Giải pháp đẩy nhanh tiền trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam - Pdf 24

Phần mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, Đảng ta luôn xác định thành phần
kinh tế nhà nớc phải nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, điều tiết
các thành phần kinh tế khác theo định hớng XHCN. Cùng với quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lý, khu vực kinh tế nhà nớc đã đợc sắp xếp lại và có
nhiều chuyển biến tích cực, giảm đợc gần một nửa số doanh nghiệp, chủ yếu
là các doanh nghiệp địa phơng nhỏ bé hoạt động không hiệu quả. Số lớn
doanh nghiệp còn lại đợc tổ chức lại và từng bớc phát huy quyền tự chủ kinh
doanh làm ăn năng động và có hiệu quả. Nhìn chung, kinh tế nhà nớc đợc đổi
mới một bớc cơ bản, đã và đang phát huy vai trò chủ đạo với nội dung thực
chất hơn theo yêu cầu của cơ chế mới, góp phần thực hiện mục tiêu giữ vững
ổn định và từng bớc phát triển kinh tế - xã hội do đại hội Đảng VI - VII và
VIII đề ra.
Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nớc vẫn còn nhiều
khó khăn, bên cạnh một số doanh nghiệp đã thích ứng với cơ chế mới làm ăn
có hiệu quả, có lãi. Còn lại hầu hết các doanh nghiệp đều làm ăn thua lỗ,
không tơng xứng với số vốn mà nhà nớc bỏ ra, nhiều doanh nghiệp đang đứng
trớc nguy cơ bị phá sản gây gánh nặng cho ngân sách nhà nớc và ảnh hởng
lớn tới nền kinh tế quốc dân. Do đó, nhu cầu hiện nay cần phải tìm ra những
giải pháp hữu hiệu, tìm bớc khắc phục những hạn chế trên.
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc là một chủ trơng đúng đắn của
Đảng và nhà nớc ta trong quá trình tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà
nớc, nó không những khắc phục đợc những khó khăn nêu trên mà còn có khả
năng tạo ra môi trờng cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đây
là yếu tố cơ bản để phát triển nềnkt thị trờng. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà
nớc, đã đợc Đảng và Nhà nớc ta để ra từ rất sớm sau đổi mới (từ những năm
92) tới nay đã đợc một số kết quả nhất định. Tuy nhiên trong quá trình triển
khai thực hiện đã vấp phải nhiều khó khăn, khiến cho nó không tiến triển kịp
với yêu cầu và kế hoạch đề ra.
Việc bài viết này đa ra đề tài Giải pháp để đẩy nhanh tiến trình cổ
phần hóa các doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam với mục đích có thể đa ra

khác.
Nhóm ý kiến thứ hai lại cho rằng Cổ phần hóa là nhằm xác định chủ sở
hữu cụ thể đối với doanh nghiệp. Theo họ, trớc đây khi doanh nghiệp còn là
DNNN thì việc xác định chủ sở hữu là không rõ ràng, khi doanh nghiệp đó
chuyển thành công ty cổ phần thì các cổ đông chính là chủ sở hữu của công
ty cổ phần.
Nhóm ý kiến thứ ba thì cho rằng Thực chất cổ phần hóa là quá trình xã
hội hóa doanh nghiệp nhà nớc.
Nhìn chung, mỗi nhóm quan điểm trên đây đã đa ra đợc một vài khía
cạnh nào đó về vấn đề cổ phần hóa.
Để có một cái nhìn tổng quan về vấn đề cổ phần hóa DNNN, ta có thể
hiểu Cổ phần hóa DNNN là qua chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản, vốn
và quyền quản lý DNNN sang các thành phần kinh tế khác dới dạng công ty
cổ phần.
* Công ty cổ phần - hình thức kinh doanh phổ biến trong nền kinh tế
thị trờng.
Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với quá trình phát
triển của nền sản xuất hàng hóa- nền kinh tế thị trờng. Quá trình hình thành
và phát triển công ty cổ phần trải qua các giai đoạn sau:
Hình thái kinh doanh một chủ: Đây là hình thái phổ biến thống trị trong
nền sản xuất hàng hóa nhỏ và trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa t bản cạnh
tranh tự do. Phơng thức kinh doanh này có đặc điểm, ngời sở hữu đồng thời là
ngời lao động và ngời đó chỉ có thể làm giàu bằng lao động của chính mình,
do vậy sự phát triển sản xuất có đợc rất chậm chạp, quy mô mở rộng từ từ tùy
theo sự phát triển của thị trờng địa phơng và khu vực.
Hình thái kinh doanh chung vốn. Khi sản xuất phát triển, quy mô ngày
càng mở rộng đòi hỏi cần có nguồn vốn đầu t lớn dẫn tới sự ra đời hình thức
kinh doanh chung vốn. Xét về mặt lịch sử, đó là bớc tiến hóa trong chế độ tín
dụng từ phơng thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mợn sang phơng thức
kinh doanh chủ yếu dựa vào góp vốn. Vì vậy, xét về mặt sở hữu, hình thái

tế nhiều thành phần, là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu của một đơn vị
kinh tế quốc doanh nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế cao hơn.
Cổ phần hóa kinh tế quốc doanh hiện nay đang trở thành bức thiết và
Nhà nớc ta coi đó là chủ trơng lớn trong chính sách cải cách kinh tế đất nớc.
Khái niệm chung về cổ phần hóa và mục tiêu của nó đã đợc giới thiệu
trên nhiều báo chí. Trong bài này, chúng tôi xin đề cập đến những điều kiện
và bớc đi tiến hành cổ phần hóa.
Nói chung về nguyên tắc, các DNNN đăng ký kinh doanh theo nghị định
388/HĐBT đều có thể tiến hành cổ phần hóa. Tuy nhiên trong điều kiện nớc ta
hiện nay, với mục tiêu đã nêu ở trên, những doanh nghiệp có đủ các yếu tố
sau đây sẽ là đối tợng tốt để thực hiện cổ phần hóa.
Thứ nhất là, nhng doanh nghiệp có quy mô vừa (không quá lớn, mà cũng
không quá nhỏ). Quá lớn khó tìm đủ cổ đông. Quá nhỏ mang tính chất
không bõ công. Thế nào là quy mô vừa? Việc phân loại ở mức tơng đối.
Vận dụng kinh nghiệm của các nớc vào nớc ta cho thấy để tiến hành cổ phần
hóa có hiệu quả đối với các doanh nghiệp, cần bảo đảm:
- Vốn cổ phần không dới 500 triệ đồng
- Số ngời mua cổ phiếu (số cổ đông) cho phép bán hết cổ phiếu của
doanh nghiệp. Điều này đặt ra vấn đề khi tiến hành cổ phần hóa phải dự tính
đợc số lợng cổ phiếu bán ra cần thiết.
Thứ hai, các đơn vị kinh tế quốc doanh không nằm trong danh mục nhà
nớc cần đầu t 100% vốn.
Thứ ba, Những DNNN làm ăn có lãi thực, hoặc trớc mắt tuy không có
lãi, gặp khó khăn, song có thị trờng ổn định và phát triển, hứa hẹn một tơng
lai tốt đẹp. Có mấy lý do để chọn đơn vị làm ăn có lãi và có tơng lai hứa hẹn
để cổ phần hóa.
Một là nếu làm ăn thua lỗ thì sẽ không ai mua khi bán. Ngời mua cổ
phần hy vọng vào tính sinh lợi của đồng vốn trong tơng lai của doanh nghiệp.
Tơng lai đầy hứa hẹn sẽ có sức hấp dẫn đối với những ngời muốn trở thành cổ
đông của doanh nghiệp.

độ công hữu về t liệu sản xuất mà nhà nớc là đại điện, coi đó là nền tảng kinh
tế để xóa bỏ sự phân hóa giàu nghèo, bất công trong xã hội do cơ chế thị tr-
ờng và chế độ t hữu gây ra và xây dựng một xã hội công bằng do nhân dân lao
động làm chủ.
ở các nớc đang phát triển. Sau khi đã thoát khỏi chế độ thực dân kiểu cũ
và giành đợc độc lập về chính trị, thì sự can thệp trực tiếp của nhà nớc thông
qua quốc hữu hóa các cơ sở kinh tế của t bản nớc ngoài và xây dựng các cơ sở
công nghiệp quốc doanh trở nên rất phổ biến. Khu vực kinh tế nulà công cụ
quan trọng để nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế chống lại sự phát triển
mạnh mẽ của CNTB với chế độ t hữu đợc coi là nguyên nhân của sự nghèo
khổ, bất bình đẳng, sự bóc lột và áp bức thực dân.
Nh vậy, sự tồn tại của kinh tế nhà nớc ở hầu hết các nớc trên thế giới và
vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân chứng tỏ sự cần thiết
khách quan của khu vực kinh tế này trong bối cảnh kinh tế hiện đại. Khi các
hoạt động quản lý vĩ mô đòi hỏi nhà nớc phải đóng vai trò ngày càng lớn
trong nền kinh tế. Có thể nói, khu vực kinh tế nhà nớc giữ vai trò nh một công
cụ kinh tế của nhà nớc, vừa thực hiện chức năng kinh tế vừa làm một phần
chức năng xã hội, góp phần thực hiện sự tăng trởng và ổn định nền kinh tế
mỗi nớc.
ở nớc ta, sau đại hội VI (1986) chúng ta đã chuyển từ cơ chế tập trung,
bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
XHCN, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Tuy nhiên Đảng ta
luôn xác định kinh tế nhà nớc là thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân đảm bảo định hớng xã hội chủ nghĩa.
I.3.2. Thực trạng khu vực kinh tế nhà nớc ở nớc hiện nay
Cũng giống nh các nớc XHCN, trớc đây chúng ta thực hiệ mô hình kế
hoạch hóa tập trung, lấy việc mở rộng và phát triển kinh tế nhà nớc bao trùm
tàon bộ nền kinh tế quốc dân, làm mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, khu vực kinh tế nhà nớc đã đợc phát triển một
cách nhanh chóng rộng khắp trong tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng

dân thờng cao gấp hai lần so với kinh tế t nhân.
Mức tiêu hao vật chất của các DNNN trong sản xuất cho một giá trị đơn
vị tổng sản phẩm xã hội ở nớc ta thờng cao cấp 1,3 lần so với mức trung bình
trên thế giới.
- Chất lợng sản phẩm của nhiều doanh nghiệp nhà nớc rất thấp và không
ổn định. Trung bình khu vực kinh tế nhà nớc chỉ có khoảng 15% đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu, 20% số sản phẩm kém chất lợng. Dó đó, hiện tợng hàng hóa
ứ đọng với khối lợng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lu động của toàn xã hội.
- Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế nhà nớc rất thấp. Ví dụ, hệ số sinh
lời của vốn lu động tính chung chỉ đạt 7%/năm trong đó ngành giao thông đạt
2%/năm, ngành công nghiệp đạt khoảng 3%/ năm, ngành thơng nghiệp đạt
22%/năm.
- Hiệu quả khai thác vốn đầu t của khu vực kinh tế nhà nớc hết sức thấp.
Cụ thể là trong mấy năm gần đây, hàng năm nhà nớc giành vốn 70% vốn đầu
t ngân sách của toàn xã hội cho các doanh nghiệp nhà nớc, tuy nhiên chúng
chỉ tạo ra đợc từ 34%-35% tổng sản phẩm xã hội. Hơn nữa khu vực này lại sử
dụng hầu hết lao động có trình độ đại học, công nhân kỹ thuật.
- Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm tỉ trọng lớn. Theo số liệu thống kê
thì trong số 12.084 cơ sở quốc doanh thì có tới 4.584 đơn vị sản xuất kinh
doanh thua lỗ, chiếm 34% tổng số các doanh nghiệp nhà nớc. Trong đó, quốc
doanh trung ơng có 501 cơ sở thua lỗ, bằng 29,6% số cơ sở trung ơng quản lý;
Quốc doanh địa phơng có 4.083 cơ sở thua lỗ chiếm 39,95 số đơn vị do địa
phơng quản lý. Các số liệu trên cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các doanh
nghiệp nhà nớc đã gây tổng thất rất nặng nề cho ngân sách nhà nớc và là một
trong những nguyên nhân gây ra việc bội chi ngân sách trong những năm
qua. Nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự hoạt động kém hiệu quả của khu vực kinh
tế nhà nớc là do cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp mấy chục năm qua.
Trớc đây do đất nớc có chiến tranh, nền kinh tế đợc quản lý sẽ đảm bảo huy
động ở mức cao nhất mọi tiềm lực cho kháng chiến thắng lợi mà không cần
tính tới hiệu quả. Tuy nhiên, khi đất nớc chuyển sang thời kỳ hòa bình thì việc

ngân sách nhà nớc. Tuy nhiên qua kinh nghiệm của một số nớc đã tiến hành,
thì việc t nhân hóa đều gặp phải những trở ngại sau:
Các chính phủ chỉ muốn bán những xí nghiệp hoạt động không có hiệu
quả, thua lỗ kéo dài với các điều kiện và giá cả do chính phủ đặt ra, nên
không hấp dẫn ngời mua, do đó việc thực hiện kế hoạch t nhân hóa gặp nhiều
khó khăn và thờng không đạt đợc dự tính mong muốn.
Trong xã hội, thờng chỉ có một số ít ngời mới có khả năng mua cỏ phần
của các xí nghiệp hóa giá, vì vậy trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trờng. Khi mà môi trờng pháp lý cũng nh môi trờng kinh doanh còn cha hoàn
thiện nh ở nớc ta thì thờng dẫn tới tình trạng độc quyền hóa của một số ít ng-
ời.
ở các nớc đang phát triển, do sự hạn chế về nguồn vốn trong nớc nên
các xí nghiệp hóa thờng rơi vào các công ty t bản độc quyền của các nớc t bản
phát triển, tạo điều kiện cho t bản nớc ngoài thâm nhập sâu vào nền kinh tế
làm cho nguồn tài nguyên, lao động bị vơ vét và bóc lột.
Ngoài ra t nhân hóa còn làm suy yếu đi khu vực kinh tế nhà nớc. Do đó,
trong hoàn cảnh kinh tế nớc ta, thì việc t nhân hóa là khâu phù hợp.
Liên doanh với nớc ngoài là hình thức liên kết, hợp tác giữa các doanh
nghiệp trong nớc với các nhà t bản nớc ngoài. ở nớc ta từ khi thực hiện chính
sách mở cửa, hình thái này đã đợc phát triển nhanh chóng và đóng góp một
phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiếnno đã bộc
lộ những măt hạn chế trong quá trình triển khai. ở nớc ta, để thấy đợc u thế
hơn hẳn của hình thức cổ phần hóa với liên doanh với nớc ngoài ta đi so sánh
sự khác nhau của chúng.
Công ty cổ phần Công ty liên doanh
1. Trong trờng hợp cổ đông không
đồng tình với phơng án làm ăn của
công ty, họ có thể bán cổ phần cho
ngời khác, nhng điều đó không ảnh
hởng tới hoạt động của công ty.

- Có sự liên tục và không hạn định về thời gian hoạt động.
- Có sự phân tán cao độ rủi ro mạo hiểm.
Nh vậy trong ba phơng án trên, ta thấy cổ phần hóa là phơng án tối u vừa
nâng cao hiệu quả sản xuất vừa củng cố vai trò của các doanh nghiệp nhà nớc
trong nền kinh tế quốc dân, phù hợp với đờng lối xây dựng đất nớc mà Đảng
ta đã đề ra. Sở dĩ nh vậy là vì cổ phần hóa DNNN ở nớc ta hiện nay có vai trò
quan trọng nh sau:
Nếu xét trên phạm vi doanh nghiệp:
Cổ phần hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và thu hút vốn
cho các DNNN. Các doanh nghiệp nhà nớc hiện đang thiếu vốn nghiêm
trọng. Trong khi đó nhà nớc đang bội chi ngân sách, không thể và cũng
không nên tiếp tục bao cấp vốn cho một khu vực làm ăn kém hiệu quả nh vậy.
Cổ phần hóa sẽ huy động các nguồn vốn quản lý trong xã hội một cách nhanh
chóng để phát triển sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì
nguồn vốn dồi dào trong dân c sẽ đổ vào nơi có lợi nhuận cao, làm cho các
doanh nghiệp cổ phần hóa ngày càng có nguồn vốn lớn để trang bị kỹ thuật,
mở rộng sản xuất. Đồng thời nguồn vốn ngày càng đợc sử dụng tốt lại tạo
điều kiện cho doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu liên tục. Các doanh
nghiệp khi đã cổ phần hóa sẽ liên doanh đợc với các doanh nghiệp trong và
ngoài nớc từ đó sẽ thu hút đợc nhiều vốn hơn nữa.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNNN. Trớc đây,
trong cơ chế quan liêu bao cấp, các DNNN đợc nhà nớc bao cấp hoàn toàn,
hoạt động dới sự kiểm soát trực tiếp của nhà nớc do đó không phát huy đợc
tính năng động sáng tạo của các doanh nghiệp dẫn tới thực trạng là hầu hết
các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Khi chuyển sang cơ chế thị trờng, trong các
doanh nghiệp đã đợc hoạt động tự chủ hơn nhng do buông lỏng quản lý dẫn
tới tệ nạn tham nhũng, lãng phí ảnh hởng lớn tới nền kinh tế, xã hội. Khi các
doanh nghiệp nhà nớc đã chuyển sang các công ty cổ phần đã khắc phục đợc
những khuyết điểm trên. Để thấy rõ vấn đề ta thử xem xét cấu trúc quản lý và
kiểm soát của công ty cổ phần qua sơ đồ sau:

Phòng
chuyên
môn
Phòng
chuyên
môn
Phòng
chuyên
môn
Phòng
chuyên
môn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status