1
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
***
ĐỖ QUỐC TRƯỞNG
Lớp: CQ48/02.02
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM
- TP HÀ NỘI
Chuyên ngành : Thuế
Mã số : 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PSG.TS. Nguyễn Thị Liên
Hà Nội – 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số liệu,kết quả
nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn
Đỗ Quốc Trưởng
3
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
4
Bảng 2.11. Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp 48
Bảng 2.12. Kết quả chống thất thu thuế đối với DNNQD 51
6
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Chi cục thuế Gia Lâm 24
Hình 2.2 Kết quả thực hiện dự toán được giao giai đoạn 2011 – 2013 26
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước. Nó vừa đảm bảo nguồn thu cho
Ngân sách nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là cơ sở đảm bảo công
bằng xã hội, thúc đẩy cạnh tranh phát triển. Để sử dụng có hiệu quả công cụ thuế về cơ
bản hệ thống chính sách thuế gồm thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế gián thu như:
Thuế GTGT, Thuế TTĐB, Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu. Thuế trực thu như: Thuế thu
nhập cá nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp. Với mục đích động viên nguồn thu cho Ngân
sách nhà nước, là công cụ giúp Nhà nước điều chỉnh cơ cấu giữa tiêu dùng, tiết kiệm, đầu
tư. Thuế GTGT xứng đáng là một sắc thuế tiêu biểu, quan trọng trong hệ thống thuế Việt
Nam. Do vậy, việc cải cách chính sách thuế, nhất là thuế GTGT là rất cần thiết để đảm
bảo công bằng hợp lý trong phân phối thu nhập của dân cư, góp phần điều tiết thu nhậ xã
hội, đảm bảo yêu cầu động viên của NSNN.
“Thuế GTGT là sắc thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch phụ
phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Ngày
19/06/2013 Quốc hội đã thông qua Luật Số 31/2003/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Sau gần 15 năm đi vào
cuộc sống, thuế GTGT đã phát huy tích cực trong việc khuyến khích phát triển sản xuất
kinh doanh, thúc đẩy xuất khẩu và đầu tư tạo nguồn thu lớn cho NSNN. Nhưng đây là
một luật thuế mới nên việc áp dụng sắc thuế này ở nước ta đã gặp không ít khó khăn,
vướng mắc. Trong quá trình thực hiện đã phải điểu chỉnh một số quy định tại các văn bản
hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT như: Điều chỉnh về phạm vi áp dụng, về thuế suất,
4. Phương pháp nghiên cứu
9
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương pháp
thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, các phương pháp định tính dựa trên cơ sở
nguồn dữ liệu thu thập từ Chi Cục thuế huyện Gia Lâm – TP Hà Nội qua các năm.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được trình
bày thành 3 chương như sau:
Chương 1: Thuế GTGT và sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu thuế GTGT
đối với DNNQD trên địa bàn huyện Gia Lâm
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DNNQD trên địa
bàn huyện Gia Lâm.
Chương 3: Các giải pháp tăng cường quản lý thu thuế GTGT đối với DNNQD
trên địa bàn huyện Gia Lâm.
Là một sinh viên năm cuối, kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế. Do vậy, em
cũng không thể tráng khỏi những sai sót, khiếm khuyết trong nội dung, phương pháp
nghiên cứu. Em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô giáo, các cán bộ
thuế, bạn đọc để tài liệu được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, năm 2014
Sinh viên
Đỗ Quốc Trưởng
10
CHƯƠNG 1: THUẾ GTGT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM.
1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý thuế giá trị gia tăng
1.1.1 Những vấn đề cơ bản của thuế giá trị gia tăng
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
a, Đối tượng chịu thuế GTGT
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và
tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước
ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT.
b, Đối tượng nộp thuế GTGT
Là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở
Việt Nam không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọi là cơ sở kinh
doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế
GTGT (gọi là người nhập khẩu).
1.1.1.3 Căn cứ tính thuế
a, Giá tính thuế.
Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán
hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi
trên chứng từ hàng hóa nhập khẩu.
b, Thuế suất thuế GTGT
12
Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch vụ ở các
khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay kinh doanh thương mại. Thuế GTGT hiện hành có
3 mức thuế suất là: 0%, 5%, 10%.
1.1.1.4 Phương pháp tính thuế GTGT
Phương pháp khấu trừ thuế
* Đối tượng áp dụng:
Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện
đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa
đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, trừ các đối tượng
tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT
* Cách tính thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào được
khấu trừ.
Phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng
kịp thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; đồng thời, đảm bảo sự điều
tiết qua thuế đối với các tổ chức, cá nhân được công bằng, bình đẳng.
- Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính. Nội dung
của phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh,
là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với tổ chức, cá nhân trong
xã hội; giữa cơ quan thuế các cấp với nhau và với các cơ quan Nhà nước khác, trong các
quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo
thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý (người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của
các cơ quan Nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu vào NSNN. Đồng thời, phương
pháp hành chính trong quản lý thuế còn thể hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp thuế, đó
14
là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận
việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Do đó, hoàn thiện pháp luật về quản lý
thuế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo quy trình quản lý thuế rõ ràng, minh
bạch, thủ tục thu, nộp thuế đơn giản.
- Quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ. Đặc điểm này
thể hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng từ kèm theo phục vụ cho quản lý thuế
có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật của việc xác định
số thuế phải nộp. Ví dụ: Tập hợp thuế GTGT đầu vào được khấu trừ trong kỳ tính thuế;
xác định các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN phải nộp
trong kỳ tính thuế của doanh nghiệp
1.1.2.2 Vai trò của quản lý thuế
Quản lý thuế là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyên
trong đó có các cơ quan quản lý thuế. Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế không chỉ
đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ thống cơ quan Nhà nước, mà có tác động tích cực tới
quá trình thu, nộp thuế và NSNN, cụ thể:
- Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được
tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN. Thông qua việc lựa chọn
áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy
trình, thủ tục về thuế hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời
các vi phạm pháp luật của cơ sở kinh doanh.
1.2.1.2 Quản lý hóa đơn chứng từ.
Hóa đơn chứng từ là căn cứ quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ thuế
GTGT. Đặc thù của sắc thuế này là việc khấu trừ thuế va hoàn thuế mà hiệu quả của việc
thực hiện nó phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý hóa đơn chứng từ làm cơ sở xác định
số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp và số thuế GTGT được
16
hoàn. Nếu công tác quản lý hóa đơn, chứng từ không tốt sẽ có hậu quả không nhỏ, mà nổi
cộm nhất là vấn đề trốn lậu thuế gây thất thoát lớn cho NSNN. Để quản lý tốt hóa đơn
chứng từ, về phía cơ quan quản lý cần có quy định chặt chẽ rõ ràng từ khâu in, phát hành,
quản lý, sử dụng hóa đơn; quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm.
Ngoài ra, để công tác quản lý hóa đơn chứng từ có hiệu quả, cần tăng cường công tác
thanh tra kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc cấp phát và sử dụng hóa đơn chứng từ, thực hiện
xử lý nghiêm minh và có hình phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm. Hơn nữa,
cần có biện pháp thích hợp khuyến khích các đối tượng tiêu dùng, đặc biệt là dân cư khi
mua hàng phải lấy hóa đơn.
1.2.1.3 Quản lý công tác hoàn thuế GTGT
Hoàn thuế GTGT là một trong những nội dung rất quan trọng của Luật thuế
GTGT, góp phần phát huy tác dụng tích cực của sắc thuế này trong việc khuyến khích và
thúc đẩy các cơ sở kinh doanh xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, giải quyết khó khăn về vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh. Khâu hoàn thuế
GTGT là một khâu rất dễ xảy ra các gian lận để chiếm đoạt. Do vậy, công tác hoàn thuế
phải được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo vừa hoan thuế đúng, kịp thời cho các đối tượng
được hoàn, vừa phải kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và ngăn ngừa sự chiếm đoạt tiền thuế
của NSNN. Để thực hiện tốt việc hoàn thuế GTGT, trước hết, cần có quy trình hoàn thuế
rõ ràng, cụ thể; tăng cường phối kết hợp kiểm tra thanh tra trong nội bộ ngành thuế, nâng
cao trình độ trách nhiệm của cán bộ làm công tác hoàn thuế. Ngoài ra, cần chủ động
chuyển dần sang áp dụng công nghệ hiện đại, ứng dụng tin học trong quản lý thuế.
1.2.2 Quy trình quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Quy trình quản lý thu thuế được xây dựng nhằm cải tiến công tác thu thuế theo
nộp tiền và nộp thuế vào Kho bạc. Kho bạc thu tiền thuế và xác nhận vào giấy nộp tiền,
chuyển một bản cho cơ quan thuế để nhập số liệu trên giấy nộp tiền vào máy tính để theo
dõi tình hình nộp thuế của đối tượng nộp thuế .
- Lập sổ thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế: Đội kê khai – kế toán thuế lập sổ
thuế, báo cáo kế toán, thống kê thuế theo chế độ quy định. Thực hiện đối chiếu số thu với
kho bạc, theo dõi tiến độ thực hiện của các đơn vị trong ngành, báo cáo lãnh đạo chi cục
để phục vụ công tác chỉ đạo thu.
18
1.2.2.3 Quy trình xử lý hoàn thuế
Quy trình hoàn thuế GTGT đối với DNNQD vẫn được áp dụng trong những năm từ
2011 đến 2013 được ban hành theo quyết định số 905/QĐ – TCT ngày 01/07/2011 của
Tổng cục trưởng tổng cục thuế. Sau đây là mô tả tóm tắt quy trình trên:
Tiếp nhận hồ sơ:
- Hồ sơ hoàn thuế gửi qua đường bưu chính, bộ phận HCVT tiếp nhận hồ sơ.
- Hồ sơ hoàn thuế nộp trực tiếp tại bộ phận “một cửa” và hồ sơ do bộ phận HCVT
chuyển đến, bộ phận “một cửa”.
- Hồ sơ hoàn thuế gửi đến qua giao dịch điện tử.
- Bộ phận tiếp nhận hồ sơ chuyển hồ sơ đã đầy đủ, đúng thủ tục đến bộ phận có liên
quan ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất là đầu giờ ngày làm việc tiếp theo kể từ
khi nhận được hồ sơ hoàn thuế của NNT tại CQT.
Phân loại hồ sơ:
-Kiểm tra thủ tục, đối chiếu, phân loại hồ sơ hoàn thuế thuộc diện:
+ Hoàn thuế trước, kiểm tra sau.
+ Kiểm tra trước, hoàn thuế sau.
-Chuyển đến bộ phận giải quyết hoàn thuế.
(Thời gian thực hiện các công việc nêu trên chậm nhất không quá 02 (hai) ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ do bộ phận tiếp nhận hồ sơ chuyển đến).
Giải quyết hồ sơ hoàn thuế:
- Giải quyết hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau.
- Giải quyết hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau.
1.3.1 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ảnh hưởng tới quản lý thuế
Mọi cơ sở sản xuất kinh doanh đều lấy mục tiêu lợi nhuận lầm thước đo hiệu quả.
Tuy nhiên ở nước ta phát triển sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng
XHCN. Vì vậy vị trí và vai trò của mỗi thành phần kinh tế có khác nhau. Các cơ sở sản
xuất kinh doanh thuộc thành phần kinh tế ngoài Quốc doanh lấy lợi nhuận là mục tiêu
chính của hoạt động sản xuất kinh doanh. Những đặc trưng này ảnh hưởng đến công tác
quản lý thu thuế thường là những thách thức hơn là thuận lợi. Cụ thể như sau:
- Đặc điểm về sở hữu: Đây là khác biệt cơ bản nhất giữa doanh nghiệp ngoài Quốc
doanh với doanh nghiệp Nhà nước và thành phần kinh tế tư bản Nhà nước. Toàn bộ vốn,
tài sản của doanh nghiệp ngoài Quốc doanh đều thuộc sở hữu tư nhân. Chủ doanh nghiệp
hoặc chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động SXKD và
toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ
nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của Nhà nước hoặc từ cơ quan
quản lý. Do đó, họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất bằng cách
trốn, tránh thuế bằng nhiều thủ đoạn tinh vi như dấu doanh thu, không xuất hóa đơn hoặc
mua bán hóa đơn ma. Vì vậy việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
cần được cơ quan thuế chú trọng tập trung, quản lý chuyên nghiệp
- Đặc điểm về trình độ văn hóa, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: So với
những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế đầu tư nước
ngoài thì phần lớn những người chủ các DNNQD có trình độ văn hóa chưa cao, chưa
được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự phát
hoặc theo kinh nghiệm. Vì vậy, nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNQD
còn thấp, số đông các cơ sở kinh tế ngoài Quốc doanh hoạt động ở lĩnh vực thương mại
và dịch vụ, mục đích chính là mua đi bán lại để hướng chênh lệch giá, một số nhỏ hoạt
động ở lĩnh vực sản xuất thì đa số sử dụng máy móc thiết bị cũ kỹ, trình độ công nghệ
thấp, trình độ quản lý không cao do đó năng suất lao động đạt thấp, chất lượng hàng hóa
sản xuất không cao
Theo quy định của pháp luật thì những người đủ 18 tuổi và có đủ năng lực hành vi
dân sự là có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, không yêu cầu về trình độ văn
21
điều này được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
22
- Thứ nhất, góp phần huy động các nguồn lực trong xã hội, giải quyết công ăn việc
làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp giúp nền kinh tế phát triển ổn định. Từ đó
công tác giữ gìn ổn định trật tự xã hội được củng cố nhờ đó mà tệ nạn xã hội giảm đi
đáng kể.
- Thứ hai, trong điều kiện hiện nay, DNNQD là một thực thể tồn tại để vừa cạnh
tranh, vừa hợp tác. Nó ví như nhân tố xúc tác quan trọng góp phần vào sự phát triển
chung của nền kinh tế. Xét trong mối quan hệ hợp tác, DNNQD là các đơn vị dịch vụ
trung gian, đại lý tiêu thụ sản phẩm hoặc tham gia sản xuất gia công một phần, một công
đoạn của quá trình kinh tế. Điều đó tạo nên sự tác động tương hỗ cho các doanh nghiệp
cùng phát triển cân đối trở thành động lực phát triển nền kinh tế, tăng năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm. Những năm gần đây, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ do khối DNNQD
tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại, mặt hàng, chất lượng tốt. Do đó đã
giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ ngày càng cao của xã hội, giúp
phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hóa xuất khẩu.
Nhiều sản phẩm trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã được các
doanh nghiệp sản xuất thay thế và được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm như: ô tô,
xe máy, mặt hàng đồ điện, may mặc, gia dụng
- Thứ ba, DNNQD là khu vực tạo ra nguồn thu lớn cho NSNN. Nguồn thu này
tăng nhanh trong những năm qua là cơ sở để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển
các hoạt động xã hội công như: y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo
1.3.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế GTGT đối với Doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
Để thuế GTGT phát huy hết vai trò, tác dụng của nó thì chúng ta cần thiết phải
tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp đặc biệt là DNNQD.
Sự cần thiết này xuất phát từ các lý do sau:
- Thứ nhất, xuất phát từ bản chất, vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
23
Các DNNQD dần trở thành nhân tố chính sản xuất ra sản phẩm của xã hội, đóng
cao cũng như vấn đề dùng thuế để tài trợ cho người nghèo không được thực hiện vì vậy
mà công bằng xã hội không được đảm bảo, vai trò của Nhà nước đối với đời sống xã hội
bị giảm sút. Vì lý do đó nhằm đảm bảo công bằng trong xã hội thì công tác quản lý thuế
GTGT đối với DNNQD là điều quan trọng cần làm.
25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM.
2.1. Vài nét sơ lược về huyện Gia Lâm
2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Gia Lâm
- Về vị trí địa lý
Huyện Gia Lâm nằm ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội. Phía Bắc của Huyện là
huyện Long Biên; phía Tây Nam có địa giới là dòng sông Hồng, bên kia bờ là huyện
Thanh Trì và huyện Hoàng Mai; phía Đông Bắc và Đông giáp với các huyện Từ Sơn,
Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh Bắc Ninh; phía Nam giáp với huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng
Yên.
Diện tích: 114,79 km2.
Dân số: khoảng 243.957 người (năm 2011).
Huyện Gia Lâm ngày nay gồm 20 xã, 2 thị trấn. Đó là các xã: Bát Tràng, Cổ Bi,
Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đặng Xá, Đa Tốn, Đình Xuyên, Đông Dư, Kiêu
Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Phú Thị, Trung Màu, Yên Viên,
Yên Thường, Văn Đức và 2 thị trấn: Yên Viên, Trâu Quỳ.
Trụ sở cơ quan lãnh đạo Huyện đóng tại thị trấn Trâu Quỳ.
Gia Lâm được xác định là vùng kinh tế trọng điểm, là địa bàn quân sự chiến lược
ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội. Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến đường giao thông
quan trọng đã và đang được đầu tư xây dựng: Quốc lộ 1A; Quốc lộ 1B; Quốc lộ 3 mới Hà
Nội - Thái Nguyên; Quốc lộ 5; Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; đường Hà Nội -
Hưng Yên; đường 181 ; đường thuỷ sông Hồng, sông Đuống, ga Yên Viên và hệ thống
đường sắt ngược lên phía Bắc, Đông Bắc và xuôi cảng biển Hải phòng. Trên địa bàn
Huyện có nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và các trung tâm thương mại được hình