Nền kinh tế NB lúc đầu cũng chỉ là một nền nông nghiệp chủ yếu dựa
vào việc sản xuất các mặt hàng có hàm lượng lao động cao. NB đã phát huy
sức mạnh truyền thống là một nước chuyên chế biến XK các sản phẩm bằng
nguyên liệu NK từ nước ngoài, đã được hình thành từ trước chiến tranh
nhằm nhanh chóng mở rộng sản xuất và tăng cường XK. Với hướng đi đó,
NB đã nhanh chóng trở thành nước đứng đầu thế giới về sản xuất sợi tổng
hợp, cao su, gang, xe ôtô khách và là nước đứng thứ ba trên thế giới về sản
xuất bột giấy, phân đạm, xi măng đồng và nhôm. Trong sản xuất công
nghiệp, NB đã áp dụng chính sách tăng về khối lượng nhưng phải tăng về số
lượng sản phẩm mới như cao su tổng hợp, hàng điện tử, hoá dầu, Với
hướng đi đó, vào những năm đầu thập kỷ 70 NB đã trở thành một trong
những nền công nghiệp tiên tiến nhất thế giới và cũng là một trong những
quốc gia thương mại lớn nhất trên thế giới. Từ năm 1945, XK tăng trưởng
đáng kể và đến năm 2010 đạt hơn 816 tỷ USD; NK đạt trên 730 tỷ USD, và
thặng dư thương mại năm này là trên 80 tỷ USD. Sự mất cân bằng trong cán
cân thương mại với NB đã khiến nhiều nước lo ngại. Các nước này cho rằng
NB đã dựng lên các rào cản đối với hàng hoá nhập khẩu từ các quốc gia
pg. 1
khác. NB đã có một số động thái tích cực để giải quyết vấn đề này. Sau đây
là một số chính sách thương mại quốc tế cơ bản của NB.
Trong giai đoạn này, NB thực hiện mô hình chính sách thúc đẩy XK
và bảo hộ có chọn lọc. Chính phủ đẩy mạnh hơn nữa việc bảo hộ các ngành
công nghiệp trong nước, tiếp tục trợ cấp và giới thiệu những công nghệ tiên
tiến của thế giới cho các ngành công nghiệp nặng và hóa chất. Bên cạnh đó,
NB tăng cường XK các hàng chế tạo công nghiệp nhẹ. Mở rộng quy mô
thương mại quốc tế, độc chiếm các thị trường châu Á.
Các biện pháp mà Chính phủ NB đã thực hiện là:
!"#$%&'#%( phát triển như có các chính sách ưu đãi
năm 1970, khi những chính sách ưu đãi XK của Chính phủ được cắt bỏ
thì vai trò của các tổ chức này cũng thay đổi sang hướng thúc đẩy đầu
tư nước ngoài vào NB.
@ Các công ty thương mại tổng hợp. Các tổ chức này là đầu mối cung cấp
đầu vào sản xuất, bao tiêu sản phẩm đầu ra và thu thập, cung cấp thông
tin thị trường, tìm kiếm các nguồn tài chính cho các công ty sản xuất và
kinh doanh XK nhỏ và vừa. Các công ty này đã đóng vai trò rất tích cực
trong hoạt động XK.
A B,*1CD bằng các công cụ chủ yếu
như thuế quan, biện pháp hạn chế XK tự nguyện. Tuy nhiên, đến những năm
1980, khi NB đã đạt được sự phát triển kinh tế thần kỳ, khiến cả thế giới
kinh ngạc, nhiều ngành sản xuất trong nước vươn lên có sức cạnh tranh với
thị trường thế giới thì chính sách này đã vấp phải sự phản đối từ nhiều nước.
Do đó, NB đã giảm mạnh thuế quan đối với danh mục hàng hóa. Mức độ
giảm thuế quan của NB nói chung là lớn so với các nước khác và mức thuế
quan NK thấp nhất so với các nước phát triển.
Giai đoạn này NB thực hiện chính sách mở cửa thị trường và tự do
hóa nhập khẩu. NB vẫn duy trì ổn định mức kiếm soát XK nhằm bảo đảm an
ninh quốc gia và nhu cầu tiêu dùng trong nước một cách thích hợp đối với
pg. 4
nông nghiệp và hàng hóa tiêu dùng cơ bản khác. Tuy nhiên, về cơ bản, NB
định hướng cho nền sản xuất hướng ra XK.
!"#$%&'()%*+*,-
(./
E156F,11070./9:%/8* như:
miễn giảm thuế cho các công ty XNK; thông qua các ngân hàng phát
triển của NB và ngân hàng XNK, cấp vốn với lãi suất thấp, ưu đãi cho
các doanh nghiệp XK.
) 8G: xây dựng các phòng giới thiệu sản phẩm, triển
pg. 6
0$%$12"3+%*+*(.
U*: Thuế quan là công cụ chính trong chính sách thương
mại NB nhưng đa số hàng NK của NB được miễn thuế hoặc áp dụng
mức thuế quan thấp.
- Năm 2008, tỷ lệ thuế quan trung bình áp dụng nguyên tắc đãi ngộ tối
huệ quốc (MFN) giảm xuống còn 6,1%. Gần 99% dòng thuế quan có giới
hạn và hầu hết tỷ lệ thuế quan áp dụng nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc
MFN đều xấp xỉ với tỷ lệ MFN cho phép.
- Không đánh thuế theo giá hàng, đặc biệt đối với các sản phẩm nông
nghiệp.
- Tỷ lệ thuế quan ưu đãi được áp dụng đối với 141 nước đang phát triển
và 14 vùng lãnh thổ thuộc Hệ thống ưu đãi chung (GSP). Năm 2007,
Chính phủ NB đã mở rộng thêm danh mục các hàng hóa được hưởng
mức trợ cấp ưu đãi tới 49 quốc gia kém phát triển, từ mức 86% tăng lên
98% đối với tất cả các hạng mục thuế quan. Các quốc gia hưởng lợi nhiều
nhất từ GSP NB là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philippin và Việt
Nam. Tỷ lệ thuế quan trung bình áp dụng đối với các nước trong hệ thống
GPS là 4,9% và đối với các nước đang phát triển là 0,5% . Tỷ lệ thuế
quan trung bình trong các Hiệp định thương mại tự do dao động từ 3,3%
(đối với Malaysia) và 3,9% (đối với Brunei).
pg. 7
) !"#$./%9M0,%+7(%/I61C
VW"#$*
Đáp lại những than phiền của các đối tác thương mại về việc hạn chế tiêu
thụ sản phẩm nước ngoài tại NB, trong những năm gần đây, chính phủ
nước này đã xúc tiến một loạt các chương trình nhằm hỗ trợ các doanh
nghiệp nước ngoài XK sang thị trường NB. Chủ yếu do các cơ quan xúc
tiến thương mại NB: JETRO, MIPRO và METI chủ trì triển khai.
@ Đối với các mặt hàng NB khuyến khích NK: tài trợ các khoản cho vay
!8*B7,?NB yêu cầu các nước đối tác giảm XK các mặt
hàng (có thể gây bất lợi cho sản xuất hay tiêu dùng của NB), nếu không
sẽ kiên quyết trả đũa.
) 79H.MIC0YZ%/.,ZF%.,+#R?
chủ yếu là các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các mặt
hàng nông thuỷ sản và thực phẩm. Nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con
người, đồng thời bảo vệ các ngành sản xuất và chế biến trong nước, NB
áp dụng Luật VSATTP, Luật “Chống gây nhiễm và kiểm soát các loại
dịch bệnh”, Luật Ngoại thương và Ngoại hối, Luật Thương mại với
những quy định chặt chẽ, chỉ cho phép nhập vào NB những loại thực
phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm không gây hại cho sức khỏe
của con người.
@ "67$*&589-*:*"; "#: các loại thực
phẩm chứa các thành phần độc tố, có hại, hoặc bị nghi vấn có chứa
các thành phần độc tố; các loại thực phẩm bị thối rữa hoặc bị hỏng;
các loại thực phẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ
thuật trong quá trình chế biến, công thức chế biến hoặc nguyên liệu
chế biến; các loại thực phẩm sử dụng chất phụ gia quá mức cho phép;
các loại thực phẩm không kèm theo các chứng từ chứng minh.
pg. 10
- <'()&= $*&>*?+*@AB+C.D
5&E&=5+&F9-"; "#9: không chứa các
côn trùng gây bệnh hoặc có hại tới sức khỏe con người có trong thịt và
cá tươi, các sản phẩm thịt chế biến như hamberger, xúc xích trái cây,
rau quả hoặc ngũ cốc. Nhà XK các sản phẩm này cũng phải chứng
minh được rằng chúng không gây hại tới toàn bộ thực vật và động vật
của NB.
3 79H'71[1*: Tuy hầu hết hàng NK không cần giấy phép NK
của METI nhưng các mặt hàng sau cần có giấy phép NK:
@ Hàng hóa thuộc 66 mặt hàng liệt kê trong thông báo NK thuộc diện có
pg. 12
thông báo NK không cần phải xuất trình đối với các mặt hàng “tự do
NK” sau:
@ Các hàng hoá đặc biệt theo điều 14 của Luật kiểm soát NK, gồm lô
hàng có giá trị nhỏ hơn 5 triệu Yên.
@ Các hàng hóa mà nhà NK phải thanh toán toàn bộ tiền hàng.
N !\->-&'Z<+Z1X1. Điển hình là các tập
đoàn kinh tế “Keiretsu” và hệ thống phân phối:
@ Các tập đoàn kinh tế “Keiretsu”: là một hệ thống kinh tế, và tổ chức
kinh doanh kiểu NB và thường được hiểu là các tổ hợp hay tập đoàn công
nghiệp khổng lồ của NB. Keiretsu là một trong những đặc trưng nhất của
nền kinh tế NB và thể hiện một sự cạnh tranh sắc bén mà các nước khác
khó có thể địch được. Nó tạo ra hàng rào ngăn cản hàng hoá nước ngoài
xâm nhập vào thị trường NB.
@ Hệ thống phân phối: Chức năng của hệ thống phân phối ở NB không có
gì khác biệt nhiều so với các nước khác. Nó giúp cho việc di chuyển hàng
hoá từ sản xuất đến tiêu dùng, đồng thời đóng vai trò là kênh bán hàng
cho nhà sản xuất và kênh mua hàng cho người tiêu dùng. Hệ thống phân
phối thường bao gồm hai cấp: cấp bán buôn và cấp bán lẻ. Có thể nói hệ
thống phân phối ở NB rất phức tạp, và có các đặc điểm chủ yếu sau:
+) Có rất nhiều cửa hàng bán lẻ, hoặc mật độ cửa hàng bán lẻ rất lớn.
pg. 13
+) Giữa các nhà chế tạo và các nhà bán lẻ tồn tại rất nhiều cấp phân
phối trung gian.
+) Tồn tại hệ thống duy trì giá bán lẻ. Giữa các nhà sản xuất và bán lẻ
có sự liên kết rất chặt chẽ, thể hiện ở chỗ các nhà sản xuất cung cấp vốn
cho các nhà bán buôn; các nhà bán buôn lại cung cấp tài chính cho các
nhà bán lẻ. Các nhà sản xuất thực hiện chế độ chiết khấu hoa hồng
thường xuyên và rộng rãi, sẵn sàng mua lại hàng nếu không bán được,
các nhà bán lẻ thường chỉ kinh doanh một số hàng hóa của các nhà sản
những mặt hàng “sơ cấp” như dệt may đến hàng hóa “thứ cấp”, và các
mặt hàng công nghệ cao như đóng tàu, chế tạo máy bay; hóa chất; các
pg. 15
sản phẩm công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo khác như ô tô xe máy,
máy móc, thiết bị điện tử cao cấp như máy tính, Robot, mạch tổ hợp,
thiết bị nghe nhìn và dồ điện dân dụng hiện đại,
@ ‰nh hưởng của chính sách tỷ giá:
+) Từ năm 1993 đến 1995, do sự điều chỉnh làm đồng Yên tăng giá mạnh
so với USD mà XK giảm rõ rệt từ mức tăng trưởng bình quân 10% /năm
trong những năm nửa sau thập kỷ 80 xuống 6,6% năm 1993; 5,1% năm
1994 và 2,6% năm 1995.
+)
"H*5./
@ Chính sách thương mại của NB là khuyến khích NK các hàng hoá
nhằm đa dạng hoá nền kinh tế cũng như tăng tính năng động cho mỗi
ngành sản xuất trong nước. Từ đó, tăng cường cơ hội lựa chọn cho người
tiêu dùng và sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước thông qua
cải tiến công nghệ, kỹ thuật, quản lý
@ Trong khi theo đuổi chính sách mậu dịch tự do, NB vẫn có cơ chế bảo
hộ ngành sản xuất trong nước một cách hiệu quả. Thay cho những biện
pháp bảo hộ mang tính lộ liễu như áp đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng
hoặc áp đặt thuế suất NK cao, NB đã sử dụng các biện pháp bảo hộ được
lồng vào những lý do chính đáng như để bảo vệ những ngành sản xuất
pg. 16
trong nước trước những hành động thương mại không lành mạnh, bảo vệ
sức khỏe con người, kiểm soát chất lượng, môi trường, quy định về an
toàn thực phẩm, điều kiện lao động, kiểm soát dịch bệnh, chống bán phá
giá, chống trợ cấp, ghi nhãn hàng hoá.
@ Người NB có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào dấu
chứng nhận chất lượng trên bao bì. Họ coi đó như là sự đảm bảo độ tin
khai thác các lợi thế có lợi cho quan hệ thương mại với các thị trường
này. Đây là những thị trường được đánh giá là có sức hấp dẫn nhất hiện
nay đối với các nhà đầu tư Việt Nam.
pg. 18
"H*5./
@ Để cải thiện hiện tượng hàng NK ồ ạt, tràn lan mà chất lượng kém
như hiện nay, đặc biệt là sản phẩm NK từ Trung Quốc, cần có quy định
cụ thể và chặt chẽ hơn về chủng loại và tiêu chuẩn hàng NK, các cơ quan
tổ chức có trách nhiệm trong kiểm tra, kiểm soát hàng NK cần hoạt động
nghiêm túc hơn.
@ Có biện pháp hạn chế hiện tượng tiêu cực trong cấp giấy phép và hạn
ngạch NK.
pg. 19