THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN Ở VIỆT NAM - Pdf 24

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế càng phát triển càng đòi hỏi các quốc gia phải tự biến mình thành một
bộ phận, một khâu trong dây chuyền sản xuất quốc tế. Hội nhập kinh tế là công
cụ duy nhất giúp chúng ta thực hiện được điều này. Ngày 11/1/2007, Việt Nam
chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Điều
này đã đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế
của nước ta. Việc trở thành thành viên của WTO đem lại chúng ta nhiêu cơ hội
lớn nhưng cũng đặt ra cho Việt Nam rất nhiều thách thức cho nền kinh tế nước
ta vẫn còn kém phát triển. Vấn đề năng lực cạnh tranh, chất lượng hàng hoá -
dịch vụ đang là bài toán nan giải trong các ngành và toàn bộ nền kinh tế. Thuỷ
sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta trong thời gian
qua và những năm tới. Hiện nay, Nhà nước ta đang có kế hoạch phat triển thuỷ
sản trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đi đầu trong danh sách các mặt hàng
1
xuất khẩu chủ lực, góp phần tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy,
hoạt động xuất khẩu thuỷ sản có ý nghĩa rất lớn đối với kinh tế nước ta trong
những năm tới. Cũng chính vì điều này mà tôi chọn đề tài: Tác động của việc
gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu ngành thuỷ sản Việt Nam để thực hiện
để án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO đã giúp đỡ tôi hoàn
thành đề án này.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU
THUỶ SẢN
I/ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU THUỶ SẢN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
QUỐC DÂN.
1/ Khái quát về thuỷ sản
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp và thuỷ sản. Như vậy, khi nói đến ngành thuỷ sản, người ta nói đến
ba khía cạnh chủ yếu sau đây:
Một là, ngành thuỷ sản là một bộ phận hay còn gọi là một phân ngành của

2/ Vai trò của xuất khẩu thuỷ sản dối với kinh tế Việt Nam
Đối với những nước có tiềm năng về thuỷ vực và nguồn lợi thuỷ sản, phát
triển ngành thuỷ sản tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, tăng thu ngoại tệ
cho đất nước.
3
Trong nhiều năm qua, ngành thuỷ sản nước ta đã từng bước phát triển và có
đóng góp quan trọng vào hoạt động xuất khẩu của đất nước. Năm 1980, sản
lượng thuỷ sản cả nước đạt 558,66 ngàn tấn, trong đó xuất khẩu 2,72 ngàn tấn,
đạt giá trị kim ngạch 11,3 triệu USD. Đến năm 2001, sản lượng đạt 2.226,9 ngàn
tấn (tăng gần 4 lần), xuất khẩu là 358,833 ngàn tấn (tăng gần 132 lần), đạt giá trị
kim ngạch là 1760 triệu USD (tăng 155 lần ). Năm 2003, mặc dù ngành thuỷ sản
nước ta phải đối mặt với những diễn biến phức tạp của thị trường thế giới,
những rào cản thương mại của một số nước, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu
thuỷ sản vẫn đạt 2,3 tỷ USD (bằng 1,3 lần so với năm 2000),trong đó giá trị xuất
khẩu tôm đạt trên 1tỷ USD đã khẳng định vị trí xuất khẩu tôm trên thị trường thế
giới và trong nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ta. Đối với các doanh nghiệp chế
biến xuất khẩu trong ngành thuỷ sản, đến nay đã có những bước tiến quan trọng
trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh. Đã có 100 doanh nghiệp
được EU công nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh, hơn 120 doanh nghiệp được
cấp giấy phép vào thị trường Mỹ. Các doanh nghiệp cũng từng bước nâng cao
năng lực xúc tiến thương mại để đi vào các thị trường mới. Đối với toàn ngành
thuỷ sản, đã có những tiến bộ đáng kể về gắn kết giữa yêu cầu thị trường ngoài
nước ( về số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ) với thực tiễn sản
xuất kinh doanh chế biến, nuôi trồng, khai thác với phát triển cơ sở hậu cần dịch
vụ; gắn kết giữa khâu chế biến xuất khẩu với yêu cầu vệ sinh trong nuôi trồng,
bảo quản và khai thác sản phẩm, gắn kết giữa khâu chế biến xuất khẩu với chế
biến phục vụ nhu cầu thị trường nội địa. Hiện nay sản phẩm thuỷ sản Việt Nam
đã xuất khẩu tới 80 nước và vùng lãnh thổ thế giới và đem lại nguồn thu khá lớn
cho đất nước.
Ngoài ra xuất khẩu thuỷ sản còn tạo điều kiện cho Việt Nam đi sâu khai phá

khuyên người tiêu dùng hoặc ra lệnh cho các viên chức dùng hàng hoá nội địa.
Như vậy , hàng rào phi thuế quan có thể được khái quát là những khác biệt trong
những quy định hoặc tập quán của các quốc gia làm cản trở sự lưu thông tự do
của hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất với các nước. Biện pháp hạn chế
5
xuất khẩu tự nguyện cũng là một trong các hình thức của hàng rào mậu dịch phi
thuế quan. Thực chất đây là cuộc thương lượng mậu dịch giữa các bên để hạn
chế bớt sự xâm nhập của hàng ngoại, tạo công ăn biệc làm cho thị trường trong
nước.
Theo cam kết của Việt Nam với WTO thì sẽ có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế
của biểu thuế phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Một số
mặt hàng nông sản vẫn được duy trì mức bảo hộ nhất định. Cá là một trong
những mặt hàng có mức cắt giảm thuế nhiều nhất.
3.3. Trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu là những biện pháp của Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp
sản xuất hàng xuất khẩu và các doanh nghiệp kinh doanh XK nhằm tăng nhanh
số lượng hàng và trị giá kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ. Bên cạnh
những công cụ nhằm hạn chế NK còn có những công cụ dùng để nâng đỡ hoạt
động XK. Trợ cấp XK là những biện pháp mà Chính phủ áp dụng như trợ cấp
trực tiếp hoặc cho vay với tỷ lệ lãi suất thấp hoặc là miễn thuế cho các nhà xuất
khẩu trong nước. Mặt khác, Chính phủ cũng có thể thực hiện một khoản cho vay
ưu đãi đối với các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm do
nước mình sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài. Biện pháp này thường được
các nước công nghiệp phát triển áp dụng dưới danh nghĩa khoản tín dụng viện
trợ cho các nước đang phát triển vay.
Việc áp dụng một khoản trợ cấp cho các nhà sản xuất trong nước sẽ làm cho
cung tăng. Lượng sản xuất ra tăng đúng bằng lượng hàng nhập khẩu giảm.
Người sản xuất trong nước được lợi vì thực tế họ dược trả ở mức giá cao hơn so
với mức giá khi nhập khẩu tự do. Còn ngươi tiêu dùng thì không có gì thay đỏi
vì họ vẫn phải trả mức giá không thay đổi như khi nhập khẩu tự do. Còn Chính

hệ số thanh toán giữa XK và NK hay sự chênh lệch XNK.Khi kim ngạch XK
7
lớn hơn kim ngạch NK trong một khoảng thời gian ( thường là 1 năm) thì gọi là
xuất siêu và ngược lại goi là nhập siêu.
Cán cân thanh toán quốc tế cho ta thấy được thực trạng về kinh tế - tài chính
của một đất nước, cán cân thương mại cho thấy rõ thực trạng về ngoại thương
của một nước. Hai cán cân này tác động mạnh đến hối đoái và do đó tác động
đến hoạt động XNK.
3.6. Các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Thực chất đây là các quy định về hoá chất, dung lượng kháng sinh trong sản
xuất và cuất khẩu thuỷ sản. Các yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn thực
phẩm thủy sản của các thị trường, nhất là thị trường nước ngoài, thay đổi nhanh
chóng và ngày càng nghiêm ngặt. Trong năm 2006, thủy sản xuất khẩu sang
Nhật Bản đã bị cảnh báo dư lượng Chloramphenicol, Nitrofurans trong một số lô
hàng tôm, mực. Hiện nay vấn đề chất lượng sản phẩm đang là nỗi lo ngại lớn
cho các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam.
3.7. Điều kiện tự nhiên
Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất và nuôi trồng thuỷ
sản Việt Nam vì nước là môi trường sống của các sinh vật thuỷ sản. Trong
những năm qua tình hình khí hậu trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng có
những biến động rất phức tạp. Bão, lũ... thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn
cho ngành thuỷ sản. Do đó công tác phòng chống bão, lũ luôn được ngành chú
trọng phòng, chống.
II/ TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
1/ Những điều cần biết về WTO
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới ( World Trade
Organization ) – tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương
mại giữa các quốc gia trên thế giới. Trọng tâm của WTO chính là các hiệp
định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết.

9
thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt
động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp
định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế,
về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan
tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải
quyết tranh chấp. Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở
rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một
sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ ra không thích
hợp. Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp
định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển
sự nghiệp GATT. WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên
Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995.
1.2.Về cơ cấu tổ chức của WTO
Hiện nay WTO có 150 nước, lãnh thổ thành viên, chiếm 97% thương mại
toàn cầu và khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia
nhập.Hầu hết các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng
thuận. Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự nhất trí chung,
các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu. Khác với các tổ chức khác, mỗi thành
viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá
trị ngang nhau.
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng, họp ít nhất 2
năm một lần. Dưới Hội nghị Bộ trưởng là Đại hội đồng - thường họp nhiều lần
trong một năm tại trụ sở chính của WTO ở Geneva. Nhiệm vụ chính của Đại hội
đồng là giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên và rà soát
các chính sách của WTO.
Dưới Đại hội đồng là Hội đồng Thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại
dịch vụ và Hội đồng giám sát về các vấn đề liên quan đến quyền Sở hữu trí tuệ
(TRIPS).
1.3. Những chức năng chính của WTO

lợi ích kinh tế của từng nước : Chế độ tối huệ quốc vô điều kiện, Chế độ tối huệ
quốc có điều kiện
1.4.2. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NF)
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia hay còn gọi là nguyên tắc ngang bằng dân tộc là
chế độ có đi có lại được quy định cụ thể trong các hiệp định thương mại giữa hai
nước. Trong đó, các công dân và pháp nhân của hai nước tham gia trong quan
hệ kinh tế, thương mại sinh sống trên lãnh thổ của nhau được hưởng quyền lợi
và nghĩa vụ như nhau ( trừ quyền bầu cử, ứng cử và tham gia nghĩa vụ quân
sự ) . Nói cách khác, đây là chế độ mà một nước dành cho công dân và pháp
nhân của nước ngoài trên lãnh thổ của nước mình được đối xử ngang bằng như
đối xử với công dân và pháp nhân của nước sở tại về mọi quyền lợi và nghĩa vụ,
trừ quyền bầu cử và ứng cử và nghĩa vụ quân sự. Chẳng hạn, mọi công dân và
pháp nhân của nước A sinh sống, đặt trụ sở ở nước B thì được hưởng quyền lợi
và nghĩa vụ như công dân nước B và ngược lại. Nguyên tắc này đang có xu
hướng áp dụng giữa các nước có cùng trình độ kinh tế phát triển như nhau.
1.4.3. Nguyên tắc mở cửa thị trường
Thực chất đây là nguyên tắc tiếp cận thị trường. Các quốc gia đều mở cửa thi
trường cho hàng hoá, dịch vụ nước ngoài tràn vào, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư
nước ngoài để phát triển kinh tế trong nước. Hay nói cách khác là thực hiện tự
do hoá thương mại. Để thực hiện được nguyên tắc này các quốc gia cần phải có
một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất, đồng bộ, có các cơ chế, chính
sách tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, các đối tượng
tham gia vào nền kinh tế. Có như vậy mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên, mới thực sự tạo đà phát triển cho tất cả các bên.
1.4.4. Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Theo nguyên tắc này, các nước thực hiện cạnh tranh tự do trong những điều
kiện bình đẳng như nhau. Khi đã tham gia vào cùng một sân chơi các bên cần
phải tuân thủ các nguyên tắc đã đề ra. Nó được công nhận là án lệ của vụ án
12
Uruguay kiện 15 nước phát triển ( năm 1962) về việc áp dụng các mức thuế

đầu sa vào rắc rối kinh tế nghiêm trọng.
Khi các chính phủ đều tin tưởng rằng các nước khác sẽ không tăng cường các
hàng rào mậu dịch thì chính họ cũng sẽ không có ý định làm như vậy. Hệ thống
thương mại WTO đóng vai trò sống còn trong việc tạo ra và củng cố niềm tin
đó. Đặc biệt quan trọng là những cuộc thương lượng đưa đến những thoả thuận
trên cơ sở nhất trí ý kiến và tập trung vào việc tuân thủ các nguyên tắc.
1.5.2. WTO giải quyết các tranh chấp Thương mại một cách xây dựng
Do thương mại tăng lên về khối lượng, số lượng sản phẩm được trao đổi, và
số lượng các nước và công ty tham gia thương mại, nên có thêm nhiều cơ hội để
những tranh chấp thương mại nảy sinh. Hệ thống WTO giúp giải quyết các tranh
chấp này một cách hoà bình và mang tính xây dựng.
Nếu để mặc chúng thì những tranh chấp này có thể dẫn đến những xung đột
nghiêm trọng. Một trong những nguyên tắc của WTO là các thành viên có nghĩa
vụ phải đưa những tranh chấp của mình tới WTO và không được đơn phương
giải quyết. Khi họ đưa các tranh chấp ra giải quyết tại WTO, thủ tục giải quyết
của WTO là tập trung chú ý của họ vào các nguyên tắc. Một khi nguyên tắc
được thiết lập, các nước phải chú trọng nỗ lực tuân thủ nguyên tắc, và có lẽ sau
đó tái thương lượng về các nguyên tắc - chứ không phải là tuyên chiến với nhau.
Theo thống kê, gần 200 tranh chấp đã được đưa ra giải quyết ở WTO kể từ khi
tổ chức này thành lập. Nếu thiếu một phương tiện giải quyết các tranh chấp này
một cách xây dựng và đồng bộ, một số tranh chấp đã có thể dẫn đến những cuộc
xung đột chính trị nghiêm trọng hơn.
1.5.3. WTO-một hệ thống dựa trên những nguyên tắc-giúp cho thương mại
thuận lợi, hiệu quả hơn
WTO không tuyên bố sẽ làm cho tất cả các nước đều bình đẳng. Nhưng WTO
thực sự làm giảm bớt một số bất bình đẳng, giúp các nước nhỏ hơn có nhiều
14
tiếng nói hơn. Đồng thời, hệ thống này cũng giải thoát cho các nước lớn khỏi sự
phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định thương mại với các đối tác của
mình.

thương lượng và áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử. Kết quả là chi phí
sản xuất giảm, giá hàng hoá thành phẩm và dịch vụ giảm và cuối cùng là chi phí
cuộc sống thấp hơn.
Cho đến nay, các hàng rào mậu dịch đã giảm đi rất nhiều so với trước đây.
Các hàng rào này còn tiếp tục được giảm và tất cả chúng ta đều có lợi.
1.5.5. Người tiêu dùng được tăng sự lựa chọn cả về số lượng và chất lượng
hàng hoá-dịch vụ
Do nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng cả về số lượng và chất lượng nên việc
sản xuất trong nước không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu cuộc sống con
người. Nhập khẩu cho phép chúng ta có nhiều lựa chọn hơn - cả số lường hàng
hoá và dịch vụ lẫn phạm vi chất lượng. Thậm chí chất lượng của hàng sản xuất
nội địa có thể nâng lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Nhiều lựa
chọn hơn không đơn giản là vấn đề người tiêu dùng mua hàng thành phẩm của
nước ngoài. Hàng nhập khẩu còn được sử dụng làm nguyên liệu, linh kiện và
thiết bị cho sản xuất trong nước.
Chính điều này mở rộng phạm vi của các thành phẩm và dịch vụ do các nhà
sản xuất trong nước làm và làm tăng phạm vi những công nghệ mà họ có thể sử
dụng. Nhiều khi, sự thành công của một sản phẩm hay dịch vụ nhập khẩu tại thị
trường trong nước cũng có thể khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cạnh
tranh, làm gia tăng lựa chọn nhãn hàng hoá sẵn có cho người tiêu dùng cũng như
tăng phạm vi hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước. Nếu thương mại cho hép
chung ta nhập khẩu nhiều hơn, nó cũng cho phép những người khác mua nhiều
16
hàng sản xuất của chúng ta hơn. Nó làm tăng thu nhập của chúng ta, cung cấp
cho cũng ta những phương tiện để hưởng sự lựa chọn gia tăng đó.
1.5.6. Giảm bớt hàng rào thương mại, làm tăng thu nhập
Giảm bớt hàng rào thương mại cho phép thương mại tăng trưởng, điều này
làm tăng thu nhập - cả thu nhập quốc dân và thu nhập cá nhân. Theo dự tính của
các chuyên gia của WTO về tác động của các thoả thuận thương mại tại vòng
đàm phán Uruguay 1994 là thu nhập của thế giới có thêm từ 109 tỷ USD đến

thương mại nào đó, thì khó có thể đảo ngược được. Các nguyên tắc cũng không
khuyến khích những chính sách thiếu thận trọng. Đối với giới kinh doanh, điều
này có nghĩa là độ chắc chắn cao hơn và rõ ràng hơn về các điều kiện thương
mại. Đối với các chính phủ, điều này thường đồng nghĩa với kỷ luật tốt.
Một loại rào cản thương mại mà các nguyên tắc của WTO cố gắng giải quyết
là hạn ngạch. Do hạn ngạch hạn chế cung nên đẩy giá cả tăng lên một cách giả
tạo, đồng thời tạo ra một số lợi nhuận lớn khác thường. Các nhà kinh tế gọi đó là
"thuế hạn ngạch". Lợi nhuận này có thể được dùng để gây ảnh hưởng đối với
các chính sách, vì cũng có nhiều tiền hơn để thực hiện các cuộc vận động ngoài
hành lang. Nói cách khác, hạn ngạch là một biện pháp hạn chế thương mại đặc
biệt tồi tệ. Thông qua các nguyên tắc của WTO các chính phủ đã nhất trí rằng họ
không khuyến khích sử dụng hạn ngạch.Tuy nhiên, nhiều loại hạn ngạch khác
nhau vẫn được áp dụng ở hầu hết các nước và nhiều chính phủ lập luận rằng hạn
ngạch rất cần thiết. Song họ bị các hiệp định của WTO ràng buộc và có những
cam kết giảm bớt hay loại bỏ nhiều loại hạn ngạch, đặc biệt là đối với ngành dệt.
Bên cạnh đó, nhiều lĩnh vực khác của các hiệp định WTO cũng có thể giúp
giảm bớt tệ tham nhũng và chính phủ xấu xa. Sự minh bạch, các tiêu chí rõ ràng
hơn về các quy định đối với sự an toàn và chuẩn mực của sản phẩm, và sự
không phân biệt đối xử cũng giúp giảm bớt tình trạng gian dối và việc ra quyết
định mang tính độc đoán.
2/ Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO
18
2.1. Cơ hội
Tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới, nước ta đứng trước những cơ hội
lớn như sau:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành
viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các
nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân
biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và
trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở

nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày
càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công
nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao
động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên
khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu
tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều
kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả đấu
tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và
năng lực quản lý điều hành của ta.
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể
chế kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng
chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến
trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có
hiệu quả hơn.
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi
mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều
kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt
20
Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới
vì hoà bình, hợp tác và phát triển.
2.2. Thách thức
Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang
lại, cần phải thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong
điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước
còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé.
Những thách thức này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất
nước với yêu cầu hội nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính quá
trình hội nhập. Những thách thức này gồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình

-Tất cả những xí nghiệp nội địa phải cạnh tranh ở mức cao hơn. Các xí
nghiệp này phải tự chỉnh đốn để sản xuất hàng chất lượng và có dịch vụ tốt hơn,
hay phá sản. Những khu vực yếu kém trong cạnh tranh như dịch vụ, sản xuất sắt
thép, lắp ráp xe hơi và nông nghiệp sẽ bị đe dọa trầm trọng.
-Khu vực trước đây thuộc độc quyền kinh doanh của nhà nước như điện lực,
viễn thông, sẽ bị áp lực nặng nề để mở cửa cho tư doanh. Nhiều công ty Việt
Nam có khả năng bị công ty ngoại quốc nuốt chửng.
-Sự phá sản của công ty nội địa làm tăng nạn thất nghiệp và gây bất ổn định
trong xã hội. Mặt khác, ngay cả nguồn vốn đầu tư nước ngoài có khả năng, trong
vài trường hợp, đưa đến tình trạng tài chính bất ổn định.
-Sự thay đổi quá nhanh của nền kinh tế sẽ tiếp tục làm môi trường bị xuống
cấp.
Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng
đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi
quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư
được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy
cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân
22
hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an
sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng:
“Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước
sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách
kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản
lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được
ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều
kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm
vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi

(không muộn hơn 31/12/2018) WTO chấp nhận coi Việt Nam là nền kinh tế phi
thị trường. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với
đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì
đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi thị trường" đối với Việt Nam. Chế độ
"phi thị trường" này chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các
thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất
khẩu của Việt Nam, dù Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may
đối với Việt Nam khi Việt Nam vào WTO. Riêng trường hợp Việt Nam vi phạm
quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì sẽ được xem xét, xử
lý theo quy định của WTO.
Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ
cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa.
Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước
24
ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm, trừ
ngành dệt may.
Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu
đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng
một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực
này. Đối với các loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm, nhìn chung Việt
Nam duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng. Ngoài mức này, Việt
Nam còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi
năm. Các loại trợ cấp mang tính khuyến nông (như hỗ trợ thủy lợi) là trợ cấp
"xanh", được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
Về quyền kinh doanh bao gồm quyền xuất, nhập khẩu hàng hóa, tuân thủ quy
định WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được
quyền xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp và cá nhân người
Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương
mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status