ĐỒ ÁN CHUYÊN NGÀNH
ĐỀ TÀI :
ĐỀ TÀI :
Giao thức định tuyến IS-IS và kỹ thuật cấu
Giao thức định tuyến IS-IS và kỹ thuật cấu
hình
hình
Sinh viên thực hiện
Sinh viên thực hiện
: Lê Thị Sơn Ca
: Lê Thị Sơn CaTrần Thị Huyền Thương
Trần Thị Huyền ThươngGVHD
GVHD
: Thầy Nguyễn Thế Xuân Ly
: Thầy Nguyễn Thế Xuân Ly
I. Tổng quan về giao thức IS-IS
•
I.1. Khái niệm:
–
IS-IS tên đầy đủ là Intermediate System to Intermediate
System
–
IS-IS là một giao thức định tuyến IGP, được phát triển vào
thập niên 80 bởi công ty DEC và được đệ trình tới tổ chức
ISO như một giao thức định tuyến cho mô hình OSI.
OSI hỗ trợ 4 level định tuyến:
+ Level 0: dùng để tìm End System và dùng trong End system
tới Intermediate System (ES-IS).
+ Level 1: dùng để trao đổi thông tin trong một Area.
+ Level 2: là backbone giữa các Area.
+ Level 3: được sử dụng giữa Autonomous System (AS) và khu
vực Interdomain Routing Protocol (IDRP).
II. Các level định tuyến: (tt)
•
IS-IS chỉ sử dụng hai level ở giữa: level 1 và level 2.
•
Router có thể ở trong level 1, level 2 hoặc trong cả hai. Router
level 1-2 dùng để kết nối các Area tới Backbone.
•
Mỗi level sử dụng thuật toán Dijkstra’s để chọn đường đi và
hội tụ một cách nhanh chóng
Sự tương đương giữa IS-IS và OSPF
Sự tương đương của IS-IS và OSPF
•
IS-IS dùng CLNS address để xây dựng bảng LSDB. [link
state database]
•
CLNS address đại diện cho một router chạy IS-IS chứ
không phải interface.
•
Hỗ trợ 4 mức level routing, nhưng cisco chỉ hỗ trợ 2
level routing. [trong khu vực và liên khu vực].
+LSP level 1 ~ LSA 1&2 trong OSPF [internal area]
+LSP level2 ~ LSA 3,4,5 trong OSPF [other area]
Trong IS-IS, các Router đều nằm trong Area level 1. Router level 1-2 tương tự như ABR
trong OSPF, nó nằm trong Area level 1 và cũng có các tuyến đường riêng rẽ trên level 2.
IS-IS level 2 có thể băng qua các Area trong level 1. Các Router level 1 phải nằm trong
cùng một Area để trao đổi các tuyến đường và nhận một Default route là một Router
level 1-2. Router level 2 gửi thông tin update về level 2 thông qua Back bone.
RL 1 [sử dụng LSP để xây dựng topology cho khu vực
nó thuộc về ] tương đương router nằm trong một area
ospf nhưng không là backbone.
RL 2 [sử dụng LSP để xây dựng topology giữa các area
khác nhau ] tương đương router backbone trong OSPF
RL1-2 làm chức năng của cả 2 con trên.
Đường màu hồng là backbone, các router nằm trên đường màu
hồng sẽ có thể thấy nhau.
III. Header IS-IS
Trong OSPF header các trường là cố định, khi ta thay đổi thì header phải thay đổi
theo.
Còn đối với IS-IS thì khi ta thêm thay đổi nó chỉ gắn thêm
thông tin vào chứ không cần thay đổi toàn bộ header. Các
trường thêm vào gọi là TLV
Bảng mã gói tin theo cisco
Địa chỉ NSAP. [mỗi router chỉ có một địa chỉ này] :Độ
dài của NSAP addresses từ 8-20 bytes
-AFI: 49 ~ private address
-System ID: giống như router ID bên OSPF dùng để nhận dạng mỗi router.
-NSEL: dùng để nhận dạng services.( Thường router bằng 0.)
-49.0001. là area ID( area address), trong cùng area thì
cần giống để các router mới thành neighbor của nhau.