1
2
LỜI NÓI ĐẦU
“Bạn bè là vốn quý của mỗi người” – và một quốc gia thì lại cần phải có “bạn
bè” hơn bao giờ hết. Bởi lẽ, đứng về phương diện cá nhân, ngoài bạn bè ta còn có cha
mẹ; anh chị - những người sẽ giúp đỡ chúng ta khi gặp khó khăn… Nhưng với một
quốc gia, chỉ có thể là “bạn bè” mà thôi. Chính vì lẽ đó mà ngay từ buổi đầu thành
lập nhà nước Văn Lang, ta đã chú trọng xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các nước
láng giềng lân cận. Quan điểm đó được các triều đại tiếp theo phát huy và trở thành
đường lối đối ngoại của nhà nước Việt Nam ta hiện nay. Từ “Việt Nam sẵn sàng làm
bạn…” đến “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới” (theo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng Cộng sản Việt Nam) là cả một bước tiến dài trong tư duy và đổi mới. Cho đến
nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 171 quốc gia thuộc tất cả các châu
lục (Wikimedia), bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn trên thế giới.
Mối quan hệ ngoại giao hữu nghị ấy được chủ trương xây dựng trên tất cả các mặt:
văn hóa, chính trị, xã hôi, kinh tế… để có thể bổ sung hổ trợ cho nhau.
Đứng ở góc độ kinh tế, thương mại giữa các nước đem lại lợi ích nhiều hơn cho
mỗi quốc gia và đời sống kinh tế có được nâng lên thì đời sống tinh thần mới ngày
một phong phú. Thương mại giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần giải quyết vốn, công ăn việc làm,
sử dụng nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả. Không chỉ thể thông qua hoạt động
nhập khẩu nước ta có thể tiếp cận được nguồn công nghệ tiên tiến, hiện đại và nhất là
có thể tiếp cận cho sự phát triển của sản xuất, đặc biệt sản xuất cho xuất khẩu. Do đó,
việc nghiên cứu các mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước là điều hết
sức cần thiết; bởi thông qua nghiên cứu những mối quan hệ đó ta có thể tìm ra hướng
đi mới hay cách điều chỉnh mới, đem lại sự tăng trưởng kinh tế cao hơn, bền vững
hơn cho Việt Nam. Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “nghiên cứu các mối quan hệ
thương mại giữa Việt Nam và các nước”
3
Đề tài sẽ được triển khai từ cái nhìn tổng quan về những mối quan hệ thương mại
công ty xuất nhập khẩu quốc doanh mới có quyền tham gia hoạt động xuất nhập
5
khẩu; do đó mối quan hệ là hạn hẹp. Thị trường chủ yếu của Việt Nam là các nước Xã
hội chủ nghĩa, chiếm đến 70% kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, còn lại với
các nước Tây Âu, châu Á rất hạn chế.
Bảng 1: Tình hình thị trường XNK của VN thời kì 1975 – 1989
• Tình hình xuất khẩu sang các thị trường:
Nước Tỷ trọng (%)
Liên Xô
Nhật Bản
Singapore
HongKong
BaLan
Các nước khác
44,1
10,6
7,0
7,0
5,2
26,1
• Tình hình nhập khẩu từ các thị trường:
Nước Tỷ trọng (%)
Liên Xô
Nhật Bản
Pháp
Tiệp Khắc
Các nước khác
67,1
6,7
2,7
2. ASEAN
3. Trung Quốc
4. Đài Loan
5. HongKong
6. Hàn Quốc
7. Liên bang Nga
8. EU
9. Mỹ
10.Các nước khác
2,85
18,0
7,4
5,4
4,9
2,2
2,2
12,0
1,0
18,4
Chỉ trong một giai đoạn ngắn, đã có sự thay đổi đáng kể trong đối tác kinh tế, và
một số đối tác trong bảng trên cho đến nay vẫn là những đối tác quan trong trong kinh
tế quốc tế của Việt Nam.
Giai đoạn 1996 trở đi là thời kỳ Việt Nam đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế
với các nước khác trong khu vực và trên thế giới thông qua việc ký kết và thực hiện
các hiệp định đa phương: AFTA, APEC và các hiệp định thương mại song phương
quan trọng như với Nhật Bản, Mỹ… Các hiệp định này đã đem lại những thuận lợi
Biểu 1: thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991 - 1995
8
lớn cho việc xúc tiến quan hệ thương mại hơn nữa với các nước. Cơ cấu thị trường
xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam đã thay đổi, các nước công nghiệp phát triển trở
thương đối với Việt Nam. Cụ thể là: năm 1826, Tổng lãnh sự Mỹ tại Batavia
(Indonesia) là John Shillaber thúc giục chính phủ Mỹ cố gắng thiết lập quan hệ với
Việt Nam, và năm 1832, đặc sứ Edmund Robert được Ngoại trưởng Mỹ bấy giờ là
Edwar Livingston cử sang Việt Nam để kí kết hiệp ước thương mại với Nam Kì, tuy
nhiên, do chính sách “bế quang tỏa cảng” với các nước phương Tây của nhà Nguyễn
mà quốc thư của tổng thống Hoa Kỳ không đến được với vua Minh Mạng. Sự thất
bại này tuy vậy lại đánh dấu bước đầu mối quan hệ giao thương chính thức giữa hai
nước.
Năm 1836, một lần nữa phái đoàn từ Mỹ do E. Robert cử sang mặc dù lại thất
bại, tuy nhiên nó cho thấy sự mong muốn của phía Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ ngoại
giao đối với Việt Nam – mối quan hệ của hai quốc gia có chủ quyền.
Sau sự cố chiến hạm USS Constitution tấn công đại bác vào hải phận Việt Nam,
phía Hoa Kỳ đã có những động thái tích cực nhằm bày tỏ sự xin lỗi. Như việc gửi
cho đặc sứ Mỹ tại Đông Nam Á bày tỏ sự hối tiếc và khẳng định mong muốn thiết
lập quan hệ hòa bình và thương mại của phía Hoa Kỳ. Năm 1849, tổng thống
Z.Taylor đã gửi thư xin lỗi về hành vi bất nhã của Percival đồng thời phái đặc sứ
Balestier đến Việt Nam để đàm phán hiệp ước thương mại.
10
Như đã nói, rất nhiều động thái tích cực từ phía Mỹ đã gặp thất bại ở Việt Nam,
tuy nhiên, mãi đến sau khi liên tiếp thất bại trong cuộc đối đầu với Pháp, Tự Đức mới
chuyển hướng quan tâm về phía Hoa Kỳ, cụ thể là tháng 8/1873, Bùi Viện đã đến
Hoa Kỳ để bày tỏ ý muốn phía Hoa Kỳ giúp đỡ Việt Nam, song vì không thể hiện
tinh thần thiện chí trong chuyến đi (không có quốc thư mà đi tay không), Bùi Viện đã
gặp thất bại. Hơn nữa tình hình chính trị đổi khác giữa Mỹ và Pháp đã khiến cho
chúng ta không còn cơ hội.
Tháng 9/1888, Hoa Kỳ mở một cơ quan đại diện cho quyền lợi của Mỹ tại Việt
Nam và Đông Dương tại Sài Gòn do Aimee Fonsales đứng đầu – cơ quan này tồn tại
đến 1940. Tuy nhiên, quan hệ thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam chỉ dừng tại đó đến
trước chiến tranh thứ Hai mà hầu như không có gì đáng kể.
Sang đến Thế chiến thứ Hai, phía Hoa Kỳ mới có động thái trở lại với Đông
chính phủ hai nước đi đến bình thường hóa quan hệ. Nhưng kịch bản cũ đã lặp lại,
phía Hoa Kỳ dường như phớt lờ lời đề nghị từ phía Việt Nam. Có những ý kiến rất
khác nhau về việc chúng ta từ chối nhận đợt viện trợ 3,25 tỷ đô la Mỹ khiến cho tình
hình càng tồi tệ hơn là dường như không hợp lý. Những lời đề nghị một cách rất
thiện chí từ phía Hoa Kỳ như: hợp tác về vấn đề MIA (lính Mỹ mất tích trong chiến
tranh), đồng ý cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, và quan trọng hơn là đề nghị
giúp đỡ Việt Nam trong việc giao thương.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải chú ý đến bề chìm vấn đề đó là phía Hoa Kỳ
chưa có quyết định xóa bỏ chính sách cấm vận (Embargo) đối với phía Việt Nam và
chưa cho chúng ta được hưởng Tối huệ quốc MFN (tạm gọi chung là tự do buôn bán
mà không chịu mức thuế quan phân biệt). Và trên thực tế là mùa thu 1978, Hoa Kỳ đã
chủ động rút lui trước khi có bất kỳ thỏa thuận nào giữa hai bên.
12
Có thế nói, giai đoạn từ thế kỷ XIX đến trước 1990, quan hệ Việt Nam chưa đạt
những thành tựu tích cực mà có họa chăng là những lần căng thẳng, và trách nhiệm
chúng ta đều biết là do lỗi của Hoa Kỳ.
Chỉ cho mãi đến khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình địa chính trị trên thế
giới thay đổi theo chiều hướng đối thoại thay cho đối đầu thì tình hình quan hệ của
Việt Nam và các nước mới thay đổi và đặc biệt là đối với Hoa Kỳ.
Đó là giai đoạn trước và sau khi thiết lập bình thường hóa quan hệ, và kí hiệp
định thương mại vào tháng 7 năm 1995.
2.2. Quan hệ thương mại Việt Nam – Mỹ trước khi có Hiệp định thương mại:
Khi tiến hành đổi mới, mục tiêu phát triển dựa vào kim ngạch hàng xuất khẩu
rất được Đảng ta chú trọng.
Với chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nền kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã chủ trương mở rộng các quan hệ kinh tế đối
ngoại, trong đó có Hoa Kỳ - một thị trường trọng điểm, là nơi tiêu thụ khổng lồ có
nền công nghệ kỹ thuật hiện đại và có nguồn vốn dồi dào vào bậc nhất thế giới. Mỹ
luôn coi Việt Nam là thị trường đông dân đầy tiềm năng để tiêu thụ các măt hàng
công nghiệp, và là thị trường sản xuất hàng nông, thủy sản đầy tiềm năng của thị
1997 286,60 388,50 675,10 +101,90
1998 274,10 554,10 282,20 +280,00
1999 291,50 608,30 899,80 +316,80
2000 367,60 821,40 1.189,00 +453,80
2001
(tháng 1-5)
196,30 325,30 521,60 +129,00
Tổng số 2.469,2 3.278,9 5.748,10 +809,7
Nguồn: Tổng hợp số liệu của US Census Bureau, Foreign Trade Division
Số liệu thống kê của Bộ Thương mại Mỹ (xem bảng trên) cho thấy, hai năm
1992 và 1993 Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ lượng hàng hóa rất ít với giá trị chỉ đạt 4.5
triệu USD vào năm 1992 và 7 triệu USD vào năm 1993. Từ đó đến 1996, Việt Nam
luôn nhập siêu (nhập gấp đôi so với xuất). Có tình trạng này là do Việt Nam chưa
14
được ưu đãi về thuế quan, nên hàng hóa Việt Nam khó cạnh tranh được với hàng hóa
của các nước khác trên đất Mỹ. Trong khi đó hàng Mỹ vào Việt Nam được hưởng
quy chế bình đẳng, ngang bằng như các nước khác, với cùng mức thuế nhập khẩu,
không phân biệt xuất xứ. Hơn nữa, hai bên chưa có những hiểu biết tốt về thị trường
và luật pháp của nhau, chưa có những biên pháp hữu hiệu để tăng cường xuất nhập
khẩu.
Tuy nhiên, từ 1997 trở đi, VN luôn có thặng dư thương mại với Mỹ, năm 1997
là 101.9 triệu USD, năm 2000 là 453.8 triệu USD. Năm tháng đầu năm 2001, VN có
xuất siêu với Mỹ 129 triệu USD. Qua biểu 1 cho thấy từ 1992 – 5/2001, VN xuất siêu
sang Mỹ với tổng giá trị 809.7 triệu USD.
2.2.2. Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam:
Cơ cấu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ thể hiện trình độ phát triển
kinh tế thấp của nước ta thời bấy giờ
Bảng 4: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Mỹ
Đơn vị tính: Triệu USD
Mặt hàng 1995 1996 1997 1998 1999 2000
2.2.3. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam:
Với một nền kinh tế phát triển, Mỹ có khả năng cung cấp cho Việt Nam rất
nhiều loại hàng hóa quan trọng, từ máy móc thiết bị đến nguyên liệu cần thiết. Mở
rộng quan hệ với Mỹ, Việt Nam có thể nhập trực tiếp các loại hàng hóa đó. Thực tế
khi Mỹ nới lỏng và bỏ cấm vận, số lượng chủng loại và mặt hàng Việt Nam nhập từ
Mỹ đã tăng lên nhanh chóng. Năm 1993, mới có 4 nhóm hàng được xuất sang VN,
1994 đã tăng lên tới 35 nhóm
Xét về cơ cấu hàng nhập khẩu từ Mỹ, nhóm máy móc thiết bị nói chung chiếm
phần lớn trong kim ngạch nhập khẩu. Điều này phản ánh nhu cầu nhập khẩu phục vụ
phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam và cơ cấu xuất khẩu của Mỹ.
Kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng này năm 1994 đạt 41,82 triệu USD, chiếm tỷ
16
trọng 24,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ, năm 1995 đạt 64,58 triệu USD, chiếm
25,62% tổng kim ngạch. Năm 1997, 1998 kim ngạch nhập khẩu luôn giữ ở mức ổn
định trên 80 triệu USD. Đến năm 1999, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này tăng
lên 111,33 triệu USD, chiếm tỷ trọng 40,16% kim ngạch nhập khẩu.
Một số mặt hàng nhập lớn nhất lúc đó là: bông, phân bón, phương tiện giao
thông vận tải. Ngoài các mặt hàng quan trọng trên đây, Việt Nam còn nhập dược
phẩm, hóa chất, nguyên phụ liệu dệt may, nguyên phụ liệu dược phẩm, chất dẻo, dầu
mỡ động thực vật, đường, kính xây dựng, thuốc trừ sâu và nguyên liệu… Những mặt
hàng này có tổng kim ngạch khá lớn, 113,7 triệu USD năm 1997; 105,7 triệu USD
năm 1999.
Như vậy, bên cạnh là một thị trường tiêu thụ lớn, Mỹ cũng là nguồn cung cấp
những thiết bị hiện đại và hàng tiêu dùng đa dạng cho Việt Nam. Sau khi Hiệp định
thương mại được ký kết, đã phát huy được tác dụng của nó và tạo nên những bước
tiến lớn trong quan hệ thương mại Việt – Mỹ.
2.3. Quan hệ Việt Nam – Mỹ sau khi có Hiệp định thương mại:
Kể từ khi Hiệp định Thương mại Song phương Hoa Kỳ - Việt Nam được ký kết
năm 2001, quan hệ thương mại giữa hai nước đã có những bước tiến rõ rệt. Kim
ngạch thương mại hai chiều từ năm 2001 đến nay tăng hơn 10 lần và đạt gần 15 tỷ
Việt Nam. Tuy nhiên, sự tăng trưởng không nhanh như hàng Việt Nam vào Mỹ.
Bảng 6: Thống kê mặt hàng XK sang thị trường Hoa Kỳ trong tháng 1/2010
18
ĐVT: USD
T1/2010 T1/2009
So sánh với
T1/09 (%)
So sánh với
T12/09 (%)
Tổng kim ngạch 1.006.403.178 791.025.416 27,23 -10,51
Hàng dệt, may 468.230.883 393.677.654 18,94 -4,52
Gỗ và sản phẩm gỗ 113.915.183 69.457.826 64,01 -3,87
Giày dép các loại 94.443.434 86.334.289 9,39 -16,51
Hàng thuỷ sản 47.860.314 31.236.691 53,22 -21,48
Máy vi tính, sản phẩm
điện tử và linh kiện 39.727.508 24.519.434 62,02 11,29
Dầu thô 32.791.640 39.875.000 -17,76 -42,82
Cà phê 23.536.990 22.567.991 4,29 -4,14
Túi xách, ví,vali, mũ và
ôdù 21.025.681 14.169.031 48,39 -12,68
Hạt điều 18.005.651 16.245.372 10,84 -10,66
Máy móc, thiết bị,dụng
cụ phụ tùng khác 16.303.465 9.119.995 78,77 -40,28
Phương tiện vận tải và
phụ tùng 11.648.764 3.845.637 202,91 -16,20
Dây điệnvà dây cáp điện 10.305.056 4.475.910 130,23 -13,50
Sản phẩm từ sắt thép 6.786.892 3.695.227 83,67 -16,64
Sản phẩm từ chất dẻo 6.654.004 9.105.793 -26,93 -4,69
Thuỷ tinh và các sản
phẩm từ thuỷ tinh 4.433.700 2.186.908 102,74 16,04
47,9% với kim ngạch 646,9 nghìn USD; nguyên phụ liệu thuốc lá giảm 69,87% , đạt
614,8 nghìn USD; lúa mì giảm 40,61% đạt 291,6 nghìn USD; bánh kẹo và các sản
phẩm từ ngũ cốc giảm 22,73% đạt 162,8 nghìn USD.
Bảng 7: Thống kê NK hàng hoá của Việt Nam từ thị trường Mỹ tháng 1/2009
ĐVT: USD
Tháng 1/2010 Tháng 1/2009
% so tháng
12/2009
% so tháng
1/2009
Máy móc, thiết bị, dụng
cụ, phụ tùng khác 55.978.492 24.717.889 -37,77 126,47
20
Thức ăn gia súc và
nguyên liệu 26.955.017 2.791.852 9,95 865,49
Dầu mỡ động thực vật 20.693.945 6302,10
Bông các loại 19.077.442 11.726.146 34,87 62,69
Gỗ và sản phẩm gỗ 12.207.832 5.327.676 3,26 129,14
Chất dẻo nguyên liệu 11.069.562 3.119.080 2,37 254,90
ôtô nguyên chiếc các loại 9.301.302 10.282.959 -82,11 -9,55
Sản phẩm hoá chất 8.751.873 2.662.159 -8,07 228,75
Máy vi tính, sản phẩm
điện tử và linh kiện 8.463.210 6.081.048 -0,26 39,17
Sữa và sản phẩm sữa 8.391.186 3.611.915 244,29 132,32
Hoá chất 7.761.120 704.179 -4,56 1002,15
Nguyên phụ liệu dệt may,
da, giày 7.169.739 3.408.682 -38,61 110,34
Hàng rau quả 3.357.076 2.695.418 2,53 24,55
Dược phẩm 2.456.420 1.344.580 -13,16 82,69
Sản phẩm từ sắt thép 2.408.948 767.734 -12,66 213,77
Bên cạnh những thành tựu thương mại to lớn, những khó khăn và thách thức
luôn tồn tại đối với Việt Nam khi thâm nhập vào một thị trường lớn như Hoa Kỳ, đó
là những đòi hỏi cao về kỹ thuật cũng như chất lượng hàng hóa, đồng thời cũng là
những cuộc chiến thương mại không ngừng, mà điển hình là các vụ kiện bán phá giá
của Mỹ về cá basa, tôm, da giày và gần đây nhất là túi nhựa PE. Đây chính là những
khó khăn và bài học kinh nghiệm cho các nhà xuất khẩu của Việt Nam khi hướng vào
thị trường nước Mỹ và là cơ hội để Việt Nam tiếp tục phát triển và hoàn thiện mình.
2.4. Thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện quan hệ thương mại hai nước:
2.4.1. Thuận lợi:
- Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới. Mỹ nhập nhiều mặt hàng mà
Việt Nam có lợi thế xuất khẩu: hàng dệt may, thủy sản, sản phẩm gỗ, giày dép, đồ thủ
công.
- Các Hiệp định thương mại đã ký, việc Việt Nam được hưởng quy chế tối huệ
quốc (MFN) với mức thuế thấp tạo cánh cửa mở rộng cho hàng hóa Việt Nam vào thị
trường Mỹ.
- Các tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội ngành hàng của Mỹ có những
chương trình phổ biến thông tin về thị trường Mỹ cho các doanh nghiệp Việt Nam,
qua đó các doanh nghiệp dễ dàng nắm lấy và đề xuất những giải pháp đẩy mạnh xuất
khẩu.
2.4.2. Khó khăn:
22
- Nước Mỹ có hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý hàng nhập khẩu rất phức
tạp. Đó là cản trở lớn đối với hàng hóa của Việt Nam, nhưng đứng ở góc độ khác, đây
cũng là điều kiện để Việt Nam tích cực cải tiến chất lượng hàng hóa.
- Tính cạnh tranh của thị trường Mỹ rất cao
- Hàng rào bảo hộ thị trường nội địa của Mỹ hết sức tinh vi, bằng chứng là
nhiều lần Việt Nam đã bị Mỹ kiện bán phá giá và thua kiện. Ta cần nâng cao hơn nữa
tầm hiểu biết và nắm vững cách thức hoạt động của Mỹ.
- Thị trường xa cách về địa lý, chi phí kinh doanh lớn…
Chương 3:
3.2. Cơ cấu thương mại giữa hai nước:
Về xuất nhập khẩu chính ngạch: từ năm 1991 đến nay kim ngạch XNK giữa
hai nước tăng đều qua các năm. Đặc biệt, năm 2000, tổng kim ngạch XNK đạt 2.957
24
triệu USD, tăng 78 lần so với năm 1991, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang
Trung Quốc đạt 1.534 triệu USD.
Bảng 8: Tình hình xuất nhập khẩu giữa VN và Trung Quốc
ĐVT: triệu USD
Năm VN xuất sang TQ VN nhập từ TQ
Cán cân thương mại
(+) xuất siêu, (-) nhập siêu
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
8
19
96
136
296
361,9
340
474
Quốc với tổng nhập siêu của cả nước
ĐVT: triệu USD
Năm 2001 2006 2007 2008 2009 KH
25
Chỉ tiêu 2010
VN XK sang TQ 1.418 3.030 3.356 4.536 4.781 5.000
VN NK từ TQ 1.629 7.309 12.502 17.123 15.970 16.800
VN nhập siêu (NS) 210 4.360 9.145 12.587 11.190 11.300
Tỷ lệ NS 14,8% 143,9 % 272,5% 277,5 % 234 % 226%
XK của cả nước 15.029 39.826 48387 62.685 56.584 60.544
NK của cả nước 16.217 44.891 60.783 80.714 68.830 72.660
Cả nước NS 1.118 5.065 12.398 18.031 12.246 12.016
Tỷ lệ NS của cả
nước
7,9% 12,7% 25,6% 28,8% 21,6% 19,8%
Tỷ trọng NS từ TQ/
NS của cả nước
18,7% 86,0% 73,76% 69,8% 97,1% 94,4%
(Nguồn: Nguyễn Duy Nghĩa, nguyên phó văn phòng Bộ Thương mại tự lập biểu theo
số liệu của Bộ Thương mại, Bộ Công Thương).
Bảng số liệu cho ta một cái nhìn khác về thương mại hai nước:
- Nhập siêu từ thị trường Trung Quốc ngày càng lớn cả về giá trị và tỷ lệ tương
đối.
- Tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc luôn lớn hơn tỷ lệ nhập siêu của cả nước
- Nhập siêu từ Trung Quốc chiếm phần lớn tổng nhập siêu của Việt Nam
- Khó thu hẹp nhập siêu
Hiện nay, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn
nhiều khác biệt:
- Hàng hoá của Việt Nam xuất sang Trung Quốc gồm 4 nhóm chính:
• Nhóm hàng nguyên liệu: than đá, dầu thô, quặng kim loại, các loại dầu,