các tác động có thể có do hoạt
thưởng ngoạn, đã biến loại hình du lịch này thành loại du lịch trí thức, tư duy tiên tiến.
Do đó phải xây dựng mẫu khách du lịch sinh thái điển hình, họ là những du khách
quan tâm thực sự đến giá trị tự nhiên và nhân văn ở khu vực thiên nhiên hoang dã.
1.3 Phát triển DLST bền vững ở vùng bờ biển-hải đảo:
1.3.1 Khái niệm không gian DLST vùng bờ-hải đảo: có rất nhiều cách xác định
vùng DLST bờ biển hoặc hải đảo (Coastal-Island Zones) dựa trên quan điểm thủy - địa
động lực, hải dương, địa sinh thái, quản lý phát triển, nhu cầu của du khách…Phát
triển DLST vùng biển đảo chú trọng đến không gian hẹp trong phạm vi tương tác biển-
đảo, bờ và đại dương mà tại đó có các tài nguyên DLST thu hút du khách. Cụ thể đó
thường là vùng bờ biển cát có bãi tắm, các vách biển, vách núi trên các bờ hải đảo, các
vùng san hô ngầm, ven đảo và các dải đất hẹp ven biển dùng để phát triển cơ sở hạ
tầng du lịch, rừng ngập mặn, ám tiêu san hô, vùng vịnh, đầm phá, cửa sông, cồn cát,
20
các ngư trường gần bờ dùng cho phát triển du lịch câu cá, lặn khám phá…[Pearce và
Kirk,1986]
1.3.2 Các giai đoạn phát triển của DLST ven biển và hải đảo:
Theo Dobias (1989), trên cơ sở nghiên cứu các khu DL, DLST biển và đảo ở khu
vực Đông Nam Á đã đưa ra mô hình 5 giai đoạn của chu trình phát triển các khu du
lịch biển bờ và hải đảo như sau:
- Giai đoạn lều trại (bulgalow): các lều trại nhỏ được người dân điạ phương xây dựng
tạm thời nhằm thu hút chủ yếu khách du lịch nội địa và một ít khách DLST “ba lô” ít
tiền. thời kỳ này do hiểu biết về môi trường còn thấp nên đa phần lều trại đều xây
dựng ngay trên bãi biển và bờ đảo, hầu như không có hệ thống thu gom chất thải, nước
thải hầu như không được xử lý, tuy vậy tác động xấu đến môi trường còn vẫn không
đáng kể vì mức mức độ phát triển còn thấp (điển hình như ở Hòn Rơm-Mũi Né vào
năm 1995, và Vĩnh Hy năm 2005)
- Giai đoạn nâng cấp hình thành cơ sở nhỏ: người địa phương nâng cấp các lều trại của
dài hạn liên quan đến hoạt động của điểm DLST như biến đổi sử dụng đất,xả thải, hoạt
động của du khách, chỗ làm việc, suy thoái cảnh quan, xâm hại đa dạng sinh
học…Hoạt động DLST thường rất mâu thuẫn với hoạt động kinh tế địa phương vì cả
hai đều sử dụng chung không gian môi trường nhưng phương hướng khách nhau.
1.3.4 Quy hoạch phát triển bền vững cho DLST biển đảo:
Theo Odum (1976) chia vùng bờ biển- hải đảo thành 3 đới chính: đới dành cho phát
triển DL-DLST; đới vùng đệm hạn chế phát triển; đới phải bảo tồn nghiêm ngặt. Trong
quy hoạch DLST biển đảo khả năng tải được hiểu là cường độ sử dụng tối đa môi
trường và tài nguyên nhưng không làm suy thoái. Theo Pearce và Kirk (1986) đề xuất
khả năng tải thich hợp cho các đới DLST biển đảo gồm:
Bảng 1.1 : Các loại khả năng tải ưu tiên của các đới DLST ven biển
Không gian
DLST
Môi trƣờng vùng bờ và hải đảo
Khả năng tải ƣu tiên
Đới dịch vụ và
tiện nghi DLST
Vùng đất phía trong bờ và đảo
Khả năng tải kinh tế
Đới đệm
Cồn cát và các đồi đá ven đảo
Khả năng tải sinh thái
22
Đới hoạt động
nghỉ dưỡng
1.4 Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST:
23
Sự trải nghiệm của du khách tại điểm đến nhìn chung thường chịu ảnh hưởng của
thái độ của người dân địa phương đối với hoạt động DLST và khách du lịch. Sự tiếp
xúc ngắn ngủi giữa du khách và người dân bản địa có thể góp phần làm cho trải
nghiệm DLST trở nên hoàn hảo hoặc ngược lại. Sự tham gia của cộng đồng là một
trong những đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình phát triển DLST. Điều này được
xem là thách thức và cũng là cơ hội lớn cho cả cộng đồng địa phương và các bên tham
gia. Do đó, cần xây dựng những định hướng phát triển phù hợp cùng với những hành
động kịp thời nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự tham
gia của họ vào phát triển DLST [72,45]
* Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST rất cần thiết là vì:
- Cộng đồng địa phương chính là người đầu tiên tiếp xúc khai thác sử dụng và có kinh
nghiệm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa ở địa phương qua nhiều
thế hệ. Do đó, nếu họ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc tham gia trong hoạt
động DLST thì có thể họ sẽ cam kết mạnh mẽ hơn nữa đối với quản lý bền vững các
nguồn tài nguyên này.
- Nếu cộng đồng địa phương được tham gia vào phát triển DLST thì họ sẽ càng có
thiện cảm với hoạt động DLST và những kết quả đạt được từ hoạt động này cũng sẽ
cao hơn.
- Kinh nghiệm và những hiểu biết về các nguồn tài nguyên bản địa của người dân địa
phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm DLST.
- Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tiếp xúc với du khách hàng ngày, do
đó nếu người dân có thái độ tích cực với đối với hoạt động DLST thông qua việc cùng
tham gia, hưởng lợi và cùng quyết định thì điều này sẽ mang lại những nguồn lợi đáng
kể cho chính họ, cũng như thỏa mãn được nhu cầu du khách.
1.5 Tài nguyên du lịch sinh thái:
dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm (như ở các vườn
QG, khu Bảo tồn thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển…)
Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, làng hoa, vườn trang trại…)
Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển có sự gắn kết với sự tồn tại
của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác truyền thống, các lễ
hội, các sinh họat truyền thống của cộng đồng…
Các di sản văn hoá bản địa truyền thống (gồm văn hoá vật thể và phi vật thể)
25
1.5.2 Môi trƣờng và hệ sinh thái:
1.5.2.1 Khái niệm môi trƣờng:
- Môi trường: “Môi trường là tổng hợp ở một thời điểm nhất định các trạng thái
vật lý, hóa học, sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động
trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn đối với các sinh vật hay đối với
các hoạt động của con người.” [11,33]
- Định nghĩa môi trường trong Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam (1993): “
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
1.5.2.2 Hệ sinh thái môi trƣờng: Hệ sinh thái môi trường (Environmental
ecosystem) là một hệ thống bao gồm các quần xã sinh vật và con người, có cùng các
điều kiện môi trường bao quanh nó với sự tương tác lẫn nhau, liên tục không ngừng
mà kết quả của sự tác động đó quyết định đến chiều hướng phát triển của quần xã và
sinh cảnh của toàn hệ. [10,57] . Các HST chủ yếu bao gồm: HST rừng nhiệt đới; HST
núi cao; HST đất ngập nước; HST sông, hồ, suối thác; HST nông nghiệp (vườn, trang
trại); HST biển, đảo; HST đồng cỏ tự nhiên. Phần lớn các HST này thường tập trung
quanh các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên nên việc khai thác các tiềm năng DLST để
phục vụ phát triển du lịch thường gắn với các khu vực này.