các hình thức cơ bản của đầu tư quốc tế và thực trạng tại việt nam ( 2013 ) - Pdf 24

1
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU 1
KẾT LUẬN 15
MỞ ĐẦU
Quá trình toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ khiến cho hoạt động đầu tư quốc tế
ngày cũng trở nên phổ biến và sâu sắc hơn. Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2007-2009, các nhà đầu tư quốc tế bắt đầu lo ngại vào thời kỳ bất ổn phía trước và
trở nên thận trọng hơn trong việc ra quyết định. Năm 2012, về bản chất hoạt động đầu
tư quốc tế vẫn không thay đổi nhưng cách thức thực hiện lại tập trung vào chiều sâu
thay vì dàn trải trên chiều rộng. Việt Nam – một quốc gia đang phát triển, với tư cách
là chủ thể nhận đầu tư nhiều hơn là đi đầu tư sang nước khác, cũng không nằm ngoài
xu thế đó.
Để tăng trưởng, kinh tế Việt Nam cần phải thu hút được sự đầu tư của các quốc
gia trên thế giới – với tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện
đại. Với đề tài tiểu luận là “Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng
tại Việt Nam”, nhóm tập trung đưa ra những nét cơ bản, phân biệt giữa các hình thức
đầu tư quốc tế và phân tích thực tiễn tại Việt Nam trong 5 năm qua. Nội dung chính
của tiểu luận gồm 2 phần chính:
Phần 1: Các hình thức cơ bản của đầu tư quốc tế
Phần 2: Thực trạng hoạt động đầu tư quốc tế tại Việt Nam
Do thời gian nghiên cứu có hạn và kiến thức, kinh nghiệm còn nhiều hạn chế
nên bài tiểu luận không thể tránh khỏi thiếu sót. Kính mong tiếp tục nhận được ý kiến
đóng góp của giáo viên hướng dẫn để bài tiểu luận của nhóm hoàn thiện hơn.
Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS, TS Vũ Chí Lộc - Giảng
viên môn Đầu tư Quốc tế, đã tận tình hướng dẫn nhóm để hoàn thành tiểu luận này.
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
2
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

c. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nần
thường không thấy ngay. Một số nước vì mải ham tính ưu đãi của vốn ODA, nhận
ODA không tính toán, lại sử dụng kém hiệu quả nên có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất
thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ.
Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho
xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi
hoạch định chính sách sử dụng vốn ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng
cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
1.3. Phân loại
ODA có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Theo tính chất tài trợ, ODA bao gồm ODA không hoàn lại, ODA có hoàn lại hay
còn gọi là ODA vốn vay và ODA hỗn hợp gồm 1 phần cho không, phần còn lại thực
hiện theo hình thức tín dụng.
Theo mục đích sử dụng, ODA bao gồm hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật.
Theo điều kiện, ODA bao gồm ODA không ràng buộc nước nhận, ODA có ràng
buộc nước nhận bởi nguồn sử dụng hoặc bởi mục đích sử dụng và ODA có ràng buộc
một phần.
Theo nhà cung cấp, ODA được chia thành 2 loại: ODA song phương và ODA đa
phương.
2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI
2.1. Khái niệm
FDI xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác
với ý định quản lý nó. Quyền kiểm soát hay việc tham gia vào việc đưa ra các quyết
định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty là
tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán.
Theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF, FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện
nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một donh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ
của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là
giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, tỉ lệ vốn góp tối thiểu là 30% vốn pháp định hoặc vốn điều lệ, trừ
những trường hợp do chính phủ quy định thì nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn với
tỉ lệ thấp hơn nhưng không dưới 20%. Tỉ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ
hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi
ro cũng được phân chia dụa theo tỉ lệ này.
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư. Đây là thu nhập kinh doanh, không phải lợi tức. Chủ đầu
tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ
lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư,
quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có
lợi nhất cho họ. vì thế, hinh thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
5
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước
nhận đầu tư.
FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên
tiến, học hỏi kinh ngiệm quản lý.
2.3. Phân loại
a. Theo hình thức thâm nhập (Quốc tế)
Hai hình thức chủ yếu là Greenfield Investment (GI) và Cross-border Merger
and Acquisition (M&A), ngoài ra còn có hình thức Brownfield Investment.
*/ Đầu tư mới (Greenfield Investment): là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ
sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất
kinh doanh đã tồn tại. Với loại hình này, nhà đầu tư phải bỏ nhiều tiền để đầu tư,
nghiên cứu thị trường, chi phí liên hệ cơ quan nhà nước và có nhiều rủi ro.
*/Mua lại và sáp nhập qua biên giới (M&A: Cross-border Merger and
Acquisition): là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một

- Chủ đầu tư nước ngoài không nắm quyền kiểm soát trực tiếp đối với tổ chức phát
hành chứng khoán.
- Phạm vi đầu tư chỉ giới hạn trong số các hàng hóa đang lưu thông trên thị trường
chứng khoán của nước nhận đầu tư
- Không thực hiện với mục đích gây ảnh hưởng đáng kể trong quản lý doanh nghiệp
được đầu tư.
- Các nhà đầu tư chủ yếu là các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư tổ chức, các nhà đầu
tư các nhân.
3.3. Phân loại
a. Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào cổ phiếu
- Là hình thức các chủ đầu tư mua cổ phiếu của các công ty, các tổ chức phát hành của
một nước khác ở mức khống chế nhất định nhằm thu lợi nhuận mà các chủ đầu tư
không nắm quyền kiểm soát đối với tổ chức phát hành cổ phiếu đó.
- Hình thức này có ưu điểm là khi doanh nghiệp gặp rủi ro thì các chủ đầu tư ít bị thiệt
hại vì vốn đầu tư được phân tán trong số đông những người mua cổ phiếu.
- Nhà đầu tư được hưởng lợi tùy theo kết quả kinh doanh của công ty phát hành, không
có sự đảm bảo chắc chắn như trái phiếu.
b. Đầu tư gián tiếp nước ngoài qua trái phiếu
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài qua trái phiếu là việc nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn tiền
tệ ra mua trái phiếu để kiếm lời. Các tổ chức lớn như các chính phủ và các tập đoàn là
những người vay lớn nhất trong các thị trường quốc tế.
- Đầu tư trái triếu an toàn hơn đầu tư qua cổ phiếu.
- Đầu tư qua trái phiếu có những điểm bất lợi hơn đầu tư qua cổ phiếu, rất ít công ty có
chương trình tái đầu tư tiền lãi trái phiếu, trong khi nhiều công ty có chương trình tái
đầu tư cổ tức.
4. Tín dụng tư nhân quốc tế (IPL)
4.1. Khái niệm
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
7
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

*Nhược điểm của hình thức là hiệu quả sử dụng vốn thường thấp do bên nước
ngoài không trực tiếp tham gia quản lý đối tượng mà họ vốn đầu tư. Kết cục nhiều
nước đang và chậm phát triển lâm vào tình trạng nợ nần thậm chí không có khả năng
chi trả dẫn đến phụ thuộc vào chủ nợ.
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
8
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

4.3. Phân loại:
a. Căn cứ vào chủ thể tín dụng:
- Tín dụng tư nhân thuần tuý
- Tín dụng hỗn hợp với tín dụng nhà nước: là khoản tín dụng có sự kết hợp giữa
nhà nước và ngân hàng thương mại của nước này cung cấp cho nước khác.
b. Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Tín dụng không có kỳ hạn ấn định trước.
- Tín dụng ngắn hạn: thường gồm những khoản tín dụng thông thường có thời
hạn không quá 1 năm, hoặc 18 tháng, 2 năm tuỳ theo tập quán từng nước.
- Tín dụng trung hạn: gồm những khoàn tín dụng có thời hạn trên loại ngắn hạn
đến 5 hoặc 7 năm.
- Tín dụng dài hạn: gồm những khoàn tín dụng có thời hạn trên loại trung hạn
đến 30-50 năm.
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
9
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
Thực hiện công cuộc Đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo từ năm
1986, trong những năm đầu của thập kỷ 90, Việt Nam đã thoát khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài, đời sống của nhân dân được cải thiện


-Ngân hàng thế giới (WB)
-Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
-Quỹ tiền tệ thế giới (IMF)
-Các tổ chức của liên hợp quốc (UN)
-Các tổ chức phi chính phủ (NGO)
-Các tổ chức phi lợi nhuận (NPO)

Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực giai đoạn 2007- 2011
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
10
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

Ngành, lĩnh vực Vốn (tỷ USD) Tỷ lệ %
1
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, kết hợp
xóa đói giảm nghèo
2,89 15,90
2 Năng lượng và công nghiệp
3,36 22,97
3
Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cấp
thoát nước và phát triển đô thị
6,62 38,32
4
Y tế, môi trường, giáo dục đào tạo,
khoa học kĩ thuật và các ngành khác
4,4 25,48
Tổng cộng
17,28 100

Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
11
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

Ngành Số dự án
Vốn đăng ký (triệu
USD)
Tổng số 1237 19886
Hoạt động kinh doanh bất động sản 33 6827
Công nghiệp chế biến, chế tạo 478 5979
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt 6 2952
Xây dựng 174 1816
Vận tải, kho bãi 20 881
Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy 177 462
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 39 315
Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 9 205
Thông tin và truyền thông 73 106
Các ngành khác….
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Các dự án FDI còn hiệu lực tính đến 2011 phân theo hình thức
TT Hình thức đầu tư Số dự án
Tổng vốn đầu tư
(USD)
Vốn điều lệ
(USD)
1 100% vốn nước ngoài 10.592 127.694,942,777 42,848,075,374
2 Liên doanh 2,644 54,010,610,564 17,856,128,537
3 Hợp đồng BOT, BT, BTO 14 5,857,317,913 1,354,797,469
4 Hợp đồng hợp tác KD 219 5,429,931,329 4,567,036,804
5 Công ty cổ phần 194 4,836,260,833 1,416,573,178

khoảng 400 triệu USD, trong đó có 4 quỹ đại chúng niêm yết ở Anh, Ireland. Đây là
những quỹ mạo hiểm, sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Sau khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ, giá chứng chỉ của các quỹ
này tăng và luôn cao hơn giá trị tài sản ròng. Trong hai năm 1996-1997, do tác động
của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, giá chứng chỉ của 4 quỹ niêm yết giảm mạnh,
mức chiết khấu từ 43,6-47,7% so với giá trị tài sản ròng. Trong giai đoạn này, các
công ty cổ phần hoá ở Việt Nam còn rất hạn chế. Trong thời kỳ 1992-1998, cả nước
chỉ có 38 doanh nghiệp tư nhân được thành lập, 128 doanh nghiệp được cổ phần hoá.
-Giai đoạn 2: (1998-2002): Đây là thời kỳ Việt Nam chịu nhiều tác động từ
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và suy thoái kinh tế toàn cầu. Trong giai đoạn
1998-2002, không có quỹ đầu tư mới nào được thành lập ở Việt Nam. Ngược lại, các
quỹ đầu tư đều có xu hướng rút vốn khỏi Việt Nam. Trong số 7 quỹ được thành lập, có
5 quỹ rút khỏi Việt Nam, 1 quỹ thu hẹp quy mô tới 90%, chỉ còn duy nhất quỹ
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
13
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

Vietnam Enterprise Invesment Fund (Veil) – là quỹ nhỏ nhất trong số 7 quỹ trên, có số
vốn đầu tư 35 triệu USD - còn duy trì hoạt động.
-Giai đoạn 3: (2003-2007): Đây là giai đoạn phục hồi và bùng nổ vốn FPI tại
Việt Nam. Trong giai đoạn này, một loạt các chính sách, nghị định, Luật lệ đã được
ban hành, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, rõ ràng hơn cho dòng vốn
FPI. Hàng loạt các định chế thị trường tài chính, trong đó có việc thành lập Sàn giao
dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (tháng 7/2000) và Sàn giao dịch chứng khoán Hà
Nội (tháng 3/2005), đặc biệt là những chủ trương, quyết tâm của chính phủ trong việc
đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp, nới lỏng tỷ lệ nắm giữ cổ phần, cổ
phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nứơc và trong các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đã khiến dòng vốn FPI vào Việt Nam
tăng mạnh. Vốn FPI vào Việt Nam năm 2007 đạt 7,414 tỷ USD, tăng gấp 5 lần so với
con số 1,313 tỷ USD của năm 2006.

Theo đó, đối với các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà
nước là các chủ thể kinh tế quan trọng trong nền kinh tế, nắm giữ một khối lượng vốn
nhà nước lớn. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước sẽ có những chính sách quản lý thận trọng,
chặt chẽ hoạt động vay nước ngoài tự vay, tự trả của các đối tượng này. Việc quy định
chặt chẽ điều kiện vay nước ngoài của khối doanh nghiệp nhà nước thông qua việc yêu
cầu các cấp có thẩm quyền kiểm soát trước mục đích, phương án vay vốn sẽ giúp sàng
lọc các dự án cần vay nước ngoài, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu
quả.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, phương án vay nước ngoài phải được cấp có
thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà
nước (không phải là ngân hàng thương mại có vốn nhà nước), phương án vay nước
ngoài trung, dài hạn phải có phê duyệt của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước
và ý kiến đồng ý của Bộ Tài chính trước khi ký Thỏa thuận vay nước ngoài trung, dài
hạn.
Đối với các Ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, phương án vay nước
ngoài trung, dài hạn phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận trước khi
ký Thoả thuận vay nước ngoài trung, dài hạn.
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
15
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam

KẾT LUẬN
Nhìn lại hoạt động đầu tư quốc tế tại Việt Nam, dẫu còn những mảng sáng và
tối nhưng nhìn chung xu hướng vận động của nó vẫn mang tính tích cực. Với đường
lối phát triển bền vững, Việt Nam luôn cố gắng định hướng hoạt động đầu tư cho phù
hợp với định hướng Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa. Việc huy động vốn, tiếp thu công
nghệ, học hỏi kinh nghiệm … từ các nhà đầu tư quốc tế là rất cần thiết xong không có
nghĩa là phải kêu gọi đầu tư bằng mọi giá. Mỗi hình thức đầu tư quốc tế đều kéo theo
những điều kiện ràng buộc và khả năng bên nhận đầu tư bị phụ thuộc vào bên đầu tư.
Để thu hút đầu tư hiệu quả, Việt Nam cần tập trung cải thiện môi trường đầu tư,

tiêu
+Bên tài trợ: là các
nước phát triển, muốn
tăng cường vị thế chính
trị, kinh tế
+ Bên nhận tài trợ: là
các nước đang và chậm
phát triển, muốn thúc
đẩy tăng trưởng bền
vững và giảm nghèo
+ Chủ đầu tư nước
ngoài: giành quyền
quản lý doanh
nghiệp tại một nền
kinh tế khác nền
kinh tế nước chủ
đầu tư; tìm kiếm lợi
nhuận
+ Bên nhận đầu tư:
có thêm vốn để
phát triển sản xuất,
tiếp nhận công nghệ
kỹ thuật mới, kinh
nghiệm quản lý tiên
tiến, …
+ Chủ đầu tư
nước ngoài: chỉ
nắm giữ chứng
khoán, không
nắm quyền kiểm

Cách
thức
thực
hiện
+Bên tài trợ: chính phủ
các nước phát triển, tổ
chức liên chính phủ, tổ
chức phi chính phủ, tổ
chức thuộc hệ thống
Liên hợp quốc, tổ chức
tài chính quốc tế
+Bên nhận tài trợ: các
nước đang và chậm
phát triển
Bên tài trợ cho bên
nhận tài trợ các khoản
vay có tính ưu đãi về:
thời gian cho vay, thời
gian ân hạn dài, phần
cho không
+Bên đầu tư: doanh
nghiệp, tư nhân,
hoặc có sự tham gia
góp vốn của Nhà
nước. Thường là
các nhà sản xuất
hàng hóa hoặc dịch
vụ
+Bên nhận đầu tư:
doanh nghiệp đang

Bên đầu tư mua
cổ phiếu, trái
phiếu, … trên
thị trường chứng
khoán
+ Bên cho
vay: nhà
nước, tổ chức
nhà nước, tổ
chức cá nhân,
tổ chức tài
chính
+ Bên vay:
nhà nước, tổ
chức nhà
nước, tổ chức
cá nhân, tổ
chức tài chính
Bên cho vạy
nhượng quyền
sử dụng vốn
của mình sang
một chủ thể ở
nước khác là
bên vay, theo
nguyên tắc
hoàn trả các
vốn gốc và lãi
trong một thời
hạn nhất định

pháp luật.
- Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 của Chính phủ ban hành Quy
chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài
- Quản lý vay nợ, trả nợ trong nước, ngoài nước của Chính phủ, nợ của khu vực
công, nợ quốc gia và nguồn viện trợ quốc tế
- Thông tư số 09/2004/TT-NHNN ngày 21 tháng 12 năm 2004 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp
- Theo dự thảo Nghị định quản lý vay, trả nợ nước ngoài không có bảo lãnh
Chính phủ, phương án vay nước ngoài của Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước
phải được đại diện vốn sở hữu nhà nước phê duyệt và sự đồng ý của Bộ Tài
chính.
Đầu năm 2012, Ngân hàng Nhà nước công bố Thông tư 45/2011/TT_NHNN
quy định về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của tổ chức
tín dụng. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 12/02/2012. Theo đó, tổ chức tín dụng khi
thực hiện cho vay ra nước ngoài phải đáp ứng 8 điều kiện sau:
1. Là tổ chức tín dụng được NHNN cho phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ
ngoại hối trên thị trường quốc tế, bao gồm hoạt động cho vay.
2. Tuân thủ quy định hiện hành của NHNN về tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, các tỷ
lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
3. Có quy trình xét duyệt cho vay ra nước ngoài theo nguyên tắc đảm bảo tính
độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm
định và quyết định cho vay ra nước ngoài.
4. Thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đối với khoản cho
vay ra nước ngoài theo quy định hiện hành của NHNN về phân loại nợ, trích lập
và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ
chức tín dụng.
Lớp Cao học KTTG 18B – Nhóm 4 – (Số thứ tự từ 19 ~24)
19
Tiểu luận: Các hình thức cơ bản của Đầu tư Quốc tế và thực trạng tại Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status