Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Hai Bà Trưng - Pdf 25

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
MỤC LỤC
1
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BIDV Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt
Nam
BIDV Hai Bà Trưng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng
DNQD Doanh nghiệp quốc doanh
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNLD Doanh nghiệp liên doanh
FED Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ (Federal Reserve System)
KHDN Khách hàng doanh nghiệp
ĐCTC Định chế tài chính
NHBL Ngân hàng bảo lãnh
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
QLRR Quản lý rủi ro
QTTD Quản trị tín dụng
TCTD Tổ chức tín dụng
TMCP Thương mại Cổ phần
2
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
3
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
LỜI NÓI ĐẦU

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
tài “Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chi nhánh Hai Bà Trưng”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh và phát triển nghiệp vụ bảo
lãnh của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Chương 3: Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng.
5
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
5
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO
LÃNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm:
 Bảo lãnh:
Để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả, nhanh chóng và chính
xác cũng như đáp ứng được nhu cầu mới phát sinh của nền kinh tế, các NHTM cho
ra đời những nghiệp vụ đa dạng và phong phú, gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ
thuật, trong đó phải kể đến nghiệp vụ bảo lãnh.
Theo Điều 361, Bộ luật dân sự Việt Nam, khái niệm bảo lãnh được định nghĩa
như sau: “Bảo lãnh là việc bên thứ ba (sau đây gọi là “Bên bảo lãnh”) cam kết với
bên có quyền (sau đây gọi là “Bên nhận bảo lãnh”) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho
bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là “Bên được bảo lãnh”), nếu khi đến thời hạn mà
bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên
cũng có thể thỏa thuận việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được

Và giữa các chủ thể có mối quan hệ với nhau như sau:
Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh. Đây
là mối quan hệ gốc làm cơ sở phát sinh nhu cầu bảo lãnh. Nó được thể hiện bằng
hợp đồng gốc (hợp đồng cơ sở) ràng buộc hai bên như hợp đồng mua bán, thi công,
đấu thầu….
Mối quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh thông qua hợp đồng bảo
lãnh. Trên cơ sở hợp đồng gốc thì khách hàng gửi đơn yêu cầu bảo lãnh đến ngân
hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh và cam kết hoàn trả cho ngân hàng khi ngân hàng
đứng ra trả thay cho họ.
Mối quan hệ giữa ngân hàng với người nhận bảo lãnh thông qua cam kết bảo
lãnh. Khi người có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng gốc thì ngân hàng đứng ra thực hiện
trả thay cho khách hàng của mình (người được bảo lãnh).
Như vậy, ba mối quan hệ trên có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng ràng buộc lẫn
nhau và tác động trực tiếp tới quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.
1.1.2.2. Bảo lãnh là một hoạt động ngoại bảng:
Hoạt động ngoại bảng là hoạt động không thuộc bảng cân đối tài sản của Ngân
hàng thương mại, trong đó ngân hàng không phải sử dụng vốn của mình ngay mà
7
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
7
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
cung cấp dưới hình thức dịch vụ để thu phí. Bảo lãnh ngân hàng là một cam kết có
điều kiện của ngân hàng với người được bảo lãnh, ngân hàng bị ràng buộc với trách
nhiệm thanh toán cho người nhận bảo lãnh. Do vậy, ngân hàng sẽ theo dõi khoản
bảo lãnh này ở ngoại bảng và không làm thay đổi bảng cân đối tài sản của ngân
hàng.
Khi phát sinh trách nhiệm trả thay cho người được bảo lãnh, ngân hàng sẽ phải
theo dõi số tiền đó như một khoản nợ của người được bảo lãnh, nó trở thành một bộ
phận cấu thành bảng cân đối tài sản của ngân hàng. Điều này cho thấy rằng, bảo
lãnh còn mang tính chất chuyển đổi.

quyền lợi của mình khi có vi phạm hợp đồng xuất phát từ bên được bảo lãnh; và bên
bảo lãnh cũng không muốn sự cố vi phạm hợp đồng xảy ra vì thiệt hại sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, bảo lãnh ngân hàng được dùng
như một công cụ đảm bảo.
1.1.3.2. Bảo lãnh là một công cụ tài trợ
Khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, vấn đề vốn luôn là hạng mục quan
trọng và cấp thiết, đặc biệt là với những hợp đồng có giá trị lớn, thời gian thực hiện
dài, trong điều kiện khó tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng thì huy động
vốn càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bảo lãnh ngân hàng ra đời góp phần đáp
ứng kịp thời nhu cầu phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm
giảm bớt sự căng thẳng về vốn phục vụ tiến trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Đặc biệt, đối với các hợp đồng xây dựng, nhà thầu chỉ có thể nhận được toàn
bộ giá trị hợp đồng khi hoàn thành và bàn giao công trình. Tuy nhiên trong quá
trình thực hiện dự án, nhà thầu cần tiền để thanh toán các chi phí phát sinh khi thi
công nên cần thương lượng với chủ thầu để ứng trước tiền. Khi đó, ngân hàng của
nhà thầu sẽ phát hành một bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước như một công cụ tài trợ,
giúp cho nhà thầu có thể nhận được khoản ứng trước để giải quyết khó khăn.
Vậy, dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng đã
giúp cho khách hàng của mình hưởng những thuận lợi về mặt tiếp cận nguồn vốn
như khi được cho vay. Khi đó, bảo lãnh ngân hàng thực sự đã trở thành một công cụ
tài trợ hiệu quả của ngân hàng.
1.1.3.3. Bảo lãnh ngân hàng được sử dụng như một công cụ đôn đốc hoàn thành
hợp đồng.
9
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
9
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
Bảo lãnh ngân hàng ra đời trở thành chất xúc tác giúp cho các hợp đồng và
giao dịch diễn ra một cách thuận lợi nhất. Khi ngân hàng phát hành bảo lãnh cho

10
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
thông báo
Người được
bảo lãnh
Người thụ hưởng
bảo lãnh
(4)
(2)
(3)
(1)
(5)
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng chịu trách nhiệm phát
hành bảo lãnh trực tiếp với bên nhận bảo lãnh theo yêu cầu của người được bảo
lãnh (không qua bất kỳ trung gian nào), trong đó cam kết thanh toán không hủy
ngang với người thụ hưởng.
Bảo lãnh trực tiếp còn được gọi là bảo lãnh ba bên, bao gồm: ngân hàng phát
hành, người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. Trong trường hợp người
thụ hưởng là người nước ngoài thì xuất hiện thêm một ngân hàng ở cùng quốc gia
với người đó, đóng vai trò là ngân hàng thông báo.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quy trình bảo lãnh trực tiếp
Trong đó:
(1) Là thỏa thuận giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh, ký kết hợp đồng cơ sở.
(2) Bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một bảo lãnh ngân
hàng
(3) Ngân hàng phát hành sẽ phát hành một thư bảo lãnh cho người thụ hưởng thông qua
ngân hàng thông bá

(4a): Ngân hàng phát hành bảo lãnh chuyển trực tiếp cho người thụ hưởng.
(4b): Ngân hàng phát hành bảo lãnh và chuyển cho người thụ hưởng bảo lãnh
qua ngân hàng thông báo.
Trong loại bảo lãnh này, người được bảo lãnh không trực tiếp bồi hoàn cho
ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng chỉ thị sẽ chịu trách nhiệm bồi
hoàn cho ngân hàng phát hành thông qua một cam kết gọi là bảo lãnh đối ứng. Sau
khi đã bồi hoàn cho ngân hàng phát hành chính thì đến lượt mình, ngân hàng chỉ thị
sẽ truy đòi từ người được bảo lãnh.
1.1.4.2. Căn cứ vào mục đích bảo lãnh
 Bảo lãnh vay vốn
Là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo
lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng
không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh.
12
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
12
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành về việc đảm bảo việc
thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo
hợp đồng đã ký kết. Trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ
các nghĩa vụ trong hợp đồng thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã
cam kết.
Số tiền và thời hạn của bảo lãnh được ghi trong thư bảo lãnh, khớp đúng với
đề nghị của bên được bảo lãnh, phù hợp với hợp đồng nhưng không trái với quy
định chung. Cụ thể:
- Tùy hợp đồng mà giá trị bảo lãnh giao động từ 10-15% giá trị hợp đồng gốc
hoặc lớn hơn. Số tiền bảo lãnh có thể giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
- Thời hạn bảo lãnh phụ thuộc thời hạn hợp đồng và kéo dài đến khi hoàn
thành hợp đồng. Chính vì vậy mà loại bảo lãnh này được sử dụng rất phổ biến.

 Một số loại hình bảo lãnh khác:
• Bảo lãnh giao hàng: là việc ngân hàng hay các tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo
cho việc nhận hàng mà không có vận đơn gốc của bên được bảo lãnh. Lúc này, bảo
lãnh giao hàng được phát hành trong đó bên bảo lãnh sẽ cam kết bồi hoàn cho bên
nhận bảo lãnh mọi tổn thất phát sinh do việc gia hàng không có vận đơn gốc.
• Bảo lãnh chất lượng công trình: trong đầu tư xây dựng cơ bản, khi nhà thầu bàn
giao công trình hoặc khối lượng xây lắp đã hoàn thành, chủ đầu tư sẽ giữ lại một tỷ
lệ phần trăm nhất định số tiền phải thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định
để đảm bảo chất lượng công trình. Thay vào việc phải giữ lại số tiền đó, chủ đầu tư
có thể yêu cầu một bảo lãnh chất lượng công trình từ phía nhà thầu.
• Bảo lãnh bảo hành: là loại bảo lãnh thường được sử dụng khi mua bán, lắp đặt máy
móc, thiết bị hoặc dây chuyền sản xuất với giá trị lớn; nhằm đảm bảo việc thực hiện
nghĩa vụ bảo hành của bên được bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Khi bên bán hay
lắp đặt máy móc thiết bị đó không thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời hạn bảo
hành của hợp đồng cơ sở thì bên bảo lãnh sẽ phải bồi hoàn một khoản tiền theo như
hợp đồng bảo lãnh bảo hành đã ký.
• Bảo lãnh hải quan: đối với các hợp đồng tạm nhập tái xuất, bên nhập khẩu phải tạm
nộp thuế nhập khẩu và sẽ được hoàn lại khi tái xuất. Khi đó để hạn chế sự mất giá
đồng tiền theo thời gian, bên nhập khẩu có thế không nộp thuế nhập khẩu và sử
dụng bảo lãnh hải quan để đảm bảo việc tái xuất hàng hóa của mình.
14
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
14
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
• Bảo lãnh vay vốn: là bảo lãnh do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh,
cam kết trả nợ thay cho người được bảo lãnh trong trường hợp khách họ không trả
nợ được hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn.
1.1.4.3. Căn cứ vào điều kiện thanh toán
 Bảo lãnh theo yêu cầu:
Bảo lãnh theo yêu cầu là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán của nó là

thay cho khách hàng khi khách hàng vi phạm hợp đồng.
 Mô hình nhiều ngân hàng tham gia bảo lãnh
- Mô hình đồng bảo lãnh
Đồng bảo lãnh là việc nhiều ngân hàng cùng tham gia bảo lãnh cho cùng một
nghĩa vụ của khách hàng, thông qua một ngân hàng đứng đầu gọi là ngân hàng đầu
mối phát hành bảo lãnh, các ngân hàng khác là ngân hàng đồng bảo lãnh.
Trong đồng bảo lãnh, các ngân hàng tham gia liên đới chịu trách nhiệm trong
việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Khi khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ, ngân
hàng đầu mối phải thực hiện trả thay thì các ngân hàng thành viên có trách nhiệm
hoàn lại cho ngân hàng đầu mối số tiền tương ứng theo tỷ lệ đã thỏa thuận.
16
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
16
NHBL A
NHBL B
NHBL C
Bên được bảo lãnh
Bên thụ hưởng bảo lãnh
(2)
(1) (3)
(4)
(5)
Ngân hàng bảo lãnh chính
Người được bảo lãnh
Ngân hàng tái bảo lãnh
Người thụ hưởng bảo lãnh
(1)
(2)
(3)
(4)

(4): Ngân hàng bảo lãnh chính không trực tiếp thanh toán
(5): Ngân hàng tái bảo lãnh thanh toán cho người thụ hưởng
(6): Ngân hàng tái bảo lãnh đòi tiền ngân hàng bảo lãnh chính.
1.1.5. Quy trình thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
1.1.5.1. Chủ thể tham gia
Trong nghiệp vụ bảo lãnh, thường có ít nhất ba thành phần tham gia bao gồm:
Người bảo lãnh (The Guarantor): là người phát hành bảo lãnh theo yêu cầu
của khách hàng, dùng uy tín của mình đứng ra cam kết chịu trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng khi người được bảo lãnh không hoàn thành
đúng hợp đồng.
Người được bảo lãnh (The Principal): là khách hàng, là người yêu cầu ngân
hàng phát hành bảo lãnh để trả thay cho đối tác của họ khi họ vi phạm hợp đồng.
Người thụ hưởng bảo lãnh (The Beneficiary): là người nhận cam kết bảo lãnh,
được ngân hàng bồi thường khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng.
Sơ đồ 1.5: Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia trong nghiệp vụ bảo lãnh
Trong đó:
(1): Mối quan hệ giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. Đây
là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh.
18
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
18
Bước 2: Thẩm định và quyết định bảo lãnh
Bước 3: Phát hành bảo lãnh
Bước 4: Xử lý sau khi phát hành bảo lãnh
Bước 5: Kết thúc bảo lãnh
Bước 1: Hướng dẫn KH lập hồ sơ bảo lãnh
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
(2): Mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và người được bảo lãnh. Người được
bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho người thụ hưởng. Hay nói
cách khác đó là mối quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và người hưởng tín dụng.

 Bước 3: Phát hành bảo lãnh
Trên cơ sở thống nhất với khách hàng, ngân hàng tiến hành thực hiện các biện
pháp đảm bảo tín dụng.Và các yêu cầu trong ủy nhiệm của hội sở chính (nếu có).
Sau đó ngân hàng ký hợp đồng cấp bảo lãnh với khách hàng và phát hành thư
bảo lãnh. Thông thường một hợp đồng cấp bảo lãnh có những nội dung cơ bản sau:
- Tên, địa chỉ của TCTD và khách hàng
- Số tiền, thời hạn và phí bảo lãnh, mục đích, phạm vi, đối tượng bảo lãnh
- Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản
- Quyền và nghĩa vụ các bên liên quan
- Bồi hoàn sau khi TCTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
- Giải quyết các tranh chấp phát sinh, chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ
 Bước 4: Xử lý sau khi phát hành bảo lãnh
Sau khi phát hành bảo lãnh theo hợp đồng cấp bảo lãnh cho khách hàng thì
ngân hàng cần phải xử lý các nghiệp vụ tiếp theo:
- Theo dõi các phát sinh và thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
- Hạch toán số dư bảo lãnh
- Theo dõi mọi hoạt động của khách hàng từ khi phát sinh đến khi kết thúc nghĩa vụ
bảo lãnh, tránh những rủi ro dẫn đến tổn thất phải bồi thường. Định kỳ lập báo cáo
gửi Hội sở chính theo yêu cầu trong ủy nhiệm (nếu có).
20
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
20
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
- Thu phí bảo lãnh.
 Bước 5: Kết thúc bảo lãnh
Khi hết thời hạn hiệu lực của bảo lãnh, ngân hàng tất toán bảo lãnh, giải tỏa tài
sản đảm bảo. Sau đó đánh giá kết quả của hợp đồng cấp bảo lãnh, rút kinh nghiệm
và lưu trữ hồ sơ.
1.2. Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan điểm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh

1.2.2. Sự cần thiết phát triển nghiệp vụ bảo lãnh
Nghiệp vụ bảo lãnh có vai trò quan trọng và đem lại nhiều lợi ích đối với bản
thân Ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh là xu
hướng chung của các NHTM trên thế giới ngày nay. Đặc biệt là trong giai đoạn khó
khăn của nền kinh tế hiện nay, mặc dù được cho rằng nước ta đang trong tiến trình
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế nhưng doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn còn khó
khăn, dòng vốn chu chuyển chậm, hiện tượng chiếm dụng vốn và vi phạm hợp đồng
còn xảy ra nhiều làm suy giảm lòng tin giữa các doanh nghiệp cũng như cá nhân
trong hoạt động thương mại, điều này làm cho nhu cầu bảo lãnh ngân hàng ngày
một tăng cao. Tất nhiên, đây chính là cơ hội để các NHTM tận dụng tối đa để phát
triển hoạt động bảo lãnh. Hiện nay nước ta đã có khung pháp lý tuy nhiên còn nhiều
kẽ hở khiến cho rủi ro liên tiếp xảy ra, do đó, việc hoàn thiện và phát triển nghiệp
vụ bảo lãnh là rất cần thiết.
 Đối với ngân hàng thương mại
Thứ nhất, nghiệp vụ bảo lãnh có mức sinh lời ngày càng tăng nhờ khoản thu
nhập lớn về phí dịch vụ. Đặc biệt là trong bối cảnh hoạt động cho vay, đầu tư luôn
tiềm ẩn nhiều rủi ro và chịu sự cạnh tranh khốc liệt thì bảo lãnh được coi là cứu
cánh của NHTM. Chính sự cạnh tranh khốc liệt trong mảng thị phần truyền thống
khiến cho hoạt động cho vay có mức sinh lời ngày càng giảm, trái lại nghiệp vụ bảo
lãnh lại có tốc độ tăng mạnh mẽ.
Thứ hai, tận dụng được nguồn vốn trong thanh toán của khách hàng đang lưu
ký trên tài khoản thanh toán, ký quỹ. Những tài khoản này ngân hàng không phải trả
lãi hoặc trả lãi rất thấp, giúp giảm chi phí đầu vào của nguồn vốn huy động.
Thứ ba, xây dựng được mạng lưới khách hàng rộng khắp làm nền tảng để phát
triển các dịch vụ ngân hàng. Từ nghiệp vụ bảo lãnh, NHTM có thể phát triển các
dịch vụ đa dạng, nhiều tiện ích. Bên cạnh đó ngân hàng có thể phát triển những dịch
vụ hỗ trợ: quản lý dòng tiền, đầu tư tiền gửi tự động, quản lý nguồn thu, chi trả
lương… sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng từ đó tăng thu phí dịch vụ.
22
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B

ngân hàng.
Mức tăng/giảm số = số lượng khách hàng - số lượng khách hàng
23
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
23
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Cao Thị Ý Nhi
lượng khách hàng năm t năm t-1
Chỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng tăng hay giảm qua các năm, qua đó,
ngân hàng có thể đánh giá được việc mở rộng quy mô và đối tượng khách hàng. Chỉ
tiêu này càng tăng theo thời gian hay số lượng khách hàng năm t lớn hơn năm t-1
chứng tỏ khách hàng sử dụng nghiệp vụ bảo lãnh của nân hàng ngày càng nhiều.
b. Số lượt khách hàng
Đây là chỉ tiêu về số lần mỗi khách hàng sử dụng sản phẩm bảo lãnh của ngân
hàng trong một năm. Chỉ tiêu này càng tăng lên chứng tỏ rằng sự tin tưởng của
khách hàng đối với ngân hàng và dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng càng được mở
rộng.
c. Doanh số bảo lãnh
Là tổng giá trị các khoản bảo lãnh được ngân hàng thực hiện cấp cho khách
hàng tỏng một kỳ, phẩn ánh khái quát tình hình hoạt động nghiệp vụ bảo lãnh của
ngân hàng trong một thời kỳ nhất định.
 Giá trị tuyệt đối:
Giá trị tăng trưởng = Tổng doanh số - Tổng doanh số
doanh số tuyệt đối bảo lãnh năm (t) bảo lãnh năm (t-1)
Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phán ánh quy mô dịch vụ bảo lãnh đối với nền kinh tế
của ngân hàng. Chỉ tiêu này phản ánh một cách chính xác hoạt động bảo lãnh qua
các năm (không tính đến giá trị thời gian của tiền hay là lạm phát trong năm), khi so
sánh chỉ tiêu này qua các thời kỳ, ta sẽ thấy được phần nào xu thế của hoạt động
bảo lãnh. Chỉ tiêu này cho biết doanh số bảo lãnh năm t tăng so với năm t-1 là bao
nhiêu. Khi chỉ số này tăng lên có nghĩa là số lượng tiền mà NHTM đã bảo lãnh qua
các năm đã tăng lên và đồng nghĩa với việc mở rộng hoạt động bảo lãnh đang diễn

hẹp.
Tốc độ tăng
trưởng quy
mô bảo lãnh
=
Tổng dư bảo lãnh năm t - Tổng dư bảo lãnh năm t-1
x 100%
Tổng dư bảo lãnh năm t-1

Tốc độ tăng của quy mô bảo lãnh càng cao thì chứng tỏ nghiệp vụ bảo lãnh
được Ngân hàng chú trọng phát triển. Hiệu quả của nghiệp vụ bảo lãnh cao chính là
cơ sở để tăng quy mô bảo lãnh, vì thế chỉ tiêu tốc độ tăng quy mô bảo lãnh phản ánh
khá chính xác mức độ phát triển của nghiệp vụ này.
1.2.3.2. Chất lượng nghiệp vụ bảo lãnh
a. Cơ cấu các loại bảo lãnh
Cơ cấu các loại bảo lãnh trong tổng dư bảo lãnh cho biết phần nào chất lượng
của nghiệp vụ bảo lãnh tại NHTM.
Tỷ trọng các cam kết bảo lãnh có độ rủi ro lớn như bảo lãnh thanh toán,
bảo lãnh vay vốn càng cao thì càng chứng tỏ nghiệp vụ bảo lãnh tại NHTM đó tiềm
25
SV: Quách Nhật Linh Lớp: Ngân hàng 52B
25

Trích đoạn 100% Tổng số dư bảo lãnh Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng Khái quát tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng Những quy định chung về nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status