phân tích sự ảnh hưởng của các thuộc tính địa phương đến sự hài lòng của doanh nghiệp tại tỉnh phú yên - Pdf 24

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích sự ảnh hưởng của các thuộc tính địa
phương đến sự hài lòng của doanh nghiệp tại tỉnh Phú Yên” là kết quả của quá trình
học tập, nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn này được thu thập từ thực tế, có nguồn gốc rõ ràng,
đáng tin cậy, được xử lý trung thực, khách quan. Kết quả nghiên cứu được trình
bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được
trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây.
Tuy Hòa, ngày 28 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn
Hồ Thị Bảo Hoàng
i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Kim Long đã có rất nhiều đóng
góp ý kiến, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực
hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Đào tạo sau đại học - Trường Đại
học Nha Trang tham gia giảng dạy khóa học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Ông Bùi Đức Hùng – Phó giám đốc Trung tâm xúc tiến
đầu tư – Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Phú Yên, Ông Ngô Đức Toàn – Cục trưởng cục
Thuế tỉnh Phú Yên, Ông Hồ Văn Phước – Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh
Phú Yên, Ông Trương Quốc Huy – Giám đốc Công ty TNHH cà phê Huy Tùng đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi được tiếp cận với các cơ quan, ban ngành của địa phương
và các tài liệu phục vụ cho nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đại diện các doanh nghiệp, các đơn vị
đã giúp tôi trả lời bảng câu hỏi khảo sát.
Hồ Thị Bảo Hoàng
ii
MỤC LỤC
iii

phủ luôn đặc biệt quan tâm tập trung hoàn thiện thể chế thị trường, xây dựng cơ chế,
chính sách; cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính; yêu cầu các cơ quan
chức năng rà soát lại các thủ tục thanh tra, kiểm tra nhằm cắt giảm tối đa phiền hà,
qua đó tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh
doanh”.[13]
Bên cạnh việc tổ chức các hội nghị đối thoại với doanh nghiệp, hàng năm Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp cùng với Cơ quan Phát triển
1
Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) điều tra đánh giá của các doanh nghiệp về vấn đề điều hành
kinh tế tỉnh và môi trường kinh doanh ở Việt Nam thông qua chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (PCI). Chỉ số này đã được Chính phủ và chính quyền các địa phương sử
dụng như một công cụ quan trọng để đo lường và đánh giá công tác quản lý và điều
hành kinh tế của từng địa phương. Qua đó có thể thấy, đánh giá của cộng đồng doanh
nghiệp luôn nhận được sự quan tâm và là động lực để các địa phương cải thiện và
nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của địa phương mình.
Tại Phú Yên hiện nay có hơn 1600 doanh nghiệp, trong đó chiếm đa phần là
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp Phú Yên vào
sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, theo đánh giá
nghiên cứu về chỉ số PCI, Phú Yên được các doanh nghiệp đánh giá thấp về năng lực
cạnh tranh và cũng là địa phương có mức thu hút đầu tư thấp so với nhiều địa phương
khác trong nước. Để thu hút đầu tư và khắc phục những hạn chế về cơ sở hạ tầng,
nguồn nhân lực,… chính quyền tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện chương trình
hành động của UBND tỉnh về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao Chỉ
số năng lực cạnh tranh của tỉnh, xây dựng, thực hiện 3 chương trình trọng điểm về đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cải cách hành chính và đào tạo nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, những cam kết về chính sách, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh
mà chính quyền tỉnh Phú Yên đưa ra có dựa trên cơ sở phân tích năng lực cạnh tranh
của địa phương và đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp? Đây là những vấn đề
không chỉ Phú Yên mà nhiều địa phương khác cũng đang quan tâm nhưng vẫn có rất ít
nghiên cứu phân tích, đánh giá cụ thể về vấn đề này. Chính vì những lý do trên, tôi đã

lượng.
Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ: gắn liền với việc xác định vấn đề nghiên cứu. Đầu
tiên, xác định các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh và sự hài lòng của doanh
nghiệp đối với các thuộc tính của một địa phương trên cơ sở tham khảo tài liệu, bài
báo, các công trình nghiên cứu có liên quan; từ đó xây dựng các thang đo cần khảo sát
và đánh giá. Với kinh nghiệm của bản thân giúp phát hiện các tiêu thức không cần
thiết và bổ sung các nhân tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với
các thuộc tính của một địa phương. Và trong mỗi nhân tố tác động đó, đưa ra các tiêu
chí để thể hiện tiêu thức nhằm đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất.
Tiếp theo, tác giả tiến hành thảo luận với lãnh đạo các cơ quan quản lý Nhà nước
về đầu tư kinh doanh tại Phú Yên (Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Yên, Ban Quản lý
các khu công nghiệp,…) và một số doanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh tại tỉnh. Từ
đó, tham khảo ý kiến để điều chỉnh, bổ sung mô hình nghiên cứu đề xuất.
Như vậy, việc xây dựng thang đo dựa trên cơ sở lý thuyết liên quan đến năng lực
cạnh tranh của một địa phương và sự hài lòng của doanh nghiệp đối với các thuộc tính
của địa phương được thực hiện bằng phương pháp thảo luận với lãnh đạo các cơ quan
3
quản lý Nhà nước về đầu tư tại Phú Yên và một số doanh nghiệp bằng những câu hỏi
mở và thu thập những tài liệu thứ cấp, các tạp chí và công trình nghiên cứu có liên
quan
Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua phỏng vấn sâu đối với các doanh
nghiệp và lãnh đạo các cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư kinh doanh tại Phú Yên.
Thông tin thu thập được qua nghiên cứu định tính nhằm khám phá, điều chỉnh, xây
dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm đề nghị về sự hài lòng của doanh nghiệp đối
với các thuộc tính địa phương tại Phú Yên.
Giai đoạn nghiên cứu chính thức: thu thập thông tin trực tiếp bằng phỏng vấn.
Kết quả thu được từ phỏng vấn các giáo viên sẽ tiến hành phân tích, kiểm định thang
đo bằng phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS 16.0.
b. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu sử dụng nghiên cứu đề tài bao gồm số

Chương 1: Cơ sở lý thuyết. Chương này giới thiệu những khái niệm về cạnh
tranh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thuộc tính địa phương và sự hài lòng của doanh
nghiệp, tổng quan các nghiên cứu liên quan và đưa ra mô hình nghiên cứu cùng các
giả thuyết
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương này giới thiệu phương pháp thiết
kế nghiên cứu, xây dựng thang đo, quá trình thu thập thông tin và giới thiệu phương
pháp xử lý, phân tích số liệu thống kê.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương này phân tích đối tượng khảo sát, kết
quả đánh giá về độ tin cậy và độ giá trị của thang đo, kiểm định các giả thuyết nghiên
cứu, kết quả đo lường sự hài lòng của doanh nghiệp cùng các kết quả thống kê suy
diễn.
Phần kết luận và kiến nghị: Phần này đưa ra kết luận về nghiên cứu và đề xuất
một số kiến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp đối với các thuộc tính
địa phương của tỉnh Phú Yên.
5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cơ sở lý thuyết để thực hiện nghiên cứu “Phân tích sự ảnh hưởng của các thuộc
tính địa phương đến sự hài lòng của doanh nghiệp tại tỉnh Phú Yên” gồm lý thuyết về
cạnh tranh và cạnh tranh cấp tỉnh, thuộc tính địa phương và sự hài lòng của doanh
nghiệp, tổng quan các nghiên cứu liên quan từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất.
1.1. Tổng quan về cạnh tranh và cạnh tranh cấp tỉnh:
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh:
Ngày nay, cạnh tranh là một thuật ngữ được nhắc đến rất nhiều trong kinh tế. Hệ
thống lý thuyết về cạnh tranh cũng đã cho thấy, từ khi nền kinh tế hàng hóa ra đời,
cạnh tranh đã xuất hiện theo đó. Cạnh tranh tồn tại ở cả mặt vi mô và vĩ mô của nền
kinh tế.
Theo K.Marx, cạnh tranh là “sự ganh đua đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu
được lợi nhuận siêu ngạch”.
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus cho rằng cạnh tranh

đề xuất trong cuốn niên giám cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp này đều do một
số Giáo sư đại học Havard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia
của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh:
Cạnh tranh được phân loại theo nhiều cách khác nhau, trong đó, nếu phân chia
theo cấp độ cạnh tranh gồm có cạnh tranh của quốc gia, cạnh tranh của địa phương,
cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành, cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ. Giữa các cấp độ
này đều có mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau rất mật thiết, tạo điều kiện cho
nhau hay chế định nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Theo mục tiêu nghiên cứu, đề tài này chỉ
tập trung nghiên cứu đến khía cạnh cạnh tranh cấp tỉnh, hay cụ thể hơn là năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh.
Xét trên các quan điểm về cạnh tranh, có thể thấy cạnh tranh cấp tỉnh là một đặc
thù cơ bản của Việt Nam. Cạnh tranh cấp tỉnh xuất hiện khi có sự phân cấp trong quản
lý về kinh tế - xã hội giữa cấp trung ương và địa phương tại Việt Nam. Chính quyền
các tỉnh là các chủ thể cạnh tranh với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương, tối đa hóa lợi ích của địa phương thông qua việc đáp ứng tốt nhất các mong
muốn của khách hàng mục tiêu (du khách; cư dân và nhân công; thị trường kinh doanh
và công nghiệp; thị trường xuất khẩu). Cạnh tranh giữa các địa phương diễn ra liên tục
trong phạm vi không gian là các tỉnh của Việt Nam. Chính quyền địa phương cũng
phải tuân thủ theo các cơ chế, chính sách, các quy định chung của Chính phủ, và còn
có sự hạn chế về các nguồn lực của địa phương (tài nguyên, đất đai,…).
Cạnh tranh giữa các tỉnh trong một quốc gia có mức độ mềm dẻo và linh hoạt
hơn so với cạnh tranh giữa các quốc gia với nhau. Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh
nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương đó sẵn
có hoặc tự tạo ra như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú hoặc chất lượng
7
con người, cơ sở hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư, đan xen với sự ganh đua có tính
chất hợp tác, liên kết cùng phát triển dựa trên lợi thế có sẵn của nhau. Vì thế, việc liên
kết hợp tác giữa các địa phương nhằm xoá bỏ giới hạn địa giới hành chính và phân
chia các nguồn lực nhằm bổ sung và hỗ trợ cho nhau để tăng cường năng lực cạnh

mức phúc lợi từ kinh tế cao hơn [9].
8
Có nhiều cách phân loại yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cấp tỉnh, trong
đó có cách phân loại theo nhóm yếu tố truyền thống (điều kiện địa lý, tự nhiên, xã hội,
hệ thống cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường,…) và nhóm yếu tố nguồn lực mềm, bao
gồm những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh,
những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của chính quyền
địa phương. Nhóm yếu tố truyền thống là những nhân tố căn bản, quan trọng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh nhưng rất khó thậm chí không đạt được trong thời gian
ngắn. Nhóm yếu tố nguồn lực mềm là nhân tố quyết định đến sự ấp dẫn đầu tư và phát
triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được
xác định theo các tiêu chí xác định khả năng của nguồn lực mềm và chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh hiện nay được cấu thành từ hệ thống các chỉ số thành phần sau: (1)
Chi phí gia nhập thị trường, (2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, (3)
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin, (4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định
của Nhà nước, (5) Chi phí không chính thức, (6) Tính năng động và tiên phong của
lãnh đạo tỉnh, (7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, (8) Đào tạo lao động, (9) Thiết chế
pháp lý. Chỉ số này được xây dựng dựa trên 3 bước: (1) thu thập dữ liệu bằng phiếu
điều tra doanh nghiệp và dữ liệu từ các nguồn khác, (2) tính toán 9 chỉ số thành phần
và chuẩn hóa theo thang điểm 10, (3) tính trọng số cho chỉ số PCI trung bình của 9 chỉ
số thành phần trên thang điểm 100, những trọng số này được làm tròn tới 5% gần nhất
để phân thành ba loại cơ bản được nêu trong bảng 1.1:
Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần
Chỉ số
Trọng số
thực tế (%)
Trọng số
làm tròn (%)
Loại
trọng số

nay. Các doanh nghiệp ngày càng chuyên nghiệp hơn trong việc tìm kiếm và lựa chọn
địa phương thích hợp. Hiểu được doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư và chọn lựa
địa phương như thế nào là điều hết sức quan trọng đối với các nhà tiếp thị địa phương.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp đánh giá địa phương là điểm tiềm năng sau khi xem xét
các yếu tố xác định môi trường kinh doanh chung của địa phương. Chúng ta gọi những
chỉ báo này là “yếu tố thu hút”, và chúng có thể chia ra làm hai loại yếu tố cứng và yếu
tố mềm (xem Bảng 1.2). Yếu tố cứng có thể đo lường theo các giá trị ít nhiều mang
tính chủ quan. Yếu tố mềm không dễ định lượng và đại diện cho nhiều đặc tính hơn
của một địa phương.
Các nhà tiếp thị địa phương có thể dùng những yếu tố này làm kim chỉ nam để
cải tiến sức hấp dẫn đối với thị trường mục tiêu. Không phải yếu tố nào cũng có thể dễ
dàng được phát huy tối đa, điều này cho thấy việc phát triển một kết hợp đúng đắn là
rất quan trọng.
Bảng 1.2: Yếu tố hấp dẫn cứng và mềm
Yếu tố cứng Yếu tố mềm
10
+ Ổn định kinh tế
+ Năng suất
+ Chi phí
+ Quan niệm về tài sản
+ Dịch vụ và mạng lưới hỗ trợ địa
phương
+ Cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc
+ Địa điểm chiến lược
+ Kế hoạch và chương trình khuyến
khích.
+ Phát triển chuyên biệt
+ Chất lượng cuộc sống
+ Năng lực của lực lượng lao động và
chuyên môn.

này để sang một địa phương khác. Để giữ chân các doanh nghiệp, địa phương phải
thường xuyên đối thoại với các doanh nghiệp của mình. Từ đó có thể hiểu được cách
đo lường đối chiếu địa phương mình với những địa phương khác nhằm tạo lợi thế cạnh
tranh để giành lấy một lượng đầu tư có sẵn rất hạn chế.
Thứ hai, một địa phương phải đưa ra các kế hoạch và dịch vụ để giúp các doanh
nghiệp hiện có mở rộng. Khi sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp này mở rộng
được thị trường tiêu thụ đến những nơi khác, sản lượng bán tăng lên tạo ra nhiều thu
nhập và nhu cầu về lao động địa phương. Quy trình tạo ra giá trị gia tăng cho địa
phương sẽ phát huy hiệu quả khi địa phương đó biết phát triển các kế hoạch, chiến
lược chào mời độc đáo dựa trên việc xác định các yếu tố cứng và yếu tố mềm có thể
tác động đến.
Thứ ba, một địa phương phải tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp khởi sự
công việc kinh doanh mới. Có rất nhiều chương trình khuyến khích dành cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ như: phát triển cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ địa phương
thông qua đào tạo, tư vấn, khuyến khích ngân hàng địa phương tham gia hỗ trợ doanh
nghiệp mới, cung cấp vốn vay, kết nối các nhà đầu tư với doanh nghiệp, hỗ trợ bảo
đảm những hợp đồng với chính phủ, các hình thức khuyến khích khác nhau cho doanh
nghiệp mới khởi sự.
Thứ tư, một địa phương phải cố gắng thu hút các dự án phù hợp với chiến lược
phát triển. Những dự án như vậy thường tạo ra các mối liên kết phụ có giá trị với kết
quả thương mại.
Như vậy, việc hoàn thiện các thuộc tính địa phương như hệ thống cơ sở hạ tầng,
dịch vụ hành chính pháp lý, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng, nguồn
lao động, chất lượng các trường đào tạo nghề,… sẽ tạo năng lực cạnh tranh cho địa
phương trong việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư mới và thỏa mãn doanh nghiệp
hiện đang kinh doanh tại địa phương sẽ góp phần làm hài lòng các doanh nghiệp. Sự
hài lòng của doanh nghiệp, theo Lam & ctg (2004), nói lên mức độ thỏa mãn của
doanh nghiệp khi xem xét, đánh giá tất cả các hoạt động liên quan đến công việc kinh
doanh của mình tại một địa phương [5].
Các thuộc tính địa phương cơ bản có thể được phân loại theo ba nhóm như sau:

Ngoài ra có những định nghĩa khác nhưng chúng đều có những điểm chung nhất,
nếu tổng hợp trên phương diện tổ chức quản lý xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức,
phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động
của doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:
- Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các
chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính.
- Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
- Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản
phẩm sao cho có lợi ở đầu ra.
13
- Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước,
trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận
thu được.
Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau:
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính,
vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản
phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối
đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân – là điều kiện cơ
bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà
nước khẳng định và xác định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp
với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt
động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng,
nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp
phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công
nợ khi phá sản hay giải thể.
Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn
liền với địa phương nơi nó tồn tại. Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì nó có quá
trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà
nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh

Theo quan điểm của Kotler, sự hài lòng của khách hàng tùy thuộc vào hiệu quả
hay lợi ích mang lại của sản phẩm dịch vụ so với những kỳ vọng của họ. Khách hàng
có thể có những cấp độ hài lòng khác nhau. Nếu hiệu quả sản phẩm mang lại thấp hơn
kỳ vọng, khách hàng sẽ bất mãn. Nếu hiệu quả sản phẩm dịch vụ khớp với các kỳ
vọng, khách hàng sẽ hài lòng. Nếu hiệu quả sản phẩm dịch vụ mang lại cao hơn cả kỳ
vọng, khách hàng sẽ hết sức hài lòng và vui mừng.
Như vậy có thể thấy, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng của
khách hàng, nhưng nó đều dựa trên những yếu tố sau:
- Thái độ của khách hàng đối với nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ.
- Mong đợi về khả năng đáp ứng nhu cầu từ phía nhà cung cấp.
- Các giá trị do dịch vụ mang lại.
- Ý định sẵn sàng tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Từ khái niệm doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống gắn liền với
địa phương nơi nó tồn tại có thể cho thấy mặc dù là một pháp nhân, nhưng cuộc sống
của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào những người tạo ra nó. Suy cho cùng khi nói
15
đến sự hài lòng của doanh nghiệp là nói đến sự hài lòng của các cá nhân quản lý doanh
nghiệp đó. Cũng giống như một khách hàng cá nhân, các nhà quản lý doanh nghiệp khi
lựa chọn đầu tư kinh doanh tại một địa phương cũng luôn đặt ra những yêu cầu, những
kỳ vọng và mong muốn được thỏa mãn những kỳ vọng đó. Sự hài lòng của doanh
nghiệp được thể hiện qua việc doanh nghiệp đó có sẵn sàng gắn kết lâu dài hay mở
rộng quy mô kinh doanh.
1.2.3. Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp:
Cũng giống như những khách hàng khác, sự hài lòng của các nhà quản lý doanh
nghiệp cũng chịu tác động bởi các yếu tố chất lượng sản phẩm, dịch vụ của địa
phương và chi phí của chúng. Doanh nghiệp sẽ ước tính và lựa chọn đầu tư, kinh
doanh tại địa phương mang đến cho họ nhiều giá trị nhất trong giới hạn về chi phí,
kiến thức, thu nhập…
Giá trị cung cấp cho khách hàng là sự khác biệt giữa tổng giá trị và tổng chi phí
của khách hàng. Tổng giá trị khách hàng là toàn bộ lợi ích mà khách hàng mong đợi

trong những phương thức để thông tin, quảng cáo ra bên ngoài về dịch vụ là giá cả của
dịch vụ (Zeithaml and Bitner, 2000). Trong khi đó ảnh hưởng của giá vào sự hài lòng
khách hàng ít nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, hơn là các nhân tố khác
(Spreng, Dixon, and Olshavsky, 1993; Voss et al., 1998; Bolton and Lemon, 1999;
Varki and Colgate, 2001). Zeithaml and Bitner (2000) cho rằng giá của dịch vụ có thể
ảnh hưởng rất lớn vào nhận thức về chất lượng dịch vụ, hài lòng và giá trị. Bởi sản
phẩm dịch vụ có tính vô hình nên thường rất khó để đánh giá trước khi mua, giá cả
thường được xem như công cụ thay thế mà nó ảnh hưởng vào sự hài lòng về dịch vụ
mà người tiêu dùng sử dụng. Một số nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng có mối quan hệ
có ý nghĩa giữa giá cả và hài lòng khách hàng (Varki and Colgate, 2001; Hong and
Goo, 2003). Khi giá cả được khách hàng cảm nhận cao hoặc thấp thì mức độ hài lòng
của khách hàng sẽ giảm hoặc tăng tương ứng.
17
Khái niệm giá cả của địa phương được hiểu rộng hơn giá cả sản phẩm, dịch vụ.
đó là tất cả các loại chi phí liên quan đến quá trình đầu tư mà nhà đầu tư phải bỏ ra để
nhận được những sản phẩm mà địa phương cung cấp cho họ. Doanh nghiệp quan tâm
đến cả chi phí chính thức và chi phí không chính thức khi kinh doanh tại địa phương.
1.3. Tổng quan nghiên cứu liên quan:
Những đề tài về marketing địa phương và sự hài lòng của doanh nghiệp về các
vấn đề đầu tư, kinh doanh cũng đã được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu và bàn
luận. Tuy nhiên mô hình nghiên cứu định lượng về sự tương quan giữa thuộc tính địa
phương và sự hài lòng của doanh nghiệp lại có rất ít.
1.3.1.1. Nghiên cứu của Hà Minh Trung (2010):
Cụ thể nghiên cứu của Hà Minh Trung đề cập đến các yếu tố tác động đến sự
hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ của các Khu công nghiệp Việt
Nam – Singapore tỉnh Bình Dương. Mô hình nghiên cứu của Hà Minh Trung dựa trên
lý thuyết về mối quan hệ giữa sự hài lòng và chất lượng dịch vụ, thang đo SERVPERF
được sử dụng để đo lường và có sự điều chỉnh theo phương pháp chuyên gia. Trong
đó, tác giả chia sự hài lòng của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi 5 nhân tố (với 38
biến quan sát): (1) phương tiện hữu hình, (2) sự tin cậy, (3) mức độ đáp ứng, (4) sự

tiếp cận thông tin, (4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, (5)
Chi phí không chính thức, (6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, (7)
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, (8) Đào tạo lao động, (9) Thiết chế pháp lý. Chỉ số này
được xây dựng dựa trên 3 bước: (1) thu thập dữ liệu bằng phiếu điều tra doanh nghiệp
và dữ liệu từ các nguồn khác, (2) tính toán 9 chỉ số thành phần và chuẩn hóa theo
thang điểm 10, (3) tính trọng số cho chỉ số PCI trung bình của 9 chỉ số thành phần trên
thang điểm 100. Báo cáo này đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cải thiện môi
trường kinh doanh tại các tỉnh, thành trên cả nước; giúp cho các chính quyền địa
phương nhận biết được đâu là điểm mạnh và điểm yếu của địa phương mình, từ đó đề
ra hướng giải quyết nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu, đưa kinh tế địa
phương phát triển.
1.3.1.3. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2005):
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (trường Đại học
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện tại tỉnh Tiền Giang năm 2005 là nghiên cứu
đầu tiên ứng dụng lý thuyết marketing địa phương của Philip Kotler để xây dựng mô
hình nghiên cứu định lượng về sự hài lòng của doanh nghiệp đối với các thuộc tính địa
phương.
Theo đó, các thuộc tính địa phương được các doanh nghiệp quan tâm gồm 3
nhóm thuộc tính: (1) nhóm các thuộc tính về cơ sở hạ tầng đầu tư, (2) nhóm các thuộc
19
tính về chế độ, chính sách, dịch vụ đầu tư và kinh doanh, (3) nhóm thuộc tính môi
trường sống và làm việc.
Bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định thang đo
(Cronbach Alpha) và qua kỹ thuật hồi quy tuyến tính bội cho thấy có 4 biến thuộc tính
địa phương: (1) hỗ trợ của chính quyền, (2) ưu đãi đầu tư, (3) đào tạo kỹ năng, (4) môi
trường sống và một biến đặc điểm doanh nghiệp (loại hình doanh nghiệp) có ảnh
hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp.
Nhóm tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích vị trí đa hướng nhằm xác
định vị trí địa phương so với các địa phương cạnh tranh (TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ,
Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long) thông qua 4 biến trên. Kết quả cho thấy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status