- 1 -
MỤC LỤC
Phần mở đầu
Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dòch
cơ cấu kinh tế ngành 1
1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành 1
1.1.1 Cơ cấu kinh tế 1
1.1.2 Cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành 2
1.1.3 Đặc điểm của cơ cấu kinh tế ngành 6
1.2 Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành 8
1.2.1 Thực chất chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành 9
1.2.2 Yêu cầu của chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 13
1.2.3 Các nhân tố cơ bản quy đònh chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành 18
1.3 Vai trò chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp
hóa,
hiện đại hóa 27
1.3.1 Đònh hướng phát triển ngành trong tổ chức quản lý kinh tế 27
1.3.2 Quy đònh phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động kinh tế 28
1.3.3 Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế 30
Chương 2. Thực trạng cơ cấu ngành và chuyển dòch cơ cấu ngành
ở quận Tân Phú TP.HCM 33
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của quận Tân Phú TPHCM 33
2.2 Thực trạng cơ cấu và chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành 35
2.2.1 Cơ cấu kinh tế theo loại hình tổ chức kinh doanh 35
2.2.2 Cơ cấu ngành phản ánh qua giá trò sản xuất 38
2.2.3 Cơ cấu kinh tế phản ánh qua đóng góp ngân sách đòa phương 44
2.2.4 Cơ cấu kinh tế phản ánh qua kim ngạch xuất khẩu 45
2.2.5 Cơ cấu ngành phản ánh qua các ngành hàng chủ lực 46
- 2 -
2.3 Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm chuyển dòch cơ cấu ngành 47
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế tạo nên sự chuyển đổi căn
bản nền kinh tế trên nhiều lónh vực: Phân công lại lao động xã hội, chuyển dòch
các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất, gia tăng năng lực sản xuất, tăng
sản phẩm xã hội, góp phần thỏa mãn nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam diễn ra trên nhiều lónh vực khác
nhau như: cơ cấu vùng, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu nhiều thành phần, cơ cấu ngành;
trong đó cơ cấu ngành là quan trọng nhất. Chuyển dòch cơ cấu ngành để phân bổ
hợp lý tài nguyên, sắp xếp lại lao động phù hợp các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội là vấn đề có ý nghóa chiến lược quan trọng. Nghò quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững,
chuyển dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hóa”.
Đối với Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển dòch cơ cấu ngành, cơ
cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy lợi thế tương đối của quận, giải quyết việc
làm, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thò
trường… có ý nghóa cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
của quận.
Nằm trong đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua,
quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành quận Tân Phú đã có những chuyển
biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, vẫn còn
nhiều vấn đề phát sinh gây khó khăn cho quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế
- 4 -
ngành của quận như: xây dựng chiến lược, vốn, đào tạo nguồn nhân lực và
những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan. Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề
trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành quận Tân Phú,
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2020”, làm Luận văn Thạc só Kinh
tế; chuyên ngành Kinh tế chính trò của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Bàn về chuyển dòch cơ cấu ngành kinh tế có nhiều công trình nghiên cứu
khác nhau đã công bố như: “Hướng chuyển dòch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí
gian từ năm 2003 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở lý luận
Những nguyên lý của chủ nghóa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
cơ cấu kinh tế và chuyển dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành. Các văn kiện
của Đảng cộng sản Việt Nam về chuyển dòch cơ cấu kinh tế. Các nguyên lý của
kinh tế chính trò Mác - Lênin.
5.2.Nguồn tài liệu tham khảo.
Các tác phẩm kinh điển của Karl Marx, F.Engels, V.I. Lenine về cơ cấu
kinh tế và chuyển dòch cơ cấu kinh tế; Kinh tế chính trò Mác – Lênin, các Văn
kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tư liệu của Viện chiến lược phát triển,
Bộ Kế hoạch Đầu tư, Báo cáo của Ủy Ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
Báo cáo của Ủy Ban nhân dân quận Tân Phú.
- 6 -
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghóa duy vật biện
chứng và chủ nghóa duy vật lòch sử. Vận dụng phương pháp nghiên cứu kinh tế -
xã hội nói chung, phân tích, tổng hợp kết hợp lô gích và lòch sử, số liệu thống kê
từ Ủy Ban Nhân dân Quận Tân Phú
6. Đóng góp của đề tài
Một là, hệ thống hóa về mặt lý luận cơ cấu kinh tế, chuyển dòch cơ cấu
kinh tế ngành và vai trò của chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành trong tổ chức
quản lý. Từ đó rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong tổ chức quản lý
quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành ở quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Hai là, vạch ra các quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm thực
hiện quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hóa, phát triển kinh tế ở quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
một cách hiệu quả.
Ba là, cung cấp những tư liệu cần thiết cho các cơ quan, đơn vò trên đòa
lực lượng sản xuất sẽ quyết đònh nhũng quan hệ sản xuất khác nhau, mối quan
hệ giữa các bộ phận cấu thành cũng khác nhau, tạo thành cơ cấu kinh tế khác
nhau, đặc biệt là cơ cấu ngành, bởi gắn với mỗi ngành sản xuất khác nhau có tư
liệu sản xuất khác nhau, tổ chức quản lý khác nhau…Các bộ phận này cấu thành
lực lượng sản xuất vật chất của một xã hội nhất đònh.
- 8 -
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã
hội ở Việt Nam là xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý gồm: 1, cơ cấu ngành:
phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đồng thời tăng tốc độ phát triển các ngành công
nghiệp, mở rộng khu vực dòch vụ, từng bước đưa nền kinh tế phát triển toàn diện
theo hướng hiện đại; 2, cơ cấu thành phần kinh tế; 3, cơ cấu kinh tế vùng.
1.1.2. Cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành.
Cơ cấu ngành là mối quan hệ tỷ lệ và sự tác động qua lại giữa các ngành
và giữa các bộ phận hợp thành trong ngành của nền kinh tế quốc dân. “Cơ cấu
kinh tế ngành: là quan hệ tỷ lệ gắn bó hữu cơ, vừa nương tựa vào nhau, vừa chế
ước lẫn nhau giữa các ngành và các phân ngành cũng như giữa các doanh nghiệp
trong nội bộ ngành và phân ngành. Cơ cấu ngành là bộ phận động nhất trong cơ
cấu kinh tế nói chung” [16,17].
Cơ cấu nội bộ ngành là mối quan hệ tỷ lệ trong nộâi bộ của mỗi ngành.
Đối với cơ cấu ngành nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ giữa trồng trọt, ngành
chăn nuôi, thủy sản, dòch vụ cho sản xuất nông lâm, ngư nghiệp. Đối với ngành
công nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công
nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp khác; xu
hướng vận động của chúng là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp có thiết bò và
công nghệ hiện đại, tỷ trọng hàm lượng lao động chất xám, lao động trí tuệ trong
các sản phẩm; giảm các ngành có trang thiết bò lạc hậu, công năng thấp, giảm
các sản phẩm có dung lượng lao động hao phí nhiều lao động cơ bắp
Nếu dựa vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật có thể phân chia thành các ngành
kinh tế lớn như sau: công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại,
triển của các nền sản xuất xã hội là nông nghiệp hoặc công nghiệp. Song khi lực
lượng sản xuất phát triển, sự thay đổi về công cụ lao động và đối tượng lao động
cho thấy hàm lượng khoa học kỹ thuật, công nghệ và thông tin tăng lên rất
nhiều. Sự phát triển đó dẫn đến thay đổi đầu vào của các yếu tố sản xuất, phân
bổ các ngành nghề ngày càng nghiêng về các ngành công nghệ mới và phục vụ
có hàm lượng lao động chất xám, lao động trí tuệ cao.
Việc phân tích cơ cấu ngành của nền kinh tế không chỉ dừng lại ở những
biểu hiện về mặt lượng (số lượng ngành, tỷ trọng), mà quan trọng hơn là phân
tích được mặt chất của cơ cấu: ví trí, vai trò của ngành hiện tại trong nền kinh tế
và hướng phát triển trong tương lai của chúng. Sự tương tác giữa công nghiệp và
nông nghiệp trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, khả năng hướng ngoại
gắn với xu thế quốc tế hóa, toàn cần hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ giữa
cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ, vùng kinh tế để phát huy lợi thế tuyệt đối và
lợi thế tương đối của mỗi vùng và cơ cấu thành phần kinh tế
Ở nước ta, quá trình mở rộng và phát triển ngành nghề, phân công lại lao
động xã hội, đã đem lại những thành công nhất đònh, vừa góp phần xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, vừa giải quyết việc làm, tạo ra nhiều sản phẩm ổn đònh và
nâng cao đời sống nhân dân trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, việc bố trí cơ cấu
kinh tế có những sai lầm không nhỏ nhất là cơ cấu ngành; trong giai đoạn đầu
của thời kỳ quá độ nguồn vốn còn hạn hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu;
song do nóng vội chủ quan, rập khuôn máy móc, phát triển ngành công nghiệp
nặng, công nghiệp cơ khí, nhiều công trình “thế kỷ” ra đời, nhưng nguồn vốn
không đáp ứng, không phù hợp với thực tiễn nước ta dẫn đến lãng phí, hiệu quả
kinh tế rất thấp, một nước sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, kết cấu hạ
tầng thấp kém; dẫn đến sản xuất sa sút đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn…
- 11 -
Nhận thức rõ vấn đề này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với chủ
trương đổi mới, trong đó đổi mới việc xây dựng cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế
hàng hóa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện ba chương trình
mục tiêu: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đã đưa nền
động và tư liệu lao động tương ứng, để phát triển các ngành kinh tế cụ thể đối
với tư liệu sản xuất đó nhằm tạo ra sản phẩm thích ứng đối với mỗi ngành. Hơn
thế quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết đònh quan hệ tổ chức quản lý hay
trao đổi hoạt động lao động cho nhau và quan hệ phân phối sản phẩm; nghóa là
quy đònh việc phát triển ngành nghề.
Cơ cấu kinh tế mang tính lòch sử, nó thường xuyên vận động biến đổi làm
cho số lượng và tỷ trọng các ngành nghề thay đổi. Sở dó như vậy vì gắn với mỗi
giai đoạn phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất, của phân công lao động,
có quan hệ sản xuất khác nhau tạo nên sự biến đổi số lượng, tỷ trong và vai trò
khác nhau của các ngành nghề. Hơn thế, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
là hai mặt thống nhất trong một phương thức sản xuất, trong đó lực lượng sản
xuất là nội dung là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, lực lượng sản xuất luôn
vận động và biến đổi; quan hệ sản xuất phải vận động và biến đổi theo nó. Do
vậy, cơ cấu kinh tế thay đổi là một điều tất yếu.
Việc nắm vững tính lòch sử và tính khách quan của cơ cấu kinh tế có ý
nghóa đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng xác đònh
cơ cấu kinh tế và chuyển dòch cơ cấu ngành, thích ứng với từng giai đoạn để tận
dụng có hiệu quả tối đa năng lực sản xuất sẵn có, nhân tố có ý nghóa quyết đònh
- 13 -
đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi giai
đoạn, mỗi thời kỳ.
Xu hướng chung về sự biến động cơ cấu kinh tế ngành trên thực tế phản
ánh tỷ trọng các ngành sản xuất vật chất công, nông nghiệp giảm, ngành dòch vụ
phi vật chất tăng lên trong nền kinh tế quốc dân. “Ở Mỹ ngay từ năm 1955 số
lao động dòch vụ và văn phòng đã nhiều hơn số lượng công nhân trực tiếp sản
xuất. Trong các thời kỳ 1960 -1989, tỷ trọng số lao động làm việc trong các
ngành thứ nhất và thứ hai trong tổng lao động cả nước Mỹ giảm bình quân hàng
năm tương ứng là 3,3% và 1,3%, trong khi đó tỷ trọng lao động trong ngành thứ
ba tăng bình quân 1,2%” [17, 105-106]
Xu hướng biến động của cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình tái sản xuất
triển. Mục đích cuối cùng của việc chuyển dòch cơ cấu kinh tế phải đạt được mục
tiêu hàng đầu là tăng trưởng nhanh, đủ việc làm, phân phối công bằng hợp lý.
Chuyển dòch cơ cấu ngành là nội dung cốt lõi, là nhân tố quan trọng của
chuyển dòch cơ cấu kinh tế, là nhân tố quan trọng nhất quyết đònh hiệu quả của
nền kinh tế quốc dân nói chung và quận Tân Phú nói riêng.
1.2.1. Thực chất chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành.
Do đặc trưng của cơ cấu ngành là một quá trình kinh tế “luôn vận động”
nhất là trong kinh tế hàng hóa, kinh tế thò trường. Vì vậy, việc phân tích cơ cấu
ngành cần thấy rõ tính quy luật của sự vận động và luôn đặt ra phương hướng
chuyển dòch cơ cấu ngành, thích ứng với yêu cầu phát triển kinh tế trong từng
giai đoạn.
- 15 -
Chuyển dòch cơ cấu ngành thực chất là thực hiện một cuộc cách mạng về
phân công lao động xã hội, phân bố lại dân cư, phân bố lại ngành nghề, để sử
dụng các nguồn tài nguyên, lao động, vật tư, tiền vốn, nhằm mang lại hiệu quả
kinh tế cao nhất. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế vừa mang tính lòch sử vừa mang
tính khách quan.
Thực chất chuyển dòch cơ cấu ngành là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu, chưa
phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện hiện đại. Nhằm đa dạng
hóa ngành nghề, đa dạng hóa chủng loại và chất lượng sản phẩm để đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Chuyển dòch cơ cấu ngành là một tất yếu khách quan, bởi sức ép của thò
trường và yêu cầu phát triển kinh tế, sản xuất xã hội không bao giờ ngừng và do
vậy không thể ngừng việc sản xuất các tư liệu sản xuất và các tư liệu tiêu dùng;
vì vậy phải có sự thay đổi ngành tạo sản phẩm thích ứng với yêu cầu phát triển
của nền kinh tế, tất yếu phải chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành.
Chuyển dòch cơ cấu ngành của nền kinh tế là sự thay đổi có mục đích có
đònh hướng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn. Sự
phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao
động xã hội dẫn đến tất yếu sự thay đổi các bộ phận, các nhân tố của quá trình
Phấn đấu đạt mức tăng trưởng nông nghiệp hàng năm khoảng 4,5%. Tỷ
trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16-17%, tỷ trọng chăn nuôi trong tổng giá
trò nông nghiệp tăng lên 30%. Thủy sản đạt sản lượng 2,5-3 triệu tấn. Kim ngạch
- 17 -
xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt khoảng 8-9 tỷ USD, trong đó thủy sản khoảng
3 tỷ USD.
Đối với các ngành công nghiệp, xây dựng và kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Phát triển các ngành công nghiệp như: dầu khí, luyện kim, hóa chất cơ bản, phân
bón, vật liệu xây dựng, cơ khí; các ngành công nghiệp dựa vào công nghệ cao,
nhất là công nghệ thông tin, viễn thông điện tử, đặc biệt phát triển công nghệ
phần mềm.
Phát triển nhanh các ngành có khả năng phát huy lợi thế chi phí thấp,
hiệu quả cao, cạnh tranh chiếm lónh được thò trường trong và ngoài nước như chế
biến nông lâm thủy sản, may mặc, giày dép, điện tử, một số sản phẩm cơ khí và
hàng tiêu dùng …
Cùng với việc hoàn chỉnh nâng cấp các khu công nghiệp khu chế xuất
hiện có, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp
lớn và khu kinh tế mở. Phát triển nhiều hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp
nhỏ, vừa và lớn cả trong nước và ngoài nước. Tăng cường công tác kiểm tra chất
lượng sản phẩm, bảo hộ sở hữu công nghiệp…
Tốc độ tăng trưởng giá trò gia tăng công nghiệp (kể cả xây dựng) trung
bình trong 10 năm tới phấn đấu đạt 10 -10,5% /năm. Đến năm 2010, công nghiệp
và xây dựng chiếm 40 - 41% GDP và thu hút khoảng 23 -24% lao động có việc
làm; sản phẩm công nghiệp chiếm khoảng 70 - 75% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Sản xuất đạt 69 - 71 tỷ kwh điện; 34 -35 triệu tấn dầu thô quy đổi; 12 triệu tấn
xăng dầu; cơ khí chế tạo đáp ứng 40% nhu cầu trong nước, tỷ lệ nội đòa hóa
trong lắp ráp 60 - 70%.
Đối với các ngành dòch vụ, phát triển mạnh các loại hình dòch vụ như
thương mại, vận tải, bưu chính, viễn thông, du lòch, tài chính - tiền tệ và dòch vụ
kỹ thuật tư vấn… với chất lượng ngày càng cao góp phần giải quyết việc làm,
vừa nương tựa vào nhau vừa chế ước lẫn nhau giữa các ngành và các phân
ngành. Do đó chuyển dòch cơ cấu ngành cần giải quyết rất nhiều các mối quan
hệ và tác động qua lại lẫn nhau; chẳng hạn giữa cơ cấu ngành với cơ cấu thành
phần kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ….
Kết hợp cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ nhằm phát huy lợi thế
tương đối và lợi thế tuyệt đối của vùng trong việc phát triển ngành. Kết hợp cơ
cấu ngành với cơ cấu thành phần kinh tế là nhằm huy động các thành phần kinh
tế tham gia phát triển các ngành kinh tế, phát triển các vùng lãnh thổ. “Chỉ khi
nào ngành vận tải và nền đại công nghiệp, đã hoàn toàn được khôi phục, khiến
giai cấp vô sản có thể cung cấp cho nông dân, nhằm đổi lấy sản phẩm nông
nghiệp, tất cả những vật phẩm công nghiệp mà nông dân cần dùng cho bản thân
họ, thì khi đó, đứng về quan điểm xã hội chủ nghóa mà nói, sự liên minh giữa
những người tiểâu nông và giai cấp vô sản mới trở nên hoàn toàn đúng đắn và
vững chắc”.[8,8]
Mối quan hệ giữa cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ thể hiện thông
qua các mối quan hệ theo hướng: kết hợp công nghiệp với nông nghiệp; thành
thò với nông thôn. Kết hợp chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp theo vùng.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng. Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường…
Sự phát triển của phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến chuyển dòch
cơ cấu ngành: “Sự phân công lao động xuất phát từ sự phân chia các nghề
nghiệp rất khác nhau và đi đến một sự phân công trong đó nhiều công nhân chia
nhau chế tạo cùng một sản phẩm như trong công trường thủ công. Ở những dân
- 20 -
tộc đã có một trình độ văn minh nào đó, chúng ta thấy có ba loại phân công lao
động: loại thứ nhất, mà chúng ta gọi sự phân công lao động chung, thì phân chia
những người sản xuất ra thành người làm ruộng, người làm công nghiệp và người
đi buôn, sự phân công đó phù hợp với ba ngành nghề chủ yếu trong nền sản xuất
quốc dân; loại thứ hai mà người ta gọi sự phân công đặc thù, là sự phân chia mỗi
ngành lao động thành nhóm…loại phân công thứ ba, loại cuối cùng mà người ta
kinh tế hợp lý giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân. Một cơ cấu kinh tế được
xây dựng; muốn vậy, chuyển dòch cơ cấu ngành phải tuân theo những yêu cầu
sau đây:
1. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành phải phù hợp yêu cầu phát triển kinh
tế. Trong điều kiện cụ thể của nước ta, tính quy luật của chuyển dòch cơ cấu
ngành là ngành nông nghiệp ngày càng giảm trong GDP, cả về số lượng tuyệt
đối lẫn tương đối, công nghiệp và dòch vụ ngày càng tăng, trong đó đặc biệt là
ngành dòch vụ.
2. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành phải phù hợp với xu thế tiến bộ của
khoa học công nghệ, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong điều kiện hiện nay với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ, đúng như dự báo của Karl Marx: “Khoa học đã trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp”.
3. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành phải khai thác tối đa tiềm năng của
đất nước. Đây là một đòi hỏi khách quan tất yếu, nhất là đối với những nước
chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghóa với cơ sở vật chất kỹ thuật lạc
hậu chậm phát triển, nguồn lực còn rất dồi dào cả về tài nguyên thiên nhiên đặc
- 22 -
biệt là nguồn lực lao động. Chuyển dòch cơ cấu ngành chính là quá trình phát
triển và mở rộng phân công lao động xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia
mà là phân công lao động quốc tế, nhất là trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu
hóa hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành tuân theo tính
quy luật của nó sẽ phát huy được năng lực nội sinh, tận dụng tối đa năng lực
ngoại sinh, tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
4. Chuyển dòch cơ cấu ngành, phải đáp ứng thực hiện tốt sự phân công và
hợp tác quốc tế theo xu hướng quốc tế hóa sản xuất và đời sống. Trong thời đại
ngày nay, vấn đề quốc tế hóa đời sống nhanh hơn quốc tế hóa sản xuất rất
nhiều, nếu chuyển dòch cơ cấu kinh tế chậm không những không phát huy được
lợi thế tương đối mà có thể còn dẫn đến một hậu quả khó lường, đó là nền kinh
tế phồn vinh giả tạo, phụ thuộc vào các nước khác. Do vậy tính quy luật là thực
tiền tệ. Chính sách tiền tệ, đây là nhân tố hàng đầu, nhân tố đóng vai trò quan
trọng đối với quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ngành. Sở dó như vậy vì vốn là
điều kiện tiên quyết cho quá trình phát triển sản xuất. Trong bất cứ nền sản xuất
xã hội nào cũng đòi hỏi nguồn vốn phải đạt được đến một mức độ nhất đònh,
nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; quá trình thực
hiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển lực lượng sản xuất; chuyển
dòch cơ cấu kinh tế phân công lại lao động xã hội.
Phát triển thò trường bất động sản. Phát triển các thò trường dòch vụ như
dòch vụ khoa học - công nghệ, dòch vụ tư vấn pháp luật , tư vấn quản lý, thò
trường sản phẩm trí tuệ …xúc tiến nhanh hình thành thò trường kinh doanh và
thương mại điện tử.
- 24 -
Tăng cường hiệu lực các công cụ, chính sách quản lý vó mô, tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đổi mới công tác kế hoạch hóa nâng cao
tính đònh hướng và dự báo nâng cao chất lượng của các quy hoạch và kế hoạch
gắn quy hoạch, kế hoạch với thò trường.
Điều chỉnh chính sách đầu tư nhà nước theo hướng tăng cường đầu tư phát
triển nguồn nhân lực, đầu tư kết cấu hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển
dòch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Tiếp tục cải cách hệ thống chính sách thuế theo hướng nuôi dưỡng nguồn
thu, thực hiện công khai minh bạch về hoạt động kinh doanh và thu nhập trong
xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa nhà nứơc và xã hội.
Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ nhằm ổn đònh kinh tế vó mô,
kiểm soát lạm phát, thúc đẩy sản xuất tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển,
bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững. Chủ động xây dựng lộ trình
hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả mở rộng kinh tế đối ngoại.
Xây dựng chiến lược đầu tư trên cơ sở phát huy lợi thế tuyệt đối và tương
đối, nâng cao nặng lực cạnh tranh theo đònh hướng xuất khẩu. Tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho đầu tư và chế biến xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu. Xây dựng
ngành.
Trong điều kiện hiện nay, có những nước trên thế giới sự phát triển dân
số theo hình chóp đã phải huy động nguồn nhân lực từ nhiều nước khác nhau
mới đảm bảo duy trì nền sản xuất. Độ lớn của dân số và tốc độ tăng dân số có