LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian hai mươi tuần làm luận văn tốt nghiệp, với sự cố gắng của bản
thân và sự hướng dẫn tận tình, khoa học của thầy giáo PGS.TS. Phạm Hùng em đã
hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình. Với đề tài : “Giải pháp nâng cao hiệu
quả trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình ngành thủy lợi, sử dụng
vốn trái phiếu chính phủ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011- 2015 “.
Thời gian làm luận văn tốt nghiệp là một dịp tốt để em có điều kiện hệ thống
lại kiến thức có được trong thời gian nghiên cứu, học tập tại trường Đại học Thủy
lợi, giúp em biết cách vận dụng lý luận thực tiễn để phục vụ trong quá trình công
tác – công việc của một người trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Những điều
đó đã giúp em hiểu thêm và củng cố vững chắc những kiến thức về quản lý xây
dựng để có thể hoàn thành tốt công việc mà bản thân đang làm, góp phần nhỏ bé
vào công cuộc xây dựng Tổ quốc.
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm
ơn thầy giáo PGS.TS. Phạm Hùng đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình
hướng dẫn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Công nghệ
và quản lý xây dựng và khoa Kinh tế, cũng như các thầy cô giáo trong trường đã
giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, học tập tại trường. Em vô cùng biết ơn gia
đình, bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em học tập
và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn, nên trong luận văn này
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô giáo góp ý để em hoàn
thiện vấn đề nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày 18 tháng 02 năm 2014
Học viên Phan Tiến Thành
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác
quản lý đầu tư xây dựng công trình ngành thủy lợi, sử dụng vốn trái phiếu chính
1.1.3. Các phương thức huy động vốn bằng trái phiếu Chính phủ 6
1.1.4. Kế hoạch phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ cho các dự án đầu tư xây
dựng công trình 7
1.1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn
trái phiếu Chính phủ 8
1.1.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả trong việc đầu tư xây dựng công
trình từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 13
1.2. Những vấn đề lý luận về đầu tư và về đầu tư xây dựng công trình 15
1.2.1. Khái niệm về đầu tư, dự án đầu tư 15
1.2.2. Đầu tư xây dựng công trình, đặc điểm và vai trò của các dự án đầu tư
xây dựng công trình đối với xã hội 17
1.2.3. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, các nguồn vốn đầu tư xây dựng được sử
dụng hiện nay 21
1.2.4. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình 22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH NGÀNH THỦY LỢI SỬ DỤNG NGUỒN VỐN TRÁI PHIẾU
CHÍNH PHỦ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA
KẾ HOẠCH 2011-2015 24
2.1. Tình hình vốn ngân sách nhà nước nói chung và vốn trái phiếu Chính phủ nói
riêng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn 2011-2015 24
2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội những năm đầu giai đoạn 2011 – 2015 24
2.1.2. Tình hình vốn ngân sách nhà nước nói chung và vốn Trái phiếu Chính
Phủ nói riêng trong giai đoạn 2011-2015 28
3.1. Phương hướng, kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình ngành thủy lợi trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2015 65
3.2. Quan điểm về nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng công trình ngành Thủy lợi
sử dụng vốn TPCP trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2015 67
3.2.1. Nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án ngay từ khâu quy hoạch và phê
duyệt dự án 67
3.2.2. Nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án phải tiến hành chống lãng phí và
thất thoát vốn đầu tư 67
3.2.3. Hoàn thiện, nâng cao cơ chế quản lý để nâng cao hiệu quả KT-XH của
dự án đầu tư 68
3.2.4. Coi trọng cơ chế giám sát của nhân dân là cách để nâng cao hiệu quả đầu
tư dự án xây dựng 69
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý đầu tư xây dựng
công trình ngành thủy lợi sử dụng nguồn vốn TPCP trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
trong những năm tới 70
3.3.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý 70
3.3.2. Xác định chủ trương đầu tư, công tác lập kế hoạch, phê duyệt đầu tư 70
3.3.3. Nâng cao chất lượng trong công tác quản lý đầu tư ở các giai đoạn của
dự án 72
3.3.4. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, công tác quản lý các dự án đầu
tư xây dựng 81
Kế hoạch chung vốn Trái phiếu Chính Phủ tỉnh Ninh Bình giai đoạn
2011-2015
Phụ lục 2-2
Kế hoạch vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011-2015 ngành Thủy
Lợi tỉnh Ninh Bình
Phụ lục 2-3
Các dự án đầu tư từ vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011-2015
ngành Thủy Lợi tỉnh Ninh Bình phải điều chỉnh chỉnh quyết định đầu
tư
Phụ lục 2-4
Tình hình nợ đọng vốn TPCP ở các dự án đầu tư xây dựng công trình
ngành Thủy lợi giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Phụ lục 2-5
Tổng hợp giá trị nghiệm thu, thanh, quyết toán tại các dự án đầu tư
Thủy lợi trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2011-2015
Phụ lục 2-6
Tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản trên cả nước
Phụ lục 2-7
Các công trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng Thủy lợi từ năm 2006 đến
nay sử dụng vốn TPCP đã hoàn thành và đưa vào sử dụng
Phụ lục 2-8
Danh sách các Ban quản lý dự án các công trình, dự án đầu tư cơ sở
hạ tầng Thủy lợi sử dụng vốn TPCP
Hình 1-1
Mô hình quản lý, thanh toán vốn TPCP ở Việt Nam và Ninh Bình CÁC TỪ NGỮ ĐƯỢC VIẾT TẮT
Số TT
HĐND
Hội đồng nhân dân
11
KBNN
Kho bạc Nhà nước
12
KT- XH
Kinh tế- Xã hội
13
NBD
Nước biển dâng
14
NSĐP
Ngân sách địa phương
15
NSNN
Ngân sách Nhà nước
16
NSTW
Ngân sách Trung ương
17
QLNN
Quản lý Nhà nước
18
TSCĐ
Tài sản cố định
19
TPCP
Trái phiếu Chính phủ
20
nông nghiệp nói chung.
Trong những năm qua, xây dựng cơ bản có vai trò lớn trong việc phát triển
kinh tế - xã hội, CSHT dần được hoàn thiện với hàng loạt các dự án được đầu tư
xây dựng từ các nguồn vốn, đặc biệt là từ vốn trái phiếu Chính phủ, trong đó hạ
tầng thủy lợi và hạ tầng giao thông được chú trọng hơn cả. Tuy nhiên, nền kinh tế
thế giới đi vào khủng hoàng, cùng với hàng loạt sự sụp đổ, bê bối của các doanh
nghiệp Nhà nước, làm cho NSNN trở nên hết sức khó khăn. Nguồn vốn dành cho
đầu tư XDCB vì thế cũng trở nên khan hiếm, vì vậy đòi hỏi trong giai đoạn này,
phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư, tránh thất thoát và lãng phí vốn đầu tư.
2
Trong Nghị quyết 11/2011- NQ-CP và Nghị quyết 11/2011/QH13 đã nêu ra
những nhiệm vụ và giải pháp nhằm thắt chặt chi tiêu công từ ngân sách Nhà nước
và trái phiếu Chính phủ trong đó đặt biệt đề cao tới việc nâng cao hiệu quả trong
đầu tư các dự án trong lĩnh vực XDCB trên địa bàn cả nước, trong đó có tỉnh Ninh
Bình.
Những năm qua, tỉnh Ninh Bình được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ nên
bộ mặt đang ngày càng thay đổi. Trở thành một tỉnh năng động, với một thành phố
Ninh Bình trẻ trung với nhiều tiềm lực để phát triển thành một đô thị kiểu mẫu với
các ngành, dịch vụ du lịch phát triển. Hoạt động đầu tư xây dựng các công trình
trong đó có ngành thủy lợi đã diễn ra rất sôi nổi với rất nhiều các dự án, từ những
dự án có quy mô vừa và nhỏ cho tới những dự án có quy mô lớn, đã tăng cường khả
năng tiêu thoát lũ ở các vùng phân lũ và tăng hiệu quả tưới, giúp tăng năng suất
trong nông nghiệp, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng; góp
phần thay đổi bộ mặt nông thôn cũng như đô thị trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn những bất cập và tồn tại
trong quá trình quản lý đầu tư như: xuất hiện dấu hiệu đầu tư dàn trải, công tác quản
lý đầu tư từ các cấp chưa thực sự tốt, trình độ quản lý dự án chưa cao nên đã ảnh
hưởng tới hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực XDCB của Nhà nước thông qua nguồn trái
DỤNG VỐN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1. Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn
vốn trái phiếu Chính phủ
1.1.1. Khái niệm về trái phiếu và trái phiếu Chính phủ
1.1.1.1. Trái phiếu
Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho
người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá trái phiếu), trong
một thời gian xác định và với một lợi tức quy định.
Trái phiếu là loại chứng khoán nợ, tổ chức phát hành với tư cách là người đi
vay, còn người mua trái phiếu là người cho vay (hay là nhà đầu tư). Đối với người
thiếu vốn, trái phiếu là phương tiện vay vốn qua thị trường còn đối với người đầu tư
thì trái phiếu là một phương tiện để đầu tư thu lời.
Người phát hành trái phiếu có thể là doanh nghiệp (trường hợp này gọi là trái
phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trường hợp
này gọi là trái phiếu kho bạc), chính quyền (trường hợp này gọi là công trái hoặc
trái phiếu Chính phủ).
Người mua trái phiếu, trái chủ có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc
Chính phủ. Trái chủ được ghi trên trái phiếu (trái phiếu ghi danh) hoặc không được
ghi (trái phiếu vô danh).
Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách
nhiệm nào về kết quả sự dụng vốn vay của người vay. Nhà phát hành có nghĩa vụ
phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay.
1.1.1.2. Trái phiếu Chính phủ
- Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm
huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án
đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước.
5
- Các loại trái phiếu Chính phủ :
+) Tín phiếu kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần, 26 tuần
1.1.3. Các phương thức huy động vốn bằng trái phiếu Chính phủ
Huy động vốn bổ sung cho ngân sách Nhà nước bằng việc phát hành trái
phiếu Chính phủ trong nước và quốc tế
1.1.3.1. Phát hành trái phiếu trong nước
- Tín phiếu kho bạc được phát hành theo phương thức đấu thầu qua sở giao
dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc phát hành trực tiếp cho Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về
trình tự thủ tục phát hành tín phiếu kho bạc. Trường hợp phát hành trực tiếp tín
phiếu kho bạc cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính thống nhất với
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
với từng đợt phát hành.
- Trái phiếu Chính phủ được phát hành theo các phương thức như:
+) Đầu thầu phát hành trái phiếu
+) Bảo lãnh phát hành trái phiếu
+) Đại lý phát hành trái phiếu
+) Bán lẻ trái phiếu
1.1.3.2. Phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế
Việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế do Bộ tài chính chủ trì, phối
hợp với các Bộ, ngành và các tổ chức liên quan để tổ chức phát hành trái phiếu theo
đề án đã được Chính phủ phê duyệt
Căn cứ theo tình hình thực tế và quy định pháp luật, Bộ Tài chính quyết định
trình tự phát hành theo các bước :
- Lựa chọn các tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành: lựa chọn một hoặc
một số tổ chức tài chính, tín dụng đầu tư quốc tế hàng đầu trên thế giới, có kinh
nghiệm trong lĩnh vực phát hành trái phiếu để bão lãnh phát hành cho đợt phát hành
trên cơ sở chào thầu cạnh tranh theo tiêu chí cụ thể và danh sách các tổ chức do tạp
chí uy tín quốc tế bình chọn
7
- Lựa chọn các tư vấn pháp lý: chủ trì, phối hợp với tổ chức hoặc tổ hợp bảo
ương.
Kế hoạch phân bổ nguồn vốn hàng năm cho các dự án do Bộ Kế hoạch và
đầu tư phối hợp cùng với Bộ Tài chính, dựa trên dự toán Ngân sách hàng năm do
Quốc hội thông qua.
1.1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn trái
phiếu Chính phủ
Do nguồn vốn TPCP thực chất là một chứng khoán nợ của Chính phủ vì vậy
sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo được tính hiệu quả sao cho thỏa mãn được
nhu cầu của xã hội. Việc đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư bằng nguồn vốn TPCP là
rất cần thiết, đặc biệt là đối với nền kinh tế kém phát triển, có mức thu nhập thấp
như nước ta.
Lợi ích của vốn đầu tư mang lại bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
Biểu hiện của lợi ích kinh tế là tăng thu nhập quốc dân, nâng cao mức sống, làm
thay đổi cơ cấu và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, từ đó làm tăng thu ngân sách Nhà
nước Còn lợi ích xã hội biểu hiện lợi ích chính trị, quốc phòng, an ninh chính trị,
ổn định xã hội, phát triển văn hóa, tăng cường sự bình đẳng và quyền lợi giữa các
vùng miền.
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư, thường sử dụng các nhóm chỉ
tiêu sau:
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư chung:
- Chỉ tiêu ICOR: dùng để phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng
qua công thức:
GDP
I
ICOR =
∆
(1.1)
Trong đó:
ICOR: Hệ số tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội
Công thức này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân của tổng VĐT bỏ ra trong một thời
kỳ so với thời kỳ khác. Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với kết quả thu được, kết quả đầu ra
nhiều thì hiệu quả đạt được cao. Nó có thể được định lượng thông qua các chỉ tiêu
như: Giá trị tài sản cố định tăng thêm, số km đường, số km đê được cải tạo
Để tính hiệu quả vốn đầu tư tài sản cố định tăng thêm dùng công thức hệ số
thực hiện vốn đầu tư:
FA
H
I
=
(1.3)
Trong đó:
H : Hệ số thực hiện vốn đầu tư
FA: Giá trị tài sản cố định được đưa vào sử dụng trong kỳ
I : Tổng số vốn đầu tư trong kỳ
10
Hiệu suất tài sản cố định (Hfa) biểu hiện sự so sánh giữa khối lượng tổng sản
phẩm quốc nội được tạo ra trong kỳ (GDP) với khối lượng giá trị tài sản cố định
trong kỳ (FA) được tính theo công thức:
Hfa =
GDP
FA
(1.4)
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ nào đó, một đồng giá trị TSCĐ sử dụng tạo ra
bao nhiêu đồng sản phẩm quốc nội.
Tài sản cố định là kết quả do vốn đầu tư tạo ra, do đó hiệu suất tài sản cố
T
LK
=
=
Σ
=
Σ+
(1.6)
Trong đó:
V
i
: Số vốn đầu tư ứng trước năm i
L
i
: Lợi nhuận ròng bình quân đến năm thứ i
11
K
i
: Khấu hao tài sản cố định bình quân đến năm thứ i
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần (NPV : net present value):
Giá trị hiện tại thuần là tổng lãi ròng của cả đời dự án được chiết khấu về
năm hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu nhất định.
n
ii
i
i0
BC
NPV
vay trên thị trường vốn.
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR : Internal Rate of Return)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) là tỷ suất chiết khấu mà ứng với nó giá trị
hiện tại thuần NPV =0
12
n
ii
i
i0
BC
NPV
(1 r)
=
−
= Σ
+
=0
→
nn
ii
ii
i0 i0
BC
(1 r) (1 r)
= =
Σ=Σ
++
Tỷ số lợi ích / chi phí (B/C) là tỷ số giữa hiện giá thu nhập và hiện giá chi
phí, được tính theo công thức:
t
t
tt
t
t
tt
B
(1 i )
B/C
C
(1 i )
+
=
+
∑
∑
(1.10)
Trong đó :
B
t
: Là lợi ích trong năm t (thu nhập tại năm t)
I
tt
: Lãi suất tính toán
n : Năm cuối ứng với tuổi thọ kinh tế của dự án
C
t
Một là, công tác quy hoạch và kế hoạch hoạt động đầu tư là công cụ quản lý
hoạt động đầu tư. Để nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng công trình từ nguồn vốn
TPCP thì công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu của phát
triển kinh tế, nhu cầu của xã hội. Mục đích cuối cùng của hoạt động đầu tư xây
dựng công trình là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở kỹ thuật
cho nền sản xuất xã hội. Do đó nhu cầu của nền kinh tế là xuất phát điểm cho việc
lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư phải dựa vào định hướng lâu dài của Nhà nước, phù
hợp với quy định của pháp luật. Kế hoạch đầu tư phải dựa trên khả năng huy động
của nguồn lực trong và ngoài nước đảm bảo tính vững chắc và có mục tiêu rõ ràng.
Công tác quy hoạch và lập kế hoạch phải đảm bảo tính khoa học, đồng bộ và liên
tục. Có như vậy thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ vốn TPCP mới được nâng cao,
ngược lại nếu công tác quy hoạch, lập kế hoạch đầu tư tính khoa học không cao,
không xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế, không có mục đích rõ ràng, không có
tính bền vững thì dễ gây nên lãng phí, thất thoát trong lĩnh vực đầu tư XDCB.
14
Có thể khẳng định công tác quy hoạch, lập kế hoạch ảnh hưởng đặc biệt quan
trọng đến hiệu quả trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình. Thực tế đầu tư xây
dựng công trình trong những năm gần đây cho thấy, nếu quy hoạch yếu thì tình
trạng các công trình, dự án chồng chéo nhau, hôm trước rải nhựa làm đường, hôm
sau lại bóc lên để làm đường sử dụng mục đích khác….hoặc các công trình dang dở,
đến khi đưa vào sử dụng thì không có hiệu quả như các chợ đầu mối…Quy hoạch
dàn trải sẽ làm cho đầu tư xây dựng cơ bản những năm sau đó sẽ hết sức khó khăn,
từ nguồn vốn thực hiện cho đến việc phải quy hoạch lại.
Hai là, các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động lớn đến hiệu quả
trong đầu tư. Đó là các chính sách đầu tư, các chính sách điều tiết vĩ mô, vi mô như
chính sách thuế, chính sách chi tiêu của Chính phủ, chính sách tiền tệ…
Chính sách kinh tế góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo điều kiện
cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được
sử dụng có hiệu quả cao hay thấp. Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu
1.2.1.1. Đầu tư
Đầu tư là quá trình sử dụng, là sự hy sinh các nguồn lực (tiền, tài nguyên
thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ và các tài sản vật chất khác) để tiến hành hoạt động
tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền
kinh tế nói chung, của địa phương, của ngành, của các cơ sở sản xuất kinh doanh
dịch vụ, các cơ quan quản lý nhà nước, xã hội và các cá nhân nhằm thu lợi lớn hơn
cho người đầu tư trong tương lai. Kết quả trong tương lai đó có thể là sự tăng
trưởng về tài sản tài chính, tài sản vật chất hay tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực cần
thiết cho nền sản xuất xã hội. Đầu tư là việc bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình hoặc
vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật
đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Hoạt động đầu tư gồm có
đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Hoạt động đầu tư gián tiếp là hoạt động bỏ vốn trong đó người bỏ vốn không
tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư bỏ ra, đó là các hình thức như mua cổ phần,
cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, các quỹ đầu tư chứng khoán.
16
Hoạt động đầu tư trực tiếp là hoạt động trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham
gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra. Nó chia ra thành 2 loại đầu tư chuyển
dịch và đầu tư phát triển trong đó :
- Đầu tư chuyển dịch là hoạt động đầu tư mà chủ đầu tư bỏ tiền để mua lại
một số lượng đủ lớn cổ phiếu của một doanh nghiệp nhằm tham gia nắm quyền điều
hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó
- Đầu tư phát triển là hoạt động bỏ vốn nhằm gia tăng tài sản, tạo ra những
năng lực sản xuất, phục vụ mới bao gồm: xây dựng, cải tạo mở rộng các công trình
mới, các hoạt động dịch vụ mới, cải thiện đời sống người lao động.
Vậy có thể thấy, đầu tư trong xây dựng cơ bản là hình thức đầu tư phát triển.
1.2.1.2. Dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn,
mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tương
điểm cụ thể. Đầu tư xây dựng công trình là hoạt động cụ thể để hình thành nên các
công trình xây dựng mới thông qua các bước khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt
máy móc thiết bị.
XDCB và đầu tư XDCB là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố
định. Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát
triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động chủ yếu tạo ra tài
sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, nhằm thu
được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc
dân được thông qua nhiều hình thức như xây dựng, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa
hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Do vậy đầu tư XDCB là tiền đề quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các
cơ sớ sản xuất kinh doanh nói riêng.
1.2.2.2. Đặc điểm của đầu tư xây dựng công trình
Đặc điểm chung của đầu tư xây dựng công trình nói riêng và của đầu tư xây
dựng cơ bản nói chung là:
a. Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài
18
Hoạt động đầu tư XDCB đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn.
Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư. Vì vậy trong quá trình
đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý
đồng thời phải có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo
cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn nhân lực.
b. Thời gian dài với nhiều biến động
Thời gian tiến hành dự án đầu tư xây dựng cho đến khi dự án hoàn thành đưa
vào sử dụng thường khá dài qua nhiều năm tháng và xuất hiện nhiều biến động về
giá cả vật liệu, tiền lương. Do vậy tiến độ của dự án là một yếu tố quan trọng cần
phải lưu ý.
c. Có giá trị sử dụng lâu dài
Công trình được đưa vào sử dụng sau khi dự án đầu tư kết thúc có giá trị sử