Những bài viết Văn hay nhất dành cho HSG lớp 8 - Pdf 25

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

NGUYỄN DU


TUYỂN TẬP NHỮNG MẪU BÀI
VIẾT TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN LỚP 8
Ngêi thùc hiÖn:
Lưu Thị Huê
Ơ
Năm học: 2012 - 2013
Đề bài 1: Có ý kiến cho rằng: Tình mẫu tử là mạch nguồn tình cảm không bao
giờ vơi trong tâm hồn mỗi con người.
Theo em, mạch nguồn tình cảm ấy được thể hiện như thế nào qua nhân vật
bé Hồng qua đoạn trích “Trong lòng mẹ” (trích hồi kí “Những ngày thơ ấu -
Nguyên Hồng).
Dàn ý bài chi tiết (bài viết bên dưới)
Mở bài: - Dẫn dắt một câu thơ nào đó để làm toát lên vẻ đẹp trong văn của nhà văn
Nguyên Hồng hoặc có thể giới thiệu nhà văn Nguyên Hồng.
- Dẫn dắt vấn đề: Tình mẫu tử là mạch nguồn tình cảm không bao giờ
vơi trong tâm hồn mỗi con người.
Thân bài: Chứng minh ý kiến trên là đúng thông qua tác phẩm “Trong lòng mẹ”
(trích “Những ngày thơ ấu”) của Nguyên Hồng.
- Luận điểm 1: Đoạn chuyển.
+ Giải thích thế nào là tình mẫu tử? (khẳng định đó là một thứ tình cảm
thiêng liêng và không bao giờ có thể giải thích được - dẫn dắt nhân vật bé Hồng sau
phần giải thích - có thể so sánh với các nhân vật khác ở truyện khác).
+ Tóm tắt hay nói cách khác là kể lại một cách thật ngắn gọn hoàn cảnh của
bé Hồng và nhắc lại tình cảm của bé Hồng đối với mẹ.
- Luận điểm 2: Chứng minh tình yêu thương của bé Hồng đối với mẹ thông qua

cậu bé.
Lưu ý: Vì đây là trọng tâm của đề bài nên khi làm bài cần xoáy sâu vào luận
điểm này, các luận điểm khác tuy phải đầy đủ ý những không nên viết dài và đầu tư,
nên tập trung vào luận điểm này vì đây mới là dịp để tình yêu của bé Hồng được
thể hiện. Khẳng định tình mẫu tử là tình cảm bất diệt.
- Luận điểm 4: Mở rộng vấn đề (đánh giá vấn đề, phản đề, liên hệ - mở rộng).
+ Đánh giá vấn đề: Khẳng định, tình mẫu tử sẽ mãi không bao giờ phai trong
bé Hồng và đặc biệt hơn là sẽ không bao giờ mất đi trong những con người có trái
tim bất tử.
+ Phản đề: Thường có trong văn nghị luận về tư tưởng đạo lí, đời sống,
hiện tượng xã hội, nếu là học sinh có sức viết tốt, biết cân chỉnh thời gian hợp lí thì
nên cho mục phản đề này vào: khẳng định, trong xã hội hiện nay, không có ít những
trường hợp “bán rẻ” tình mẫu tử, không coi đó là một tình cảm chân chính và có
những hành vi trái ngược với vấn đề chứng minh. Qua đó, ta có thể lên án những
hành vi đó
+ Liên hệ - mở rộng: bao gồm liên hệ bản thân và liên hệ với các tác phẩm
khác. Khi liên hệ bản thân: ta nên liên hệ với thực tế đời sống và với bản thana mình
rồi đưa ra những việc làm tốt (những việc làm trái ngược thì đã có ở mục phản đề,
nếu không viết mục phản đề thì nên lướt qua). Khi liên hệ với các tác phẩm khác:
liện hệ với những tác phẩm có chung chủ đề (vd: Huệ Chi trước lễ cưới, Mợ Du,
không nhất thiết phải cùng tác giả) và nêu nổi vật những điểm chung của các tác
phẩm rồi đánh giá, nhận xét vấn đề chứng minh.
Lưu ý: Ngoài ra, ta có thể nhận xét nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ
thuật kể chuyện và đánh giá giọng văn của nhà văn Nguyên Hồng để khẳng định:
trong văn ông luôn có tình người
Kết bài: Khẳng định lại vấn đề theo hướng mở rộng của bản thân.
(trải nghiệm kiến thức bản thân)
Bài làm mẫu
“Con suốt đời vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời, lòng mẹ vẫn theo con”

lúc nào cũng luôn tồn đọng cái dư vị đắng cay về một người mẹ hiền hậu, luôn chở
che trong quá khứ. Xung quanh cậu, luôn có những rắp tâm tanh bẩn muốn reo rắc
vào tâm trí cậu để cậu ruồng rẫy, khinh rẻ mẹ. Nhưng cũng chính từ cái rắp tâm
tanh bẩn, cay độc đó, bé Hồng mới có cơ hội bộc lộ rõ những tình cảm của mẹ đối
với mẹ đã được ấp ủ bấy lâu.
“Gần đến giỗ đầu thấy tôi, mợ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về”. Có lẽ, niềm
ước mong mẹ của cậu bé đã đến mức cực độ. Cậu sống giữa cảnh đau đớn về mặt
tinh thần: mất cha - thiếu mẹ, vậy mà, luôn có những mối rắp tâm bẩn thỉu muốn
dấy vào tâm trí non nớt của cậu bé. Một hình ảnh người mẹ: “bán bóng đèn và
những phiên chợ chính còn bán cả vàng hương”. Câu chuyện đã hé lộ ra một bà cô
tậm địa độc ác, bà ta cố ý nói cho cậu bé biết những cảnh ngộ đáng thương của mẹ
cậu để có thể cười nhạo, giễu cợt mẹ. Nhưng bà ta hoàn toàn không hề biết, càng
làm như vậy thì tình cảm của bé Hồng giành cho mẹ lại tăng lên gấp bội, tiếp thêm
tình cảm và sức mạnh để cậy vượt qua cái xã hội “hỗn mang”, tàn ác ấy.
Và rồi, cuộc đối thoại giữa Hồng và bà cô bắt đầu từ những câu hỏi đầy tanh
bẩn hằn chứa một rắp tâm phá đi sợ dây tình cảm giữa bé Hồng và mẹ. “Một hôm
cô tôi gọi tôi đến và bảo: Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày
không?”. Một câu hỏi đầy “uy lực”, lay động đến thứ tình cảm thiêng liêng của bé
Hồng với mẹ, gợi nên trong chú bao buồn tủi xen lẫn sự nhớ nhung dồn nén bây lâu
nay. Cậu bé “định toan trả lời có” nhưng rồi, Hồng lại trả lời một cách chắc chắn
“Không! cháu không vào. Cuối năm, thế nào mợ cháu cũng về”. Thật bất ngờ! Có
lẽ, Hồng đã sớm nhận ra trong niềm vui “hụt” một điều gì đó tanh bẩn của bà cô.
Cậu đã đoán ra được ý định cảu bà cô như “muốn gieo rắc vào đầu óc tôi những
hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi”. Một ý định tàn bạo! Nhưng may
thay, chính cái thiêng liêng, cao quý cảu tình mẫu tử đã kéo cậu lên từ “đám bùn
lầy” với những rắp tâm tanh bẩn - “nhưng đời nào lòng yêu thương và sự kính mến
mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn kia xâm phạm đến”. Và những điều đó phần
nào đã làm rạng lên một tình cảm cao đẹp.
Phải chia tay với một cơ hội gặp mẹ “hiếm có”, bé Hồng muốn chạy thật
nhanh, tránh đi “câu nói cay độc” của bà cô. Nhưng bà ta lại vẫn chưa tha cho một

yêu thương đích thực. Để rồi điều đó sẽ chứng minh cho ý nghĩa của tình mẫu tử
cao quý, vẫn luôn “là mạch nguồn cảm xúc không bao giờ vơi trong tâm hồn mỗi
con người”. Dù qua bao chông gai, thử thách, vượt lên những “hố sâu tuyệt vọng”,
một “vũng đầm lầy” hằn chứa những xấu xa của một xã hội đen tối, không chút tình
người. Chỉ qua những câu nói ngắn gọn, hàm súc được thể hiện qua sự đối thoại với
bà cô, Nguyên Hồng đã chứng minh cho ta thấy, sức mạnh của tình mẫu tử không
bao giờ kiệt, càng trong cùng cực, cô đơn, sức mạnh đó bị đè nén rồi lại bùng lên dữ
dội, ánh lên một sức mạnh bất diệt - và đó cũng chính là triết lí nhân sinh của nhà
văn Nguyên Hồng.
Nhưng rồi, điều đó còn đặc biệt hơn nữa khi người mẹ hiền hậu mà cậu bé
mơ ước bấy lâu nay trở về. Dường như, “cái khóa” bị trói buộc lúc trước đang dần
dần mở ra. Bóng tối của những ngày qua đã tan biến, nhường chỗ cho ánh sáng diệu
kì tràn ngập trong một tâm hồn trong sáng, đi đôi với đó là tiếng gọi khao khát tình
mẹ: “Mợ ơi mợ ơi mợ ơi!”. Ba tiếng gọi cứ ngân dài ra tha thiết mà đằm thắm
tột cùng. Dường như, linh cảm xuất phát từ trái tim khao khát của cậu bé hoàn toàn
đúng. “Chiếc xe kéo” chỉ vừa “thoáng qua” là chú đã cảm nhận được hương vị ngọt
ngào, đằm thắm mà thiếu thốn bấy lấu.
Nhưng linh cảm đó lại không làm cậu lay động mà xen vào đó là “ảo ảnh của
dòng nước trong suốt, chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước mắt gần rạn nứt của
người bộ hành giữa sa mạc”. Có lẽ, niềm tin vững chắc lúc trước của cậu đã cạn kiệt
mà đúng hơn là gần tuyệt vọng. Phải chăng, chỉ có dòng sữa ngọt ngào cảu người
mẹ mới bồi đắp được vết rạn nứt trong trái tim non nớt ấy.
Giây phút cậu bé gần như là tuyệt vọng thì bỗng “xe chạy chầm chậm mẹ
tôi cầm nón vẫy tôi”. Bây giờ thì không còn là những giọt lệ đau đớn nữa mà thay
vào đó là những giọt nước mắt chảy dài trên khuôn mặt hạnh phúc, thấm đẫm trong
trái tim ấm nồng chứa chan bao niềm hạnh phúc, mãn nguyện. “Vài giây sau, tôi
đuổi kịp”, trái tim băng giá sắp được mẹ sưởi ấm đã “trỗi dậy” sâu một giấc ngủ
dài. Bao nhiêu mệt nhọc, nỗi giận hờn, đã tan biến. Trong phút chốc đã mở ra một
thế giới tình cảm “mơn man” khắp người cậu bé. Trước đây, nước mắt của cậu bé
đã từng “chan hòa” bởi sự đau khổ, tủi nhục. Và giờ đây, những giọt nước mặt ấy

Có lẽ, bàn tay người mẹ như sức mạnh thiêng liêng, che chở, ôm ấp con đã
tạo thành những “chuỗi giai thoại”. Và chắc có lẽ vậy nên “từ ngã tư đầu trường cho
đến về nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi những câu gì và tôi đã trả lời mẹ tôi
những câu gì nữa!”. Và thế rồi, những câu nói xúc xiểm, cay độc của bà cô như
muốn “gieo rắc vào đầu tôi để tôi ruồng rẫy, khinh miệt mẹ” cũng chỉ là “ù ù bên tai
hay thoáng qua như một cơn gió”. Có lẽ, chính vì sợi dây tình mẫu tử gắn kết thiêng
liêng hay tình yêu nồng nàn của bé với mẹ mà giúp bé có thể vượt qua từng hố sâu
tanh bẩn, nâng đỡ bé thoát khỏi những cái cảnh sống “trườn” qua một cuộc đời bất
hạnh với một trái tim khao khát tình mẹ. Dường như, thứ tình cảm thiêng liêng, ấm
nồng đó sẽ mãi “không bao giờ vơi” trong trái tim của những con người bất tử. Và
rồi, mọi chông gai hay những câu nói đáng “nguyền rủa” kia sẽ mãi không bao giờ
bám lên sợi dây “trơn tuột” kia, chứa chan bao niềm tha thiết.
Qua đấy, ta mới bất chợt hiểu rằng: tình yêu thương mẹ là nét nổi bật trong
tâm hồn ta - những con người mang một trái tim thiên thần. Và bé Hồng cũng vậy,
tình cảm thiêng liêng, sâu nặng đã giúp bé có những cách nhìn xác thực hơn về con
người và cuộc đời “hỗn mang”. Cho dù cảnh ngộ có éo le đến mấy, thứ tình cảm
thiêng liêng được gọi với cái tên giản dị - mẫu tử ấy sẽ không bao giờ nhạt phai
trong tâm trí những con người mang tâm hồn của một tình yêu đích thực.
Mỗi dòng văn, câu chữ của tác giả đã “lôi” bối cảnh qua cách kể giản dị, giàu
sức sống, thấm dẫm tình người - khác hoàn toàn với “Mợ Du” hay “Huệ Chi trước
lễ cưới”. Kết cục của nó hoàn toàn bi thảm, như một sự giải thoát khiến người đọc
phải sửng sốt, đau đớn tột cùng. Mặc dù vẫn là những cảm giác êm đềm về mẹ
nhưng “Trong lòng mẹ” lại mang một triết li nhân sinh sâu sắc về mẹ, một kết cục
tốt đẹp “mẹ con đoàn viên trong một niềm vui tột cùng”. Dường như, đây là sự bồi
đắp cho tâm hồn thánh thiện của một đứa con hiếu thảo, khao khát tình mẹ bây lâu.
Tóm lại, chỉ với những dòng văn giản dị mà thấm đẫm tình người, Nguyên
Hồng đã chứng mình cho ta thấy rõ: “Tình mẫu tử là mạch nguồn tình cảm không
bao giờ vơi trong tâm hồn mỗi con người”. Khi bài ca về tình mẫu tử cất lên từ tận
đáy lòng thì tình cảm ấy sẽ cho ta cái cảm giác thế nào là thứ tình cảm thực sự trong
trái tim thực sự.

quan trong để khi làm bài không thừa hoặc thiếu luận điểm. Trên đó là một trong
những ví dụ cụ thể, nếu không được in đậm thì đa số sẽ không thế xác định được
vấn đề phải chứng minh (chủ yếu là vấn đề 2).
- Ở đề bài 1.2 thì không có vấn đề nghị luận nhưng HS cũng phải nếu
khái quát về nhân vật lão Hạc để làm tiền đề cho phần thân bài.
Thân bài: Chứng minh ý kiến trên là đúng thông qua nhân vật lão Hạc trong tác
phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao.
- Luận điểm 1: Đoạn chuyển.
+ Đối với cách làm của HSG thì nên trích dẫn một câu nói nào đó để chứng
minh vấn đề [vd: “Đối với tôi, văn chương không phải là sự thoát ly hay sự quên
lãng. Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực. Nó có thể thay đổi cả
một thế giới giả dối và tàn ác, ca ngợi sự công bình, làm người gần người hơn”
(Thạch Lam)].
Lưu ý: Khi trích dẫn câu nói thì phải cho vào ngoặc kép, cuối câu nói là tên
của người nói/viết (nếu đã giới thiệu rồi thì không cần). Khi trích dẫn cần phải đầy
đủ, chính xác, nếu không nhớ rõ câu nói thì nên phác họa lại nội dung câu nói,
không nên trích sai câu nói. Sau khi đã trích thì nên giải thích ý nghĩa câu nói để
làm sao liên hệ được đến với vấn đề cảu tác phẩm (trong trường hợp câu nói của
Thạch Lam và đối với đề bài này thì câu nói chỉ có tác dụng với vấn đề 1 - cái chết
của lão Hạc).
+ Tóm tắt hay nói cách khác là kể lại một cách thật ngắn gọn hoàn cảnh của
Lão Hạc (vật chất và tinh thần) để làm sao toát lên sự vất vả, khổ cực của lão qua đó
đánh giá trước nghệ thuật miêu tả tâm lí hay phong cách viết văn của nhà văn Nam
Cao.
- Luận điểm 2: Hoàn cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần của lão Hạc.
+ Vật chất: một căn nhà cũ nát, một sào vườn cằn cỗi, một con chó Vàng.
+ Tinh thần: vợ mất sớm, sống cũng với đứa con trai con trai bỏ đi đồn
điền cao su, lão cô đơn một mình với cậu Vàng (chó Vàng).
+ Hoàn cảnh cùng cực sau khi lão ốm và đứa con trai ra đi:
1, Gia sản chỉ có một sào vườn nhỏ đủ để cho lão bòn mót và một con

Vàng.
3, Khẳng định: “Đó là những sáng tạo nghệ thuật sâu sắc của Nam Cao
có khả năng giúp người ta nhận rõ thực chất đời sống và con người nông dân trước
Cách Mạng”.
- Luận điểm 4: Mở rộng vấn đề, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật của t/g.
+ Đánh giá vấn đề (có 3 vấn đề để đánh giá - như trên),
+ Phản đề: Thường có trong văn nghị luận về tư tưởng đạo lí, đời sống,
hiện tượng xã hội, nếu là học sinh có sức viết tốt, biết cân chỉnh thời gian hợp lí thì
nên cho mục phản đề này vào: khẳng định, trong xã hội hiện nay, không có ít những
trường hợp “coi rẻ” phẩm chất của mình. Qua đó, đánh giá và phê phán những hành
động đó.
+ Liên hệ - mở rộng: bao gồm liên hệ bản thân và liên hệ với các tác phẩm
khác. Khi liên hệ bản thân: ta nên liên hệ với thực tế đời sống và với bản thana mình
rồi đưa ra những việc làm tốt (những việc làm trái ngược thì đã có ở mục phản đề,
nếu không viết mục phản đề thì nên lướt qua). Khi liên hệ với các tác phẩm khác:
liện hệ với những tác phẩm có chung chủ đề (vd: nhân vật Chí Phèo trong truyện
ngắn cùng tên ) và nêu nổi vật những điểm chung của các tác phẩm rồi đánh giá,
nhận xét vấn đề chứng minh.
Lưu ý: Ngoài ra, ta có thể nhận xét nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ
thuật kể chuyện và đánh giá giọng văn của nhà văn Nam Cao để khẳng định: trong
văn ông luôn có tình người và đề cao phẩm chất con người dù trong bất cứ hoàn
cảnh nào đi chăng nữa.
Kết bài: Khẳng định lại vấn đề theo hướng mở rộng của bản thân.
(trải nghiệm kiến thức bản thân)
Bài làm mẫu
Nam Cao - một nhà văn nhân đạo - một trong những cây bút sáng giá đã để
lại những trang viết tâm huyết về người nông dân trước Cách mạnh tháng Tám
mang đậm giá trị hiện thực trong trào lưu hiện thực phê phán 1930 - 1945. Với nhân
vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên, cách nhìn đúng đắn, sâu sắc, nhất là tình
thương da diết và niềm tin mãnh liệt vào những “người cùng khổ” của Nam Cao đã

mới có đủ cái ăn. Đó là tất cả cuộc đời của lão khiến lão phải thốt lên rằng: “cuộc
đời như thế chỉ “nhỉnh” hơn cái kiếp con chó”! Và cũng chính từ cái nghèo, cái đói
mà người cha như lão đành phải chịu khuất phục trước hạnh phúc của đứa con trai
“độc đinh”. Thế rồi, con trai lão quyết chí đi đồn điền cao su để có tiền cho “bõ
tức”. Cuộc đời của lão như nhói lên một nỗi đau, một cảnh đời cùng khổ của những
người nông dân trước cách mạng Tháng Tám.
Cậu con trai duy nhất bỏ lão mà đi khiến lão trơ trọi một mình. Chỉ có con
chó Vàng làm bạn sớm tối để lào ân hận và cảm thấy mình có lỗi. Con chó trở thành
“Cậu Vàng”, thành người một nhà của lão. Dường như, lão vẫn không thể nào quên
được đứa con trai. Trong kí ức của lão, cậu Vàng là một kỉ vật thiêng liêng, là tài
sản của đứa con trai. Có một sợi dây liên lạc rất lạ lùng giữa lão Hạc, cậu Vàng và
cậu con trai “vắng mặt”. Cho nên có bao nhiêu tình thương, nỗi nhớ chất chứa trong
lòng, lão dồn hết vào con chó. Lão cho nó ăn trong bát sứ, chia sẻ thức ăn, chăm
sóc, trò chuyện với nó như một người bạn thâm giao, tưởng không thể nào có thể xa
rời nó. Bởi thế, cái ý định “có lẽ bán con chó” ấy của lão Hạc bao lần chần chừ
không thực hiện rồi cuối cùng, cậu Vàng được bán đi với giá năm đồng bạc.
Cậu Vàng bán đi có vẻ là quyết định khó khăn nhất của đời lão. Năm đồng
bạc kể ra cũng là “món tiền to”, nhất là giữa thời buổi “đói deo đói dắt thế này”.
Nhưng, lão Hạc bán cậu Vàng đi không phải vì tiền mà bởi tình cảnh đói nghèo,
khốn quẫn đã buộc lão phải chia tay với nó. “Thóc cao, gạo kém”, sức cùng, lực
kiệt, lão đành phải làm như vậy! Cái khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng
không thể giấu được bộ dàng “cười như mếu và đôi mắt lúc nào cũng ầng ậng
nước”. Lão tự nhất mình là kẻ bất nhân, là tên lừa đảo với một con cho vốn “tin yêu
của mình”. Có lẽ, đây là giây phút đáu đớn của cuộc đời lão khiến “mặt lão đột
nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu
lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu
khóc !”. Cuộc đời lão như dòng nước mắt chảy dài trên những nỗi đau bất lực. Có
lẽ, cậu Vàng đã là một “phần nước mắt” nước mắt của lão. Nó tỏa rạng tâm hồn và
làm ảnh lên bản chất tốt đẹp trong ông lão nông dân đầy bất hạnh. Vì thế, sau khi
bán cậu Vàng, từ túng quấn, lão Hạc bồng chìm xuống như bị ai “vùi dập”.

lên” mới hạn chế được những cái giật mình, đầu tóc rồi bời, áo quần xô xệch, bọt
mép trào ra ta mới thất lão phải trải qua nỗi đau đớn tột cùng về thể xác. Hai tiếng
đồng hồ trôi qua mà cứ như là rất lâu. Chỉ qua những nét phác họa đơn gian, bậc
thầy Nam Cao đã cực tả được nỗi đau khôn cùng của lão Hạc. Không chỉ tả thực,
ông còn đưa ra một câu đánh giá “cái chết thật dữ dội!”. Thì ra, cái chết của lão để
chứng minh lão không bao giờ theo gót Binh Tư làm chuyện bậy và tình yêu thương
con tha thiết. Dường như, cái chết đau đớn của lão như sức ám ảnh ghê gớm trong
mỗi đồng giả chúng ta.
Cái chết của lão lại hé lộ ra một khả năng: “Tại sao, lão lại phải chết một
cách đau đớn và nghiệt ngã và đau đớn bằng bả chó?”. Phải chăng, đó như sự chuộc
lỗi với con chó Vàng. Một cái chết đau đớn về thể xác nhưng lại thanh thản về tinh
thần. Nhưng thực sự, lão rất muốn sống, muốn giữ lại toàn bộ tài sản trong niềm
mong nhớ đứa con trai trở về. Nhưng lão phải chết để trọn đạo làm cha, giữ được
cái bản chất lương thiện của mình. Lão chết để bảo toàn số tiền cưới vợ cho con và
lão cũng không muốn phiền lụy đến làng xóm, Lão chết tượng trưng cho tình
thương âm thầm và cái chết của lão đã đưa lão đến một thế giới hoàn toán mới, tốt
đẹp hơn, tươi sáng hơn, không chút phiền muộn nào và cũng không bị vùi dập của
chế độ thực dân phong kiến.
Có lẽ, cái chết của lão vật vã trên giường cũng gần như cảnh “thàng Mục,
thàng Xiên bắt cậu Vàng”! Đó như lời tạ tội chân thành, sâu sắc đến người bạn mà
lão trân trọng nhất. Qua cái chết dữ dội đó, ta mới thấy bản chất lương thiện và lòng
tự trọng cuả con người cao biết chừng nào!
Dường như, từng câu chữ là niềm đau, niềm đồng cảm của nhà văn trước
nhân vật. Và cũng qua đó, ta mới biết, dù có chết, họ vẫn luôn giữ lại bản chất
lương thiện và lòng tự trọng của mình. Đồng thời, nó còn thể hiện một tinh thân
nhân đạo và giá trị hiện thực của tác giả trong tác phẩm. Và điều đó là những sáng
tạo nghệ thuật sâu sắc có khả năng giúp người ta nhận rõ thực chất đời sống và con
người nông dân trước Cách Mạng.
Qua từng chi tiết đó, ta mới cảm nhận được những ý nghĩa sâu sa ẩn chứa bên
trong những con người gần như “gàn dở”. Trong sự bế tắc, cùng cực của hoàn cảnh,

*Mở rộng vấn đề - kiến thức tham khảo lớp 8:
Giá trị trong các văn bản: truyện ngắn “Lão Hạc” (Nam Cao); đoạn trích
“Tức nước vỡ bờ” (trích tiểu thuyết “Tắt đèn” - Ngô Tất Tố); đoạn trích “Trong
lòng mẹ” (trích hồi kí “Những ngày thơ ấu”) - Nguyên Hồng).
1, Giá trị hiện thực có trong Truyện kí hiện đại Việt Nam:
- Các nhà văn hướng ngòi bút của mình phản ánh số phận, cuộc sống cùng cực, đau
khổ của người nông dân trước Cách mạng (đặc biệt là phụ nữ và trẻ em).
- Đồng thời phơi bày bộ mặt xấu xa, tàn ác, bất nhân, bất nghĩa của chế độ phong
kiến Việt Nam đã đẩy người nông dân đến bước đường cùng, không có lối thoát.
2, Giá trị nhân đạo có trong Truyện kí hiện đại Việt Nam:
- Các nhà văn hướng ngòi bút của mình về con người bằng con mắt tình thương, sự
cảm thông, chia sẻ với nỗi bất hạnh, đau khổ của con người. Họ đặt mình vào cuộc
sống nhân vật, đau nỗi đau nhân vật, vui buồn cùng nhân vật, vui cùng cuộc sống
của những “đứa con tinh thần” do họ nhào nặn.
- Đề cao giá trị tốt đẹp của người nông dân. Đằng sau vẻ bề ngoài mộc mạc, thô ráp
của con người là thiên lương trong sáng và phẩm chất tốt đẹp của con người lúc bấy
giờ của con người.
- Họ đã hướng con người đến một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, vượt lên trên mọi
đau khổ của đời sống mà con người đang phải chịu đựng.
- Tố cáo, lên án xã hội hiện thực mà chủ yếu là chế dộ phong kiến cường quyền, hà
khắc, o ép đến tận xương tủy.
3, Tư liệu tham khảo “Quan điểm của nhà văn - bậc thầy Nam Cao”:
“Thế giới của những kẻ bị lưu manh hóa gồm nhiều loại” (Thạch Lam).
Song họ đêì bị chế độ phong kiến dồn ép làm chuyện bậy. Bằng chứng là Binh Tư
hay Chí Phèo - họ là những người lương thiện, họ ham sống, muốn sống những đều
bị “vùi dập” nên bỗng họ trở nên bần tiện, ích kỉ, xấu xa. Những cái thế giới ấy
không thể nào lôi kéo được bản chất của một con người thực sự. Cũng như lão
Hạc, “lão không phải là con người phi thường về tài năng những lại vượt lên trên
những thứ tầm thường về đạo đức” (Chu Văn Sơn). Và đó cũng chính là quan điểm,
giá trị nhân đạo hằn ẩn trong phong cách viết văn của bậc thầy Nam Cao.

vừa xấu xa; vừa cao thượng, vừa tầm thường; vừa đáng yêu, vừa đáng ghét. Cũng
theo triết lí đó, trong những con người gần như gàn dở, xấu xa, nếu ta không có sự
cảm thông, chia sẻ thì sẽ mãi mãi ta không tìm được ở họ ánh sáng lương tri, ý thức
nhân phẩm - một nét đẹp nào đó của tâm hồn đáng để trân trọng. Điều đó có lẽ
xuất phát từ chính lòng yêu thương con người của Nam Cao. Phải có niềm tin sâu
sắc về con người, biết đồng cảm, chia sẻ thì ông mới viết nên được những câu chữ
đậm nét cảm thông như vậy.
Không chỉ có mình Nam Cao, ngay cả trong cuộc sống thực tại của chúng ta
cũng phải học tập những điểm tốt đó của những “tiền nhân” đi trước. Trong trái
tim mỗi con người có cả sự xấu xa. Vì vậy, ta phải luôn cảm thông, đồng cảm với
mọi người xung quanh, đặc biệt là với những con người có hoàn cảnh bất hạnh.
Đồng thời, cũng phải có ý thức lên án những kẻ sống vô tình, lạnh lùng, vô cảm,
thờ ơ trước hiện tại.
Có thể nói, truyện ngắn “Lão Hạc” là một tác phẩm chứa chan bao triết lí
sống cao đẹp. Đó chính là sự trăn trở của một trái tim vĩ đại. Bởi thế, “Truyện
ngắn “Lão Hạc” luôn sừng sững một niềm tin sâu sắc của Nam Cao về con người
(Lê Duy) là như thế!
Đề bài 3: Chứng minh lòng yêu nước, thương dân của các vị vua, chủ tướng thông
qua: “Thiên đô chiếu” (“Chiếu dời đô” - Lý Công Uẩn); “Hịch tướng sĩ” (Trần
Quốc Tuấn); “Hịch tướng sĩ” (Nguyễn Trãi).
Bài làm mẫu
Khi nhắc đến cảm hứng chủ đạo trong những áng thiên cổ hùng văn của mọi
thời đại từ thế kỉ XV thì ta không thể không nhắc đến cảm hứng yêu nước. Trải qua
những trang sử dài lâu, vẻ vang, “tuy từng lúc mạnh yếu khác nhau”, nhưng vẫn
luôn hiện hữu niềm tin tự hào trong mỗi người dân Việt Nam về những con người
mang đậm “tình yêu nước, nghĩa thương dân”. Trong số đó, ta không thể không
nhắc đến những vị anh hùng như Lý Công Uẩn trong “Chiếu dời đô”, Trần Quốc
Tuấn trong “Hịch tướng sĩ” và Nguyễn Trãi trong “Nước Đại Việt ta”.
Đọc ba áng văn chương kiệt tác này, ta mới cảm nhận được tấm lòng sâu sắc
của những con người luôn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nước, cho dân. Đối với họ, nỗi

tướng sĩ”.
Là một chủ tướng có lòng yêu nước hào hùng, ông không thể “mặt lấp tai
ngơ” trước những hành động bạo tàn của kẻ thù, ông căm thù chúng làm ông không
tiếc những lời cay xé để lên án hành động như “nghênh ngang đi lại ngoài đường”
như một đất nước không vua, “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình” hay “vơ vét
vàng bạc, ngọc lụa để vung đầy túi tham của chúng”. Từ lòng căm thì giặc, ta lại
càng cảm thương cho vị chủ tướng khi quên ăn, mất ngủ, đau đớn đến “tim gan thắt
ruột”, “nước mắt đầu đìa” vì uất ức chưa trả được mối thù nợ nước. Từ đó, tấm lòng
xả thân vì nước, nguyện hi sinh “trăm thân” cho quê hương làm nổi bật hẳn một vị
anh hùng đáng cảm phục. Có lẽ vi thế, ông đã nghiêm khắc thức tỉnh các tướng sĩ
đang sống trongc ảnh “xa hoa”, sung sướng. Ông muốn họ thực sự kiên quyết chống
giặc đồng thêi cũng muốn đất nước, hưng thịnh đến muôn đời. Qua đó, ta mới hiểu
rõ tấm lòng cao cả, anh minh, yêu nước, thương dẫn của cị tướng Hưng Đạo Vương
- Trần Quốc Tuấn.
Đối với “Chiếu dời đô” đã toát lên niềm tự hào cao độ về bản lĩnh, khí phách
của Đại Việt, còn “Hịch tướng sĩ” lại khẳng định một nền độc lập - tự do bền vững.
Còn đối với Nguyễn Trãi trong “Nước Đại Việt ta” lại khác, lòng yêu nước, thương
dân, khát vọng tự do đã được đúc kết thành chân lí ôm ấp trong trái tim người dân
đất Việt.
Bài cáo của Nguyễn Trãi như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai mang ý nghĩa
lịch sử của cả một đất nước, thể hiện ý thức tự chủ, quyền dân tộc. Tư tưởng nhân -
nghĩa vốn là khái niệm đạo đức của Nho Giáo, được hiểu là “lòng thương người
chính là việc cần làm”. “Yên dân” là làm cho dân được hưởng thái bình những
muốn “yên dân” thì phải đi đôi với việc “trừ bạo”. Có bảo vệ được dân thì mới thực
hiện được mục đích “yên dân”. Nguyễn Trãi đã khẳng định mạnh mẽ chủ quyền của
một đất nước, đồng thời khơi gợi cho chúng ta một niềm tự hào dân tộc cao cả.
Chân lí của Nguyễn Trãi như sức mạnh trong tâm hồn yêu nước, thương dân có
trong trái tim mãnh liệt của ông. Điều đó như tiềm thức khắc sâu trong tim mỗi độc
giả chúng ta:
“ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

giúp con người thể hiện rõ từng khung bậc cảm xúc của mình. Những tác phẩm văn
học được làm nên từ chất liệu cuộc sống, thể hiện rõ tình cảm của cuộc sống hiện
thực. Vì thế, văn học còn là chiếc chìa khóa vàng mở ra lâu đài nhân ái và tình
thương, hướng chúng ta đến “chân - thiện - mĩ”. Tình yêu thương con người làm
nên sự hấp dẫn của văn chương, ngược lại, văn chương có nhiệm vụ bồi đắp tình
yêu thương giữa người với người.
Nhà phê bình văn học Nguyễn Văn Siêu đã từng nói: “Văn chương có loại
đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chuyên chú đến con người.
Còn loại không đáng thờ chỉ chuyên chú ở văn chương”. Thật vậy, “văn học là nhân
học” (Maksim Gorky), nó dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho con người, “làm
thay đổi cả một thế giới giả dối và tàn ác, ca ngợi sự công bình, làm người gần
người hơn” (Thạch Lam). Tóm lại, nó bieeuyr hiện cho tất cả những gì gọi là tình
cảm nhân loại, sự xót xa, đồng cảm hay lòng nhân ái, mang cái dư vị của cuộc sống
thực tại.
Trong văn học chân chính - thứ được gọi là “loại văn chương đáng thờ” kia
được chia ra làm nhiều cung bậc cảm xúc. Nó bộc lộ sự thương cảm xót xa, sâu sắc
đối với những mảnh đời, thân phận bất hạnh, vẻ đẹp nhân cách con người, Nhưng
nổi bật trong đó vẫn là tình cảm gia đình, làng xóm ; tình yêu thiên nhận, quê
hương, đất nước hay sự đồng cảm, xót xa trước mảnh đời đau xót.
Tiên phong đi đầu vẫn là tình cảm gia đình, làng xóm. Tình mẫu tử, phụ tử là
cao quý hơn cả. Ta vẫn còn nhớ mãi hình ảnh người mẹ nhân hậu, âu yếm đưa con
đến trường qua tác phẩm “Tôi đi học” (Thanh Tịnh), đã cho ta thấy sự hồn nhiên,
ngây thơ của người con và tình yêu thương con hết mực của người mẹ. Và rồi hình
ảnh cậu bé Hồng trong hồi kí “Những ngày thơ ấu” (Nguyên Hồng” thì sao? Hoàn
cảnh đáng thương của gia đình bé Hồng những xen lẫn vào đó là niềm khao khát
cháy bỏng, dữ dội. Dường như, thứ tình cảm cao quý ấy cứ “gắn chặt” với nhau,
như thứ keo rắn chắc, không thế nào gỡ bỏ được. Cũng gần như vậy, tình phụ tử
thiêng liêng của lão Hạc trong tác phẩm cùng tên cũng được thể hiện rõ. Nam Cao
đã nhìn thấu rõ trái tim nồng ấm mà lão Hạc dành tặng cho con, hi sinh vì con để
giữ đạo làm cha. Hay tình cảm vợ chồng chị Dậu thì sao? Chị luôn ân cần, chăm sóc

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo”
(“Nước Đại Việt Ta” - Nguyễn Trãi)
Bên cạnh những thứ tình cảm khích lệ về mặt tinh thần đó thì tình yêu quê
hương, đất nước là thứ tình cảm chân chính thể hiện bằng hành động thực tế. Lòng
yêu quê hương, đất nước đã thể hiện sâu sắc qua “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn).
Ông đã thể hiện tình yêu mãnh liệt của mình đồng thời khích lệ tướng sĩ tấm lòng
yêu nước “mà bản thân họ đã có sẵn”. Cũng vậy, “Nước Đại Việt ta” (Nguyễn Trãi)
là “bước nhảy vọt thời gian” khẳng định những yếu tố độc lập đề cao sức mạnh dân
tộc, đề cao, ca ngợi đi đôi với lên án, phê phán. Đó là những bằng chứng phê phán
hành động sai trái nhưng trong “Cô bé bán diêm” (An-đéc-xen) lại phê phán chính
trái tim được coi là “nồng ấm: của con người. Nhà văn An-đéc-xen đã lên án gay
gắt thái độ sống thờ ơ của những con người trong cùng một xã hội. Phải chăng, sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status