Đồ án thiết kế chuyển mạch burst quang - Pdf 24

Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương 1: 7
Giới thiệu về chuyển mạch burst quang 7
1.1 Chuyển mạch kênh quang 7
1.2 Chuyển mạch gói quang 8
1.3 Chuyển mạch burst quang 10
1.4 So sánh các công nghệ chuyển mạch quang 11
Chương 2 : 12
Các khía cạnh cơ bản của chuyển mạch burst quang 12
2.1 Kiến trúc mạng OBS 12
2.1.1 Cấu tạo nút biên 14
2.1.2 Cấu tạo nút lõi 15
2.2 Tổ hợp burst 17
2.2.1 Tổ hợp burst dựa trên bộ định thời 17
2.2.2 Tổ hợp burst dựa trên mức ngưỡng 17
2.3 Các cơ chế báo hiệu 19
2.3.1 Cơ chế báo hiệu Just – Enough – Time (JET) 20
2.3.2 Cơ chế báo hiệu Just – In – Time (JIT) 23
2.3.3 Cơ chế báo hiệu Tell – And – Go (TAG) 25
2.3.4 Cơ chế báo hiệu Tell – And – Wait (TAW) 26
2.4 Các thuật toán sắp xếp kênh 27
2.4.1 Kênh rỗi phù hợp đầu tiên (FFUC) 28
2.4.2 Kênh rỗi với LAUT gần nhất (LAUC) 29
2.4.3 Kênh rỗi phù hợp đầu tiên – thực hiện lấp khoảng trống (FFUC-VF) 29
2.4.4 Kênh rỗi với LAUT gần nhất - thực hiện lấp khoảng trống (LAUC-VF) 30
2.4.5 Khoảng trống kết thúc tối thiểu (Min-EV) 31

JIT Just – In – Time (Tên giao thức)
LAUC Latest Available Unscheduled
Channel
Kênh rỗi với LAUT gần nhất
LAUC- VF Latest Available Unscheduled
Channel – Void Filling
Kênh rỗi với LAUT gần nhất-thực
hiện lấp khoảng trống
MEMS Microelectromechanical System Hệ thống vi cơ điện
Min – EV Minimum End Void Khoảng trống kết thúc tối thiểu
NAK Negative Acknowledgment Bản tin báo nhận phủ định
OBS Optical Burst Switching Chuyển mạch burst quang
OCS Optical Circuit Switching Chuyển mạch kênh quang
OPS Optical Packet Switching Chuyển mạch gói quang
Nhóm 10 – H09VT7
3
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
OXC Optical Cross Connect Thiết bị nối chéo quang
REL Release packet Gói tin giải phóng kênh
RM Routing Module Bộ định tuyến
RWA Routing and Wavelength
Assignment
Định tuyến và gán bước sóng
S Scheduler Bộ lập lịch
SCU Switching Control Unit Đơn vị điều khiển chuyển mạch
SONET Synchronous Optical Network Mạng quang đồng bộ
TAG Tell – And – Go (Tên giao thức)
TAW Tell – And – Wait (Tên giao thức)
WDM Wavelength Division Multiplexing Ghép kênh phân chia bước sóng
DANH MỤC HÌNH VẼ

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây đã diễn ra sự bùng nổ lưu lượng thông tin trên toàn cầu. Yêu
cầu về băng thông đối với các dịch vụ viễn thông ngày càng gia tăng. Một trong
những xu hướng phát triển của mạng viễn thông hiện nay là quang hóa từ mạng lõi
cho đến tận mạng truy nhập của khách hàng. Công nghệ ghép kênh phân chia theo
bước sóng WDM đã và đang được triển khai trong các hệ thống thông tin quang
hiện tại cho phép tốc độ truyền dẫn cực lớn và khả năng hỗ trợ các lưu lượng khác
nhau như IP, Ethernet, SONET/SDH. Một vấn đề đặt ra cho mạng quang WDM là
Nhóm 10 – H09VT7
5
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
lựa chọn được công nghệ chuyển mạch thích hợp để có thể sử dụng một cách tối ưu
băng thông của sợi quang và giảm thiểu trễ xử lý tại các thiết bị chuyển mạch. Ba
công nghệ chuyển mạch quang được nghiên cứu để sử dụng trong mạng WDM là:
chuyển mạch kênh quang, chuyển mạch gói quang và chuyển mạch burst quang.
Trong ba công nghệ này, chuyển mạch burst quang ra đời nhằm đáp ứng sự bùng nổ
dữ liệu, giải quyết được nhược điểm của chuyển mạch kênh quang và là bước trung
gian trước khi tiến tới chuyển mạch gói quang trong khi công nghệ chưa cho phép
có mạng truyền tải toàn quang. Xuất phát từ thực tế trên nhóm chúng em đã chọn
hướng nghiên cứu về chuyển mạch burst quang. Chuyên đề “Chuyển mạch burst
quang” trình bày những vấn đề cơ bản nhất về chuyển mạch burst quang. Nội dung
chuyên đề bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu về chuyển mạch burst quang. Chương này sẽ giới thiệu
về các công nghệ chuyển mạch quang chính là chuyển mạch kênh quang, chuyển
mạch burst quang và chuyển mạch gói quang.
Chương 2: Các khía cạnh cơ bản của chuyển mạch burst quang. Nội dung
chương 2 gồm có:
+Kiến trúc mạng OBS
+Tổ hợp burst: theo ngưỡng và dựa trên bộ định thời
+Các cơ chế báo hiệu: JET,JIT,TAG,TAW

1.2 Chuyển mạch gói quang
Nhóm 10 – H09VT7
8
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
Hình 1.2: Mạng chuyển mạch gói quang OPS
Mạng chuyển mạch gói quang OPS bao gồm các OXC được nối với nhau bằng
các liên kết WDM trong một cấu hình mesh tùy ý. Mạng chuyển mạch gói quang
bao gồm phần lõi có khả năng truyền tải tốc độ cao và phần biên giao diện với phần
tử của các mạng IP, SONET/SDH, Ethernet.
Các gói tin truyền trong mạng chuyển mạch gói quang có phần tiêu đề và phần
tải tin. Tiêu đề có chứa thông tin định tuyến cũng như thông tin điều khiển và được
truyền trong băng cùng với tải tin. Khi gói tin truyền tới OXC, tiêu đề sẽ được tách
ra và được xử lý trong miền điện (sau khi biến đổi quang – điện – quang) còn tải tin
sẽ được chuyển mạch trong miền quang. Vì phần tiêu đề cần mất thời gian để xử lý
nên phần tải tin được làm trễ đi bằng cách lưu đệm bởi đường dây trễ quang. Về
nguyên lý, chuyển mạch gói quang mong muốn truyền thông tin và xử lý thông tin
điều khiển hoàn toàn trong miền quang. Nhưng do hạn chế về mặt công nghệ hiện
nay nên phần thông tin điều khiển chỉ có thể xử lý trong miền điện mà thôi. Trong
chuyển mạch gói quang, tiêu đề được so sánh với một bảng định tuyến, tải tin sẽ
được chuyển ra cổng đầu ra tương ứng trên một sợi quang và một bước sóng mới.
Nếu không có bước sóng mới nào khả dụng, gói tin sẽ bị hủy hoặc phải bị trễ đi để
chờ bước sóng khả dụng mới.
Thành phần chính của nút OXC là cơ cấu chuyển mạch quang và khối điều khiển
chuyển mạch. Khối điều khiển chuyển mạch duy trì thông tin về tô pô mạng, duy trì
bảng định tuyến, xử lý tiêu đề gói tin, điều khiển việc lưu đệm, lập lịch và chuyển
tiếp các gói tin, điều khiển cơ cấu chuyển mạch chuyển mạch gói tin đúng thời gian
đã định, phát hiện tranh chấp và phân giải khi tranh chấp xảy ra giữa các gói tin. Cơ
cấu chuyển mạch thực hiện tạo kết nối từ cổng đầu vào đến cổng đầu ra tương ứng
theo yêu cầu của khối điều khiển chuyển mạch.
Nhóm 10 – H09VT7

Chuyển mạch gói quang là loại chuyển mạch hướng tới trong mạng toàn quang
với tốc độ xử lý nhanh nhất trong các loại đã nêu. Nhưng giới hạn của nó là ở chỗ
sự hạn chế về công nghệ hiện tại không đáp ứng được các yêu cầu cho một mạng
toàn quang.
Trong khi đó lưu lượng càng ngày càng bùng nổ. Ta có thể thấy chuyển mạch
burst quang đáp ứng được sự bùng nổ đó như thế nào. Với việc tổ hợp các gói cùng
đích đến dùng chung một gói điều khiển làm giảm thiểu tối đa việc xử lý thông tin
điều khiển. Các burst dữ liệu hoàn toàn truyền đi trên miền quang. Về tốc độ và khả
năng sử dụng băng tần hơn hẳn chuyển mạch kênh quang. Trong thời điểm hiện tại
với công nghệ như hiện nay thì chuyển mạch từng gói một với việc xử lý từng ấy
tiêu đề trong chuyển mạch gói quang sẽ không thể đáp ứng được lưu lượng như
chuyển mạch burst quang. Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó, chuyển mạch
burst quang đáp ứng được yêu cầu về bùng nổ lưu lượng nhưng nó vẫn chưa phải là
chuyển mạch toàn quang, trễ tổ hợp burst, việc thay thế thiết bị hay chỉ là cần thay
thế module. Đó là vấn đề “trade off” trong viễn thông.
Nhóm 10 – H09VT7
11
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
Công nghệ
chuyển mạch
quang
Hiệu quả sử
dụng băng
thông
Thời gian
chuyển mạch
yêu cầu
Xử lý header
Khả năng thích
ứng lưu lượng

(core node) được kết nối với nhau bằng các liên kết WDM.
Nút biên mạng OBS thực hiện giao diện với mạng khác như mạng IP,
SONET/SDH hay Ethernet. Nút biên vì thế có khả năng giao tiếp cả trong miền
điện và miền quang và có khả năng biến đổi điện quang cũng như chuyển đổi bước
sóng để tương thích với tín hiệu truyền trên các liên kết quang WDM. Nút biên trên
cơ sở truyền tải burst có thể phân thành nút biên đầu vào và nút biên đầu ra. Nút
đầu vào ở phía phát vào thực hiện tổ hợp các gói tin từ các đầu cuối thành các burst
và tạo các gói tin điều khiển, định tuyến và sắp xếp bước sóng để truyền các burst
dữ liệu vào mạng lõi OBS. Nút đầu ra ở phía thu thực hiện giải tổ hợp các burst
thành các gói tin và gửi tới các mạng đích. Nếu một nút biên thực hiện thông tin hai
chiều thì nó sẽ đóng vai trò vừa là nút đầu vào vừa là nút đầu ra.
Nút lõi có nhiệm vụ cơ bản là chuyển tiếp burst từ các cổng đầu vào tới các
cổng đầu ra tương ứng, dự trữ các kênh bước sóng cho các burst dữ liệu dựa trên
thông tin trong các gói tin điều khiển và giải quyết tranh chấp. Hình 2.2 mô tả các
thành phần của mạng OBS với các chức năng khác nhau.
Nhóm 10 – H09VT7
13
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
Hình 2.2: Sơ đồ khối chức năng của mạng OBS
2.1.1 Cấu tạo nút biên
Các nút biên là các router biên có khả năng giao diện điện và quang, thực hiện
chức năng phân loại gói tin, lưu đệm các gói tin, tổ hợp các gói tin thành các burst
và giải tổ hợp burst thành các gói tin cấu thành. Các phương pháp tổ hợp burst khác
nhau như dựa trên thời gian của bộ định thời hoặc dựa trên kích thước các gói tin có
thể được sử dụng để tổ hợp các gói tin dữ liệu thành các burst và gửi vào trong
mạng lõi OBS. Cấu tạo của một router biên bao gồm một bộ định tuyến RM
(Routing Module), các bộ tổ hợp burst BA (Burst Assembler) và các bộ lập lịch
kênh S (Scheduler).
Nhóm 10 – H09VT7
14

tranh chấp sẽ xảy ra và SCU sẽ có nhiệm vụ phát hiện và giải quyết tranh chấp này
theo các chính sách giải quyết tranh chấp mà mạng sử dụng. Có hai phương pháp
giải quyết tranh chấp mà phần 2.5 của chuyên đề đề cập đến là sử dụng các đường
dây trễ quang và chuyển đổi bước sóng. Để thực hiện được các phương pháp này
đòi hỏi nút lõi mạng OBS phải trang bị thêm đường dây trễ quang và các bộ chuyển
đổi bước sóng.
Hình 2.4: Cấu tạo nút lõi
Ta có thể thấy các gói tin khi đi vào các node biên sẽ được định tuyến để chuyển
rồi mới chuyển đến các bộ tổ hợp và sau đó được lập lịch và sắp xếp trên bước sóng
đầu ra tương ứng. Tại các node lõi sẽ chỉ có trách nhiệm chuyển tiếp gói tin đi nhờ
xử lý các thông tin báo hiệu và lập lịch. Tại node biên đầu ra sẽ burst sẽ được giải tổ
hợp và phân phối đến địa chỉ.Trong mạng OBS xử dụng các giao thức định tuyến
OSPF và GMPLS. Có thể thấy tuyến đã được lựa chọn tại node biên, các node đích
chỉ việc chuyển tiếp. Nếu đi thêm về các giao thức trên thì chuyên đề sẽ quá dài và
không tập trung vào đặc điểm riêng chính của OBS nên nhóm sẽ không trình bày cụ
thể về các giao thức định tuyến trên. Mục tiếp theo sẽ đề cập đến quá trình tổ hợp
burst là một trong những đặc điểm nổi bật của OBS.
Nhóm 10 – H09VT7
16
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
2.2 Tổ hợp burst
Tổ hợp burst là tiến trình tập hợp và đóng các gói ở router nút biên đầu vào từ
các lớp cao hơn thành các burst để truyền tải vào mạng OBS. Khi các gói tin đi đến
từ lớp cao hơn, chúng được lưu đệm trong các bộ nhớ đệm điện và được phân loại
theo địa chỉ và loại dịch vụ. Việc tổ hợp burst sẽ quyết định khi nào tạo ra một burst
và gửi burst đó vào mạng OBS. Hai phương pháp tổ hợp burst phổ biến nhất là tổ
hợp burst dựa trên bộ định thời và tổ hợp burst dựa trên mức ngưỡng.
2.2.1 Tổ hợp burst dựa trên bộ định thời
Như đã trình bày trong phần 2.1.1, các router biên có cấu tạo gồm có bộ định
tuyến, các bộ tổ hợp burst và các bộ lập lịch kênh. Khi các gói tin đến router biên,

mạng sẽ nhiều dẫn đến xác suất xảy ra xung đột ở các router lõi cao, nhưng số
lượng gói trung bình bị mất do xung đột lại nhỏ. Tuy nhiên, số lượng burst nhiều sẽ
làm tăng áp lực lên mặt bằng điều khiển do phải xử lý nhiều các gói tin điều khiển
của mỗi burst dữ liệu. Nếu thời gian cấu hình cho mỗi nút chuyển mạch không được
bỏ qua, các burst ngắn sẽ khiến cho việc sử dụng tài nguyên một cách kém hiệu quả
do phải mất nhiều thời gian chuyển mạch. Ngược lại, khi mức ngưỡng lớn dẫn đến
kích thước burt lớn, số lượng burst vào mạng sẽ nhỏ, do đó xác suất xảy ra xung đột
sẽ nhỏ nhưng số lượng gói trung bình bị mất do xung đột sẽ lớn.
Vì thế, cần có một sự cân bằng giữa số lượng xung đột và số lượng gói mất
trung bình tại mỗi lần xung đột. Do đó, hoạt động của mạng OBS sẽ được cải thiện
khi các gói đến được tổ hợp thành burst với một kích thước tối ưu. Tương tự,
phương pháp tổ hợp burst dựa trên bộ định thời cũng cần giá trị tối ưu về mặt thời
gian.
Việc lựa chọn phương pháp tổ hợp burst tùy thuộc vào loại lưu lượng được
truyền đi. Phương pháp tổ hợp burst dựa trên bộ định thời thích hợp với các lưu
lượng bị giới hạn về mặt thời gian như các dịch vụ thời gian thực như thoại, truyền
tải video vì thời gian trễ tổ hợp burst bị giới hạn. Nếu không có giới hạn về độ trễ,
phương pháp tổ hợp burst dựa trên mức ngưỡng phù hợp cho các dịch vụ không yêu
cầu thời gian thực như truyền số liệu, và cho phép điều khiển được số lượng gói bị
mất trong mỗi lần xung đột.
Nhóm 10 – H09VT7
18
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
Việc sử dụng cả hai loại phương pháp dựa trên bộ định thời và dựa trên mức
ngưỡng là lựa chọn tốt nhất và việc tổ hợp burst sẽ linh hoạt hơn là chỉ dùng một
trong hai phương pháp kể trên. Bằng cách tính toán giá trị mức ngưỡng tối ưu và sử
dụng giá trị của bộ định thời dựa trên độ trễ gói cho phép, ta có thể chắc rằng số
lượng mất gói là nhỏ nhất trong khi vẫn đảm bảo độ trễ cho phép.
Sau khi một burst được tạo ra sử dụng các phương pháp được nói ở trên, burt
được lưu đệm trong hàng đợi trong một khoảng thời gian trước khi truyền đi sao

trữ tài nguyên và thực hiện truyền burst dữ liệu mà không cần đợi nút đích thông
báo việc dự trữ tài nguyên từ nguồn tới đích có thành công hay không. Cơ chế báo
hiệu Tell – And – Wait là cơ chế báo hiệu hai chiều: nút nguồn sẽ chỉ truyền burst
dữ liệu khi được xác nhận kênh truyền đã được thiết lập hoàn toàn từ nguồn tới
đích.
2.3.1 Cơ chế báo hiệu Just – Enough – Time (JET)
Trong phương thức JET, có một độ trễ giữa việc truyền dẫn gói tiêu đề burst và
burst dữ liệu. Độ trễ này lớn hơn tổng thời gian xử lý gói điều khiển dọc theo tuyến.
Mục đích là sao cho khi burst đến mỗi nút chuyển mạch trung gian thì gói tiêu đề
burst đã được xử lý xong và một kênh trên cổng đầu ra đã được chỉ định. Do đó
không cần đường dây trễ quang để làm trễ burst dữ liệu ở mỗi nút. Đây là một đặc
tính quan trọng của JET vì đường dây trễ quang tốn kém và có nhiều hạn chế (ví dụ
như chỉ cho độ trễ cố định, chiều dài lớn). Cơ chế báo hiệu Just – Enough – Time
được mô tả trên hình 2.7, node nguồn đầu tiên gửi một gói tiêu đề bust (Burst
Header Packet – BHP) trên một kênh điều khiển tới node đích. BHP được xử lý tại
mỗi node tiếp theo với yêu cầu thiết lập đường dữ liệu toàn quang cho burst dữ liệu
tương ứng. Nếu quá trình dự trữ tài nguyên thành công, chuyển mạch sẽ được cấu
hình cho burst dữ liệu đi qua. Trong lúc đó, burst sẽ đợi tại nguồn trong miền điện.
Sau một khoảng thời gian offsetime xác định trước, burst được gửi trong miền
quang trên bước sóng được chọn.
Nhóm 10 – H09VT7
20
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
Hình 2.7: Cơ chế báo hiệu Just – Enough – Time
Offset time được tính toán cơ bản dựa trên số nút chuyển mạch trung gian từ
nguồn tới đích và thời gian chuyển mạch của node đích. Offset time được tính là
[1]:
OT = h.δ + ST
Ở đây: h là số nút chuyển mạch trung gian giữa nguồn và đích.
δ là thời gian xử lý tiêu đề burst trên một nút trung gian.

bằng với trễ xử lý tiêu đề. Ta có thể bỏ qua các trễ này trong tính toán. Sơ đồ mới
này được gọi là giao thức chỉ có trễ đích (Only Destination Delay – ODD) và giá trị
trong biểu thức là [5]:
OT = δ + ST
δ,ST là các giá trị trễ tại đích.
*Dự trữ trễ (DR) trong việc sử dụng hiệu quả băng thông:
Dự trữ trễ sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng băng thông. Hình 2.8 minh
hoạ tại sao dự trữ trễ tạo nên sử dụng hiệu quả băng thông.
Giả sử xét tại node X, một gói điều khiển tới và thực hiện dành trước tài nguyên
tại thời điểm t1' và thời điểm bít đầu tiên của burst thứ nhất đến là t1, với t1> t1' .Ta
có khoảng thời gian offset time của burst thứ nhất là: offset time = t1 - t1'.
Cũng giả sử có một gói điều khiển khác (gói điều khiển thứ 2) đến node đang xét
thời điểm t2', tương tự t2 là thời điểm bít đầu tiên của burst thứ 2 đến. Ta có thời
gian trễ của burst này là: offset = t2 - t2'.
Nhóm 10 – H09VT7
22
Chuyên đề thông tin quang CHUYỂN MẠCH BURST QUANG
Hình 2.8: Lợi ích của DR
Để xác định thời điểm đến của Burst thứ nhất (t1) , khi thời gian xử lý gói điều
khiển có thể thay đổi từ node này đến node khác, trong gói điều khiển sẽ cho biết
giá trị thời gian trễ được sử dụng tại node kế tiếp. Giá trị này có thể được cập nhật
dựa trên thời gian xử lý gói điều khiển tại node hiện tại.
Trong chuyển mạch burst quang dựa trên giao thức JET , việc xác định thời điểm
đến của burst t1 là rất quan trọng. Trong giao thức JET độ rộng băng được đăng ký
tới thời điểm t1 +l1, l1 là khoảng thời gian tồn tại của burst thứ 1 , thay vì đến vô
hạn. Điều này sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng băng thông và giảm xác suất loại bỏ
burst .
Như hình ở trên, trong cả hai trường hợp, chúng ta sử dụng giao thức JET và dự
trữ trễ thì burst thứ 2 đến vẫn được phục vụ nếu t1' < t2' < t2+l2 < t1 (trường hợp 1)
hay t1' < t2' < t1+l1 < t2 (trường hợp 2).

gian offset time có thể truyền burst dữ liệu “1” trên cùng một bước sóng mà không
xảy ra tranh chấp. Khi burst dữ liệu “0” kết thúc truyền, kênh truyền sẽ được giải
phóng ngay vì vậy burst dữ liệu “2” có thể được gửi vào mạng OBS ngay khi burst
“0” kết thúc. Trong cơ chế báo hiệu JIT, do sử dụng phương thức dự trữ tài nguyên
tức thì nên trong khoảng thời gian offset time, burst dữ liệu “1” không thể truyền
qua mạng OBS trên cùng bước sóng với burst dữ liệu “0”. Và khi burst dữ liệu “0”
truyền kết thúc thì bản tin giải phóng sẽ được gửi đi từ node nguồn để giải phóng
kênh, trong thời gian giải phóng kênh thì burst dữ liệu “2” không thể truyền qua
mạng OBS được. Như vậy cơ chế báo hiệu Just – In – Time sử dụng băng thông
không hiệu quả như Just – Enough – Time. Trong [4], Jing Teng và George N.
Roukas đã tiến hành mô phỏng và kết quả cho thấy cơ chế báo hiệu JIT cho tỷ lệ
mất burst cao hơn cơ chế báo hiệu JET.
2.3.3 Cơ chế báo hiệu Tell – And – Go (TAG)
Đây là cơ chế báo hiệu dự trữ tài nguyên tức thì và giải phóng tài nguyên rõ ràng.
Trong TAG, gói điều khiển được truyền dẫn trên một kênh điều khiển được theo
sau bởi một burst, trên một kênh dữ liệu với độ lệch bằng không hoặc không đáng
kể. Burst được đệm bằng cách sử dụng đường dây trễ quang (Fiber Delay Line –
FDL) trong khi gói tin điều khiển được xử lý tại mỗi node trung gian. Đặc điểm này
của Tell – And – Go giống với chuyển mạch gói quang. Nếu việc chiếm dụng bước
sóng thành công thì burst được truyền dẫn dọc theo kênh đã chiếm trái lại burst sẽ
bị loại bỏ và một bản tin phủ định báo nhận (NAK – Negative Acknowledgment)
được gửi trở lại nguồn. Node nguồn sẽ gửi một gói điều khiển sau khi truyền dẫn
burst để giải phóng tài nguyên bị chiếm dọc theo tuyến [2].
Nhược điểm cơ bản của phương pháp này là giới hạn về mặt công nghệ của
đường dây trễ quang FDL. FDL có thể làm trễ burst trong một khoảng thời gian cố
định và không thể thích nghi với kích thước burst dữ liệu thay đổi. Cũng như cơ chế
báo hiệu Just – In – Time, TAG không tận dụng tài nguyên hiệu quả do sử dụng dự
trữ tức thì và giải phóng tài nguyên rõ ràng. Khi chưa có bản tin Release, kênh sẽ
không được giải phóng và trong khoảng thời gian giải phóng kênh, kênh sẽ không
được gán cho bất cứ burst nào khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status