ủy ban dân tộc
***
báo cáo kết quả
dự án: Điều tra khảo sát, xây dựng báo cáo
tổng quan hiện trạng môi trờng
vùng dân tộc và miền núi
_________
Cơ quan quản lý: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện: Viện Dân tộc
Chủ nhiệm: TS. Phan Văn Hùng 6958
15/9/2008
2 Từng bớc kiện toàn cơ quan làm công tác BVMT 53
Phần III Hiện trạng môi trờng vùng dân tộc và miền núi
54
1 Hiện trạng môi trờng 54
1.1 Hiện trạng môi trờng nớc 54
1.2
Hiện trạng môi trờng đất 59
1.3 Rừng và đa dạng sinh học 65
1.4 Vệ sinh môi trờng nông thôn 80
1.5 Các sự cố môi trờng 83
1.6 Môi trờng đô thị và khu công nghiệp 95
1.7 Môi trờng không khí 106
1.8
ảnh hởng của môi trờng đến sức khoẻ ĐBDTTS
106
2 Một số vấn đề cấp bách về môi trờng trong vùng dân
tộc và miền núi hiện nay
116
3 Nguyên nhân của suy thoái môi trờng vùng DT-MN 121
Phần IV Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị
127
1 Bối cảnh tình hình 127
2 Mục tiêu 129
3 Những định hớng u tiên 130
3.1 Định hớng chung cho toàn vùng DTTS & MN 130
3.2 Định hớng cho một số vùng 131
4 Một số giải pháp 133
5 Một số chơng trình, dự án u tiên 140
Kết luận và kiến nghị
143
trên 23 triệu ngời sinh sống, đợc xem là nơi có vị trí đặc biệt quan trọng
đối với môi trờng cả n
ớc bởi nó lu giữ các thảm thực vật, động vật phong
phú, với trên 90% tổng diện tích rừng cả nớc, trên 70% loài động vật và hơn
90% loài thực vật quý hiếm; là nơi lu giữ và cung cấp nguồn sinh thủy cho
cả nớc; là nơi có tác dụng duy trì cân bằng sinh thái và tạo điều kiện cho
hầu hết các lĩnh vực sản xuất, đời sống của quốc gia.
Thực hiện Luật bảo vệ môi trờng, hằng năm các bộ, ngành và địa
phơng đều đã tiến hành xây dựng Báo cáo Đánh giá hiện trạng môi trờng
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
4
của ngành và địa phơng. Những năm qua, môi trờng vùng dân tộc và miền
núi nớc ta đã và đang có nhiều thay đổi nhanh chóng. Tuy nhiên, đến nay
nớc ta cha có báo cáo đánh giá hiện trạng toàn diện môi trờng vùng dân
tộc và miền núi. Chính vì vậy, hiện nay rất thiếu thông tin về môi trờng
trong quá trình xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chiến lợc phát triển toàn
diện các vùng dân tộc và miền núi. Để cung cấp có hệ thống những thông tin
cơ bản, đầy đủ về môi trờng cho các cơ quan quản lý trong thời gian tới, Bộ
trởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc đã cho phép thực hiện dự án: Điều tra,
khảo sát xây dựng báo cáo tổng quan hiện trạng môi trờng vùng dân tộc và
miền núi.
2. Mục tiêu của Dự án
Điều tra, khảo sát thu thập thông tin về những yếu tố cơ bản tác động
đến môi trờng, hiện trạng môi trờng, đề xuất các giải pháp bảo vệ môi
trờng vùng dân tộc và miền núi trong thời gian tới.
3. Phạm vi và phơng pháp thực hiện dự án
3.1. Giới hạn và phạm vi:
Kiểm lâm. Quá trình hội thảo các sở, ban, ngành có báo cáo khoa học theo
chuyên đề.
+ Tổ chức các buổi làm việc với lãnh đạo, cán bộ chuyên trách bảo vệ
môi trờng ở các huyện miền núi, nơi đoàn đến nghiên cứu, khảo sát.
+ Tổ chức hội thảo khoa học, lấy ý kiến tham gia vào báo cáo kết quả
thực hiện dự án ở Hà Nội .
Phơng pháp điền dã dân tộc học
Dự án tiến hành các nghiên cứu tại thực địa, tiến hành quan sát, ghi
chép, chụp ảnh thực trạng môi trờng thôn bản.
Điều tra định lợng
Dự án đã tiến hành điều tra định lợng bằng phiếu, tổng số 300 phiếu,
tại 05 tỉnh, nhằm thu thập thông tin định lợng từ các hộ gia đình.
Phỏng vấn sâu
Dự án tiến hành các cuộc họp nhóm, phỏng vấn sâu tại 05 bản, thuộc
05 tỉnh dự án đã khảo sát, đối tợng là những ngời cao tuổi, ngời có uy tín,
già làng, trởng bản, thanh niên, phụ nữ.
4. Nội dung của dự án
4.1. Thu thập thông tin liên quan đến hiện trạng môi trờng ở vùng dân
tộc và miền núi.
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
6
Thu thập thông tin cơ bản về biến động của tự nhiên và kinh tế xã hội
tác động đến môi trờng vùng dân tộc và miền núi
4.2. Điều tra, khảo sát hiện trạng môi trờng vùng dân tộc và miền núi
Hiện trạng môi trờng nớc
Hiện trạng môi trờng đất
Rừng và đa dạng sinh học
Vệ sinh môi trờng nông thôn
Th ký Dự án: CN. Bùi Anh Thơ, Viện Dân tộc
Th ký Dự án: CN. Nguyễn Thị Nhiên, Viện Dân tộc
6. Đơn vị phối hợp
Một số đơn vị thuộc các Bộ, ngành liên quan: Vụ Quản lý Khoa học
các ngành kinh tế kĩ thuật, Bộ Khoa học và Công nghệ; Cục Môi trờng,
Vụ Môi trờng, Bộ Tài nguyên và Môi trờng; Văn phòng Phát triển bền
vững Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu t
Một số cơ quan nghiên cứu: Viện Sinh thái và Tài nguyên, Trung tâm
Môi trờng sinh thái, Đại học KHXH & NV, Trung tâm Tài nguyên và Môi
trờng, Câu Lạc bộ Lâm nghiệp Việt Nam
Các sở Khoa học và Công nghệ, sở Tài nguyên và Môi trờng, Ban
Dân tộc, sở Nông nghiệp và PTNT, sở Công nghiệp, Chi cục kiểm lâm thuộc
các tỉnh vùng dân tộc và miền núi.
7. Sản phẩm của dự án
Theo Quyết định của Bộ trởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc, sản
phẩm của dự án bao gồm:
Bản Báo cáo Tổng quan hiện trạng môi trờng vùng dân tộc và miền
núi.
Báo cáo tóm tắt.
Phụ lục hệ thống các tài liệu, số liệu liên quan.
Tập kỷ yếu các chuyên đề
8. Nội dung báo cáo chính của dự án
Phần mở đầu
Phần I. Những tác động của tự nhiên, kinh tế, xã hội đến môi trờng
vùng dân tộc và miền núi
Phần II. Hoạt động bảo vệ môi trờng vùng dân tộc và miền núi
Phần III. Hiện trạng môi trờng vùng dân tộc và miền núi
Phần III. Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị
Kết luận
nớc, thủy lực, gỗ, củi, các động vật hoang dã, cây thuốc và nhiều tài nguyên
khoáng sản cho cho phát triển kinh tế đất nớc ta.
Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân c- tộc ngời của
các vùng dân tộc thiểu số và miền núi thể hiện theo các vùng tiêu biểu:
Vùng Đông Bắc:
Đây là vùng rộng lớn với diện tích 63.629 km
2
(chiếm 20% diện tích cả
nớc) bao gồm 11 tỉnh Hà Giang, Bao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Cạn,
Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang.
Vùng Đông Bắc là nơi có rất nhiều tài nguyên, khoáng sản, chiếm vị trí thứ
nhất trong cả nớc, với chủng loại phong phú và trữ lợng lớn nh than đá, ti
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
9
tan, đồng, apatít, graphít, thiếc v.v Vùng Đông Bắc của Tổ quốc cũng có
nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp với nhiều cây công nghiệp và chăn
nuôi đại gia súc. Tiềm năng du lịch của vùng cũng rất lớn: Có vịnh Hạ Long
đợc công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, có nhiều khu rừng quốc gia có
giá trị lớn, nhiều di tích lịch sử nh Chi Lăng, Pắc Bó, Tân Trào
Dọc theo biên giới Đông Bắc có đờng biên giới giáp Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa với chiều dài 1.145 km, với nhiều cửa khẩu quốc tế quan
trọng, có điều kiện thuận lợi trong việc giao lu kinh tế, văn hoá.
Về dân c tộc ngời, vùng Đông Bắc có tới 38 dân tộc anh em cùng
chung sống (theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, toàn vùng có
9.358.300 ngời, c dân các dân tộc thiểu số chiếm 41,3% dân số của vùng,
trong đó đông nhất là dân tộc Tày (chiếm 12,4%), Nùng (7,3%).
Vùng Tây Bắc:
Bao gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện biên, Sơn La, Hoà Bình. Vùng Tây Bắc
có đờng biên giới giáp Lào (600km) và với Trung Quốc (300km). Đây là
10,55% dân số của vùng). Tuy tỷ lệ dân số các dân tộc thiểu số ít, nhng nơi
đây có nhiều dân tộc rất ít ngời và có hoàn cảnh kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn nh: Dân tộc Rục c trú tại Quảng Bình và Hà Tĩnh, có số dân là
3.829 ngời, dân tộc Ơ Đu ở Tơng Dơng, Nghệ An chỉ có 301 ngời, dân
tộc Đan Lai sống trong vùng lõi khu bảo tồn Pù Mát, chỉ có 2.600 ngời,
Vùng miền núi duyên hải Nam Trung bộ: Trải dài khoảng 1.000 km từ
phía Nam đèo Hải Vân đến Bình Thuận, vùng núi duyên hải Nam Trung bộ
có diện tích rừng chiếm khoảng 21% diện tích rừng cả nớc, với khá nhiều
gỗ quý thuộc vùng rừng Quảng Nam, Bình Thuận. Địa hình và khí hậu khá
phức tạp. Thuận lợi lớn của vùng là có nhiều cảng lớn (Đà Nẵng, Chu Lai,
Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh. Trong toàn vùng có 535.481 ngời thuộc
đồng bào các dân tộc thiểu số (chiếm 6,62% dân số của vùng). Hiện nay, tốc
độ phát triển kinh tế của vùng còn chậm, tỷ lệ đói nghèo còn cao trong vùng
đồng bào dân tộc.
Vùng Tây Nguyên: Đây là địa bàn thuộc 5 tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông,
Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, với diện tích tự nhiên có 54.473 km
2
, đất đai
màu mỡ rất thích hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị kinh
tế cao nh cà phê, cao su, mía đờng. Tài nguyên rừng của Tây Nguyên cũng
rất đa dạng. Độ che phủ của rừng là 54%, với trữ lợng 289 triệu m
3
gỗ, tiềm
năng thuỷ điện của Tây Nguyên cũng rất lớn.
Dân số Tây Nguyên là 4.758.900 ngời trong đó dân tộc thiểu số có
1.349.307, chiếm khoảng 30% dân số toàn vùng với hơn 40 dân tộc cùng
sinh sống, với văn hoá tộc ngời rất đa dạng.
Vùng miền núi Đông Nam bộ: Bao gồm các huyện, xã miền núi các tỉnh
Bà rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Phớc. Đây là vùng đất đai màu mỡ có
điều kiện để phát triển cây công nghiệp: cao su, cà phê, hạt điều v.v Hệ
xử với môi trờng tự nhiên xã hội ; đợc hoàn thiện dần và truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác bằng truyền khẩu trong gia đình, làng bản qua hình
thức ca hát, ngạn ngữ, trờng ca, luật tục
Chúng ta có thể bắt gặp rất phong phú, đa dạng các yếu tố của các loại
hình văn hóa trên gắn với vấn đề bảo vệ môi trờng của đồng bào các tộc
ngời thiểu số nớc ta. Ngời Thái có Lệ mờng quy định rất cụ thể các
hình phạt đói với những ngời ăn cắp có liên quan đến sở hữu các nguồn lợi
thiên nhiên thuộc sử dụng chung của cộng đồng : Ai tranh chỗ săn dơi hay
thung lũng chăn nai phải phạt 15 lạng bạc, kèm theo rợu, trâu, phải cúng vía
cho cho chủ săn 1,5 lạng bạc. Nếu đợc thịt thì phải trả lại số thịt bắn đợc
cho chủ chỗ săn ; Ai ăn cắp mỏ tôm phải phạt 15 lạng bạc, kèm theo rợu,
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
12
trâu, lợn, phải cúng vía cho chủ hang 1,5 lạng bạc và phải trả lại số tôm đã
lấy; Ai ăn cắp tổ ong trên cây phải phạt 3 lạng bạc, kèm theo rơụ, lợn,
phải cúng vía cho chủ ong 5 đồng cân bạc và trả lại chỗ ong đã lấy
(Lệ mờng của ngời Thái Mai Châu, Hòa Bình)
Ngời Hmông trong lễ ăn ớc (Nào xồng) thờng mở đầu bằng lễ
cúng thần Thổ địa - thần chung của bản, vị thần có khả năng chi phối cuộc
sống của cộng đồng. Trong lễ cúng ngời chủ lễ khẳng định lại quy ớc của
cộng đồng trong việc quy định cụ thể các nội dung liên quan đến yêu cầu
bảo vệ mùa màng, chăn thả gia súc, khai thác rừng, bảo vệ nguồn nớc. Đặc
biệt đối với việc bảo vệ rừng ngời Hmông quy định riêng và nghiêm ngặt.
Đối với khu rừng cấm không ai có quyền làm nơng rẫy hoặc khai thác gỗ.
Nếu vì công trình công cộng nh làm đập nớc, cầu cong thì phải đợc sự
đồng ý của toàn bản. Nếu ai tự đốn gỗ rừng cấm thì phải nộp phạt rợu, lợn
và phải cúng thần rừng Đối với nguồn nớc ngời Hmông cũng rất coi
trọng và có những quy định nghiêm ngặt để bảo vệ nguồn nớc của cộng
đồng. Không ai đợc làm bẩn đầu nguồn nớc nh tắm giặt, rửa các thứ dơ
nghiệp. Vấn đề ở đây là hiện tợng đó đợc hình thành và xử lý nh thế nào
trong mối quan hệ giữa con ngời và tự nhiên theo một công thức hay tỷ
lệ khai thác nào đó mà con ngời không bị thiên nhiên bắt trả giá - nói cách
khác đó chính là yếu tố của của các loại hình văn hóa hoạt động kinh tế
trong sự tác động vào tài nguyên, vào môi trờng thiên nhiên của các cộng
tộc ngời ở nớc ta.
Trong hoạt động kinh tế ngoài yếu tố trên các tộc ngời miền núi
nớc ta còn hình thành một hệ thống kỹ thuật canh tác phù hợp với từng loại
đất nơng, đất dốc, thung lũng cũng nh sự tơng thích của các loại cây
trồng, vật nuôi. điều đó thể hiện sự nhận thức sâu sắc của các cộng đồng đói
với môi trờng. Đó là kinh nghiệm trong chọn mùa đất nơng, sử dụng gậy
chọc lỗ trên đất dốc, để gieo hạt và chống xói mòn, trôi rửa đất màu
Trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt của vùng cao núi đá Hà
Giang, ngời Hmông trắng huyện Đồng Văn tạo ra cách thích nghi với môi
tr
ờng để trồng trọt và chăn nuôi, đợc nhiều nhà nghiên cứu về môi trờng
và văn hóa đánh giá rất cao. Lối canh tác thổ canh hốc đá (canh tác trong
hộc đá) . Trong môi trờng núi đá vôi, đá nhiều hiếm đất, ngời Hmông
trắng ở Đồng Văn đã chắt chiu trồng ngô trong hốc đá, vào mùa khô sau khi
thu hoạch đồng bào lại trồng đậu răng ngựa, rau, một số cây lanh với diện
tích rất hạn chế. Chăn nuôi thì có dê, bò ngựa, lợn, gia cầm. PGS.TS.Lê
Trọng Cúc có lý khi nhận xét trong cái nhìn môi trờng đối với ngời
Hmông huyện Đồng Văn: Họ đã tìm ra đợc một chu trình trồng xen canh,
luân canh ngô, rau, đậu ổn định. Họ đã xây dựng nên một nền văn hóa ẩm
thực mèn mén phù hợp với điều kiện sinh thái đặc thù. Đây là một phơng
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
14
thức canh tác kết hợp có trình độ cao, sử dụng rất hợp lý tài nguyên đất rất
eo hẹp trên núi đá vôi. Sự kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, chọn giống cây
hoá khoảng 10 - 12 năm mới canh tác lại. Trên rẫy trồng xen canh gối vụ
thờng trồng kê, ý dĩ, bầu, bí, rau, đậu, cây có củ đặc biệt là loại kê chân vịt.
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
15
Họ dùng gậy chọc lỗ tra hạt và các dụng cụ thô sơ dao rựa, nạo cỏ để làm
rẫy.
Ngời Ra glai trong kỹ thuật canh tác. Họ phân thành 2 loại rẫy theo thế
đất : Kra là đất thấp vùng thấp gần chần đồi thờng trồng xen canh đậu, bầu,
bí Apổ là đất vùng cao là loại rẫy chính dùng canh tác cả bắp, đậu, bầu, bí,
cây ăn trái Mùa rẫy bắt đầu từ khâu phát cây sau khi đã chọn đợc khu đất
tốt vào khoảng tháng 2 -3 dơng lịch, thì họ bắt đầu tiến hành phát cây và
đốt để gieo trồng. Công cụ chủ yếu là dao, rựa để phát rẫy, khi gieo hạt thì
dùng gậy để chọc lỗ và tra hạt. Họ cũng rất chú ý khi chọn rẫy thờng chọn
gần nơi c trú, thuận tiên cho canh tác và thu hoạch. Nghiêm cấm không
đợc phát nơng rẫy ở những khu rừng thiêng, rừng ma, rừng cấm, rừng đầu
nguồn
Canh tác nơng rẫy là hoạt động trồng trọt truyền thống chính yếu của
hầu hết các tộc ngời thiểu số Tây Nguyên. Tuy có những khác biệt nhất
định về kỹ thuật, phản ánh sắc thái địa phơng và tộc ngời, nhng quy trình
canh tác rẫy ở các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tơng đối thống nhất, bao
gồm các công đoạn thốt thiểu sau: chọn rẫy, phát rẫy, đốt và dọn rẫy, gieo
trỉa, chăm sóc và thu hoạch, các công đoạn này đều liên quan đến môi
trờng, các yếu tố của môi trờng nh đất, rừng Ngoài những nguyên tắc
và tập tục chung nh trên, mỗi dân tộc, mỗi vùng đều có những kinh nghiệm
khác nhau trong việc chọn địa hình, chất đất, hình thể của đất rẫy. Nhìn
chung, rẫy có độ dốc 10
0
đến 30
0
thờng đợc xen canh với nhau thành ba nhóm: Nhóm cây lơng thực bao
gồm lúa, ngô; nhóm cây thực phẩm bao gồm bầu, bí, cà , da, mớp, ớt,
rau, ; và nhóm cây tiêu dùng bao gồm bông, lanh, thuốc lá. Căn cứ vào hiện
trạng, trên những đám rẫy ở Tây Nguyên thấy có ba kiểu xen canh chủ yếu
là: Cây trồng chính là lúa, xen canh với lúa là tất cả các loại cây trồng còn
lại; cây trồng chính là ngô, xen canh với ngô là tất cả các cây còn lại, trừ cây
lúa là cây đợc trồng thành rẫy riêng; cây trồng chính là lúa, xen với lúa chỉ
là ngô Kỹ thuật xen canh và đa canh trên cùng một đám rẫy là ứng xử hợp
lý của ngời dân Tây Nguyên nhằm bảo vệ đất trồng. Xen canh nhiều loại
cây trồng bảo đảm cho đất luôn có một lớp thực bì phủ kín, vừa hạn chế cỏ
dại, tăng chất mùn, giữ độ ẩm cho đất, vừa giảm xói mòn đất do ma, góp
phần ổn định năng suất cây trồng.
Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên tồn tại hình thức chuyển canh
luân khoảnh khép kín, còn đợc gọi là du canh khép kín. Đây là hình thức
quay vòng đất trong đó, ng
ời ta lần lợt luân canh các đám rẫy theo thâm
niên một đến hai năm bỏ hoá một lần, để rồi, cứ sau một số năm nhất định,
lại quay về khai phá trên đám thứ nhất, khi ấy đã mọc lại rừng, đất đai đã
khôi phục lại độ màu mỡ, mở đầu cho vòng quay mới. Khoảng thời gian một
đám rẫy đợc khai phá từ lần trớc đến lần sau gọi là chu kỳ khép kín của
đất rẫy. Tuỳ điều kiện tự nhiên và dân c mà chu kỳ khép kín của rẫy ở từng
vùng dài ngắn khác nhau. Yêu cầu đặt ra là chu kỳ này cần không dài quá và
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
17
cũng không ngắn quá, vì dài quá thì đất hu canh nhiều, mức độ quảng canh
lớn, rẫy sẽ nằm xa nhà, và ngắn quá thì rừng sẽ không kịp mọc lại. Trớc
đây, ở Tây Nguyên, chu kỳ quay vòng rẫy thờng khoảng 10 năm với đất
trồng một vụ bỏ hoá và khoảng 20 năm đối với đất trồng hai vụ bỏ hoá. Có
thể khẳng định rằng, chuyển canh luân khoảnh khép kín giữ vai trò đặc biệt
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
18
gian nhiều năm, đồng bào không dùng sức kéo gia súc để cày bừa vì theo
phong tục, trâu, bò là vật hiến sinh, dùng trâu, bò cày kéo là xúc phạm đến
thần linh, sẽ khiến thần sét giận mà gây cháy làng; không dám dùng phân
bón ruộng vì sợ làm bẩn lúa và đất trồng, theo tín ngỡng, sẽ khiến thần đất
giận mà gây mất mùa; không dám dùng liềm, hái gặt lúa, vì theo tín ngỡng,
sợ hồn lúa đau, sẽ giận mà bỏ đi; ngại khai phá những nơi có thể làm ruộng
nớc, là những nơi trũng, ẩm thấp và um tùm, theo quan niệm, cũng là nơi
trú ngụ của thần sụt lở (yang tnác theo cách gọi của ngời Ba na), sẽ gây
động đất.
Chăn nuôi là một hoạt động sản xuất có tầm quan trọng đáng chú ý
trong đời sống ngời Tây Nguyên. Tuy nhiên với kiểu chăn nuôi gia súc, gia
cầm thả rông, khi trâu, bò, gà bị bệnh, thờng gây ra dịch lây lan, làm thiệt
hại rất lớn và ảnh hởng xấu đến môi trờng nh không khí có mùi khó chịu,
nớc bị nhiễm bẩn bởi phân gia súc, gia cầm Do vậy, luật tục các dân tộc
đều có những điều luật quy định nghiêm ngặt, khi gia súc bị dịch thì phải
trình báo cho chủ làng buôn, phải chăm sóc và cách ly gia súc bị bệnh, nếu
để lây lan sẽ bị phạt tội.
Một số tộc ngời ở Tây Nguyên, vấn đề sở hữu nguồn tài nguyên thiên
nhiên liên quan trực tiếp đến 2 phơng diện: xác định các quan hệ sở hữu đối
với nguồn tài nguyên thiên nhiên ; xác định quan hệ sở hữu liên quan trực
tiếp tới các hình thức tổ chức sản xuất và phân phối nguồn của cải vật chất
mà con ngời tạo ra ; có thể quy vào 2 phạm vi: sở hữu tập thể và sở hữu cá
thể. Từng cộng đồng làng sở hữu tập thể về lãnh thổ mà mình sinh tụ: mỗi
làng đều có một địa vực nhất định, dân làng là chủ nhân trên đó và quyền sở
hữu này đợc kế tiếp qua các đời. Giữa 2 làng cạnh nhau, ranh giới đất đai
đợc hình thành và duy trì bền vững, lấy những vật chuẩn tự nhiên làm mốc:
dòng suối, ngọn núi, con đờng, tảng đá lớn, cây cổ thụ với một lễ cúng
thì hai bên thoả thuận với nhau, chủ làng, chủ họ quyết định và nhất thiết
phải đợc thần linh đồng ý bằng báo mộng. Nếu thần linh phản đối bằng các
điềm (mơ thấy hạt gạo, rắn bò qua ) thì không đợc thực hiện việc trao đổi.
Trong thời gian hu canh, đất rừng vẫn thuộc về ngời đợc phân chia,
không coi đó là đất vô chủ, không ai đợc xâm phạm. Những ngời vi phạm
quyền sử dụng tài nguyên phải đa ra xét xử và phải phạt theo luật tục. Khi
có sự tranh chấp về tài nguyên hai bên phải tự hoà giải, nếu không, phải đa
ra làng xét xử. Trờng hợp này dẫu giải quyết ra sao thì mỗi bên đều có nộp
phạt. Có dân tộc quy định nếu 2 bên không chấp nhận biện pháp của ban luật
tục thì làng thu hồi làm của công. Đã là ngời trong làng, ai cũng có quyền
làm ăn sinh sống trên lãnh thổ làng. Nhng đối với ngời ngoài làng muốn
xâm canh, muốn đến c ngụ, muốn vào săn bắn, đánh bắt cá, lấy gỗ đều
phải xin phép trớc và nộp lễ vật bằng lợn, gà, gạo, rợu Nếu tự tiện hoặc
bất chấp sự phản đối của làng chủ quản, việc khai thác hay thâm nhập trái
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
20
tập tục sẽ bị trừng phạt nặng để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ quyền sở hữu của
cộng đồng làng.
Một trong những yếu tố cần chú ý thuộc sở hữu của cộng đồng buôn
làng là rừng. Trớc hết, đối với những khu rừng, nh rừng thiêng, rừng ma,
rừng đầu nguồn, quyền sở hữu tối cao thuộc về tập thể cộng đồng. Luật tục
các dân tộc Ê đê, Mnông, Cơ ho, Xơ đăng, Ba na, Gia rai đều quy định:
không đợc chặt cây cối, không phát rẫy, không đốt lửa, không đợc săn thú,
không đợc chăn thả trâu, bò trong những khu rừng này. Ai vi phạm sẽ bị
làng phạt. Qua những vi phạm và hình phạt ta có thể thấy đợc tầm quan
trọng của những khu rừng đó đối với dân bản. Đây là những khu rừng thờng
có cây to, sống lâu năm và rất nhiều cây gỗ quý. Nh vậy, những quy định
cấm khai thác ở những khu rừng này đã góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ đất
nhất, mặc dù những quy định về bảo vệ rừng đợc xuất phát từ những lý do
rừng đầu nguồn, cấm làm bẩn nguồn nớc, có nhiều nơi đợc linh thiêng
hoá, nh lễ cúng máng nớc của dân tộc Ra glaiTrong canh tác thì ngời
Chăm ở vùng thấp và ngời Hrê, có kinh nghiệm trong việc bảo vệ nớc rất
tốt. Ngời Chăm và ngời Hrê canh tác ở những vùng thấp, ở các thung lũng
gần chân núi, họ biết tận dụng điều kiện tự nhiên ở vùng thấp này để canh
tác ruộng nớc, biết đắp bờ quanh ruộng để giữ nớc. Việc canh tác ruộng
nớc, thì nguồn nớc chiếm vai trò rất quan trọng trong canh tác vì vậy họ ý
thức đợc việc bảo vệ nguồn nớcLuật tục của Raglai (Khánh Hoà) quy
định bảo vệ nguồn nớc nh sau: Cấm làm nhà nơi nguồn nớc, nơi có mạch
nớc ngầm mạch phun, ỉa đái làm ngập hầm cua hang cá lóc hầm cua
hang cá lóc đợc hiểu là mạch ngầm, luôn có nớc quanh năm; ngời Ra
glai cho rằng nếu có ngời nào làm dơ bẩn nơi mạch n
ớc ngầm trong sạch
đó thì sẽ khiến cho ngời bị phù thũng to bụng, tả lỵ, bủng beo
Ngời Chăm có ý thức đợc việc phải bảo vệ rừng cây để chắn gió và
bão cát, cải tạo đấthọ không bao giờ chặt cây hay những rặng phi lao ở ven
biển và họ luôn ý thức đợc phải trồng cây ở nơi ven biển. Có đặc thù của họ
là làm nhà thấp và xung quanh nhà trồng cây để chống bão cátMột số
sống giáp với các tỉnh Tây Nguyên sống ở phía cao hơn so với dân tộc Chăm
ở khu vực này nh dân tộc thiểu số Ra glai, Co, Hrê, Xơ đănghọ canh tác
nơng rẫy ý thức đợc việc bảo vệ rừng là rất quan trọng. Trong quá trình lao
động sản xuất họ đã đúc kết đợc một số kinh nghiệm trong việc bảo vệ
rừng. Đến vụ mùa canh tác nơng rẫy các dân tộc thiểu số ở đây, khi phát
đốt rừng làm rẫy họ tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định. Công việc đốt
nơng đòi hỏi phải cẩn thận vì rừng nhiệt đới vốn nhiều tầng, nhiều lớp thì
việc chặt cây nào trớc, phát cây nào sau không thể làm tuỳ tiện. Bao giờ
cũng thực hiện theo nguyên tắc những cây thấp đợc phát trớc; sau đó
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
22
nháikhông đợc mang về nhà ăn, nếu ăn khiến cháy bắp lúa, ghẻ lở phong
độc tới ngời, và không đợc săn bắn Ngời Co có kinh nghiệm trong việc
bảo tồn và phát triển giống quế đặc sản của địa phơng. Ngời Co trồng quế
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
23
bằng phơng pháp ơm hạt chứ không cuốc hố bỏ hạt, chiết cành và tái sinh
chồi nh các c dân trồng quế ở miền Bắc.
Trong ăn ở, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều tri thức
kinh nghiệm liên quan đến môi trờng đợc hình thành từ lâu đời. Già làng
hoặc hội đồng làng là ngời đại diện cho chủ quyền sở hữu của mọi thành
viên trong làng có nhiệm vụ quản lý về mọi mặt. Có một số vùng, ngời
cùng quản lý với già làng là chủ hộ: Tài nguyên thiên nhiên đợc cộng đồng
phân phối định kỳ cho các gia đình trong làng canh tác và khai thác. Thời
gian phân phối thờng lệ thuộc vào chu kỳ luân canh ; Chủ làng cùng với
các trởng họ thực hiện chọn đất và chia đất cho các gia đình ; Các gia đình
có quyền sử dụng đất rừng trong thời gian định kỳ đợc phân quyền không
có quyền nhợng bán. Nếu có ngời trong làng có nhu cầu trao đổi quyền sử
dụng thì hai bên thoả thuận với nhau chủ làng, chủ họ quyết định và nhất
thiết phải đợc thần linh báo mộng. Nếu thần linh báo phản đối bằng các
điềm (hạt gạo, mang thét, rắn bò qua) thì không đợc thực hiện việc trao
đổi. Trong thời gian lu canh, rẫy sau nhiều vụ canh tác đã bạc màu, bỏ
hoang hoá để bảo vệ đất, đất rừng đó vẫn thuộc về ngời đợc phân chia, khi
hết chu kỳ lu canh mà ngời đó không canh tác nữa mà ngời khác đến vẫn
phải thông qua chủ cũ đó. Đất bỏ hoang hoá đó không coi là đất vô chủ,
không ai đợc xâm phạm. Những ngời vi phạm quyền sử dụng tài nguyên
phải đa ra xét xử và phải phạt theo luật tục. Khi có sự tranh chấp về tài
nguyên hai bên phải tự hoà giải, nếu không hoà giải đợc, phải đa ra làng
xét xử gồm đại diện giải quyết là già làng (trởng làng), hội đồng già làng.
Quyền sở hữu của ng
đợc chuyển cho một ngời khác.
Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên quan niệm rằng, cũng nh con ngời,
mọi vật trong thế giới tự nhiên nh đất đai, rừng rú, nguồn nớc, cây cỏ
đều chứa đựng những "linh hồn", có các vị thần cai quản. Những linh hồn đó
luôn luôn theo dõi và tác động đến cuộc sống của con ngời. Bởi vậy, khi
con ngời do có nhu cầu khai thác, sử dụng, xâm phạm tới đều phải có lời
cầu khẩn, phải thực hiện nghi lễ, phải tuân thủ các tập tục nghiêm ngặt, thậm
chí trong một số trờng hợp con ngời hoàn toàn không đ
ợc xâm phạm tới.
Hàng năm, mọi tộc ngời Tây Nguyên đều tổ chức các lễ thức nhằm cầu xin
các thần linh phù hộ cho mùa màng nh lễ cúng thần đất, thần rừng, thần lửa,
cúng cầu ma vào những thời kỳ hạn hán kéo dài (mục đích tuy giống nhau
nhng cách thức tiến hành cùng một loại lễ ở mỗi dân tộc lại khác nhau).
Các quan niệm trên đã đợc phản ánh rõ trong luật tục và điều đó đã góp
phần quan trọng vào việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Đối với
các tộc ngời Tây Nguyên, mọi lỗi lầm của con ngời, từ lời nhác, trộm
cắp, loạn luân đều để lại hậu quả làm đất đai, rừng rú, nguồn nớc bị "ô
uế", khiến thần linh tức giận, trừng phạt Nhìn chung, quan niệm "thiêng
Báo cáo dự án điều tra môi trờng -2006
25
hoá" các nguồn tài nguyên thiên nhiên này của nhiều dân tộc thể hiện nét
độc đáo của cộng đồng về ứng xử môi trờng, đã thực sự góp phần vào việc
bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên trớc sự phá hoại của chính bản
thân con ngời.
Trong sinh hoạt, ngời dân Tây Nguyên rất chú ý đến bảo vệ tài nguyên
sông suối, nguồn nớc của cả làng. Trong việc chọn đất, dựng làng, việc
quan trọng nhất là tìm nơi thuận tiện, có nguồn nớc tốt. Ngày quan trọng
nhất trong năm là ngày sửa sang máng nớc sau vụ thu hoạch. Máng nớc là
nơi linh thiêng. Dân làng hứng nớc pha tiết lợn cúng thần nớc rồi đem về