Câu 3: Làm rõ quan điểm của HCM về đại đoàn kết dân tộc. Đảng ta đã quán triệt và vận
dụng quan điểm đó trong công cuộc xây dựng đất nước ra sao ?
Theo quan niệm của HCM, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân đông đảo, mà
không phải là công việc của một số người, của riêng Đảng Cộng sản. Đảng lãnh đạo để nhân dân
đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới. Sự nghiệp ấy chỉ có thể thực hiện được
bằng sức mạnh của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết dân tộc. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và việc
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của HCM là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị
thực tiễn hết sức quan trọng.
Những quan điểm cơ bản của HCM về ĐĐKDT, thể hiện ở các nội dung sau:
1- Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách
mạng, chứ không phải là vấn đề có ý nghĩa sách lược. HCM thường nhấn mạnh: “Đoàn kết là sức
mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – thành công, thành công, đại
thành công”. Đoàn kết là điểm mẹ, “điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt…”;
“Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”. Điều đó nói rõ rằng,
đoàn kết là vấn đề sống còn của cách mạng. Nếu có khác chăng là ở những thời kỳ cách mạng
khác nhau cần có phương pháp tổ chức, bố trí lực lượng cho phù hợp với những yêu cầu và nhiệm
vụ cụ thể của thời kỳ đó.
2- Đại đoàn kết không chỉ là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, mà
cao hơn, đó là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng (đại đoàn kết là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt cả đường lối, chủ trương của Đảng). HCM khẳng định, mục đích của Đảng Lao
động Việt Nam có thể tóm gọn trong 8 chữ “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Điều đó đòi
hỏi Đảng phải xây dựng được một đường lối chiến lược khoa học, phù hợp với nguyện vọng,
quyền lợi của đại đa số dân chúng để thu hút và phát huy triệt để sức mạnh của quần chúng vào
sự nghiệp đấu tranh cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc là sự nghiệp của quần chúng, do quần
chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi
khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực, có tổ chức,
thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh
phúc cho con người.
3- Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân: HCM đã dùng khái niệm đại đoàn kết dân
tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng
phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam xem đại đoàn kết dân tộc, tập hợp toàn
dân trong cuộc đấu tranh cách mạng là vấn đề sống còn, là máu thịt của Đảng; Đảng lãnh đạo
Mặt trận trước hết bằng việc xác định chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng giai đọan,
từng thời kỳ cách mạng. HCM nêu rõ “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng.
Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”. Đảng phải
dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng chân thành để đối xử,
cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, tự nguyện, hết sức tránh gò ép, quan liêu, mệnh lệnh, không
thể và không được lấy quyền uy của mình để buộc các thành viên khác trong Mặt trận phải tuân
theo. HCM đã căn dặn cán bộ, đảng viên về công tác Mặt trận “Phải thành thực lắng nghe ý kiến
của người ngoài Đảng. Cán bộ và đảng viên không được tự cao tự đại, tự cho mình là tài giỏi
hơn mọi người; trái lại phải học hỏi điều hay điều tốt của mọi người cán bộ đảng viên có quyết
tâm làm như thế thì công tác Mặt trận nhất định sẽ tiến bộ nhiều”. Muốn lãnh đạo Mặt trận, lãnh
đạo xây dựng khối đoàn kết toàn dân, Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí. Sự đoàn kết của Đảng
là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết của toàn dân. Sự đoàn kết của Đảng càng được củng
cố thì sự đoàn kết của dân tộc càng được tăng cường; sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân
đã tạo nên sức mạnh bên trong của cách mạng Việt Nam để vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng
mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng.
6- Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính
phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai câp công nhân. HCM luôn luôn xác
định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam chỉ có
thể giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Tư tưởng đó
tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện đầy đủ hơn trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Khi
nói về sự cần thiết phải có tổ chức Đảng Cộng sản, HCM nêu rõ “phải có đảng cách mệnh, để
trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai
cấp mọi nơi”; thực hiện sự liên kết chặt chẽ với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách
mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc và các nước tư bản, với phong
trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.
Như vậy, những luận điểm trên đây tạo thành nội dung của tư tưởng HCM về đại đoàn kết
dân tộc. Những luận điểm ấy đã được hình thành, từng bước được hoàn chỉnh trong tiến trình
cách mạng Việt Nam và đã được thực tiễn cách mạng kiểm nghiệm. Trong suốt quá trình hoạt
khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đến Đại hội XI của Đảng
“Tiếp tục phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc… đổi mới và nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân”.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng tư tưởng HCM về
đại đoàn kết dân tộc phù hợp với tình hình mới. Dân chủ XHCN có tiến bộ, sức mạnh đại nđoàn
kết dân tộc được củng cố. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và dội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộng
và tăng cường; Mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, tổ
chức nhiều phong trào thi đua… tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần tích cực
vào những thành tựu của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được chúng ta vẫn còn những hạn chế đó là: Dân chủ
và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. Quyền làm chủ của nhân dân ở một
số nơi, trên một vài lĩnh vực vẫn còn vi phạm; việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức,
có tình trạng lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối ảnh hưởng đến
ANTT. Những chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết dân tộc chưa được thể hiện đầy
đủ thành pháp luật, hoặc đã được thể chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc. Công tác
kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên, giữa chủ trương và thực hiện còn cách biệt. công tác tuyên
truyền, vận động, tập hợp, thu hút nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân còn hạn chế. Hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở.
Tại Thừa Thiên Huế, trên cơ sở quán triệt quan điểm, chính sách của Đảng và tư tưởng HCM
về ĐĐKDT nhận thức về vai trò, vị trí của Mặt trận trong hệ thống chính trị được nâng lên. Công
tác Mặt trận thời gian qua đã được các cấp ủy quan tâm thõa đáng. Các cấp ủy Đảng đã có các
nghị quyết chuyên đề về công tác Mặt trận. Thông qua chương trình phối hợp họat động giữa Ủy
ban MTTQVN - Thường trực HĐND – UBND các cấp, Mặt trận đã phát huy tốt vai trò của mình,
thực hiện khá tốt các chức năng của Mặt trận theo luật định. Chính quyền đã tạo điều kiện kinh
phí để nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho công tác mặt trận ngày càng tốt hơn. Mặt
trận đã từng bước đổi mới phương thức họat động, phối hợp với các tổ chức thành viên Mặt trận
để đẩy mạnh CVĐ "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ", CVĐ “Ngày
càng phát triển, đòi hỏi phải củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng các nước, đồng thời
phải nắm vững bài học đoàn kết quốc tế của HCM, luôn luôn giương cao ngọn cờ hoà bình, độc
lập, hợp tác và phát triển./.
4