Lịch sử cách mạng tháng 8 (1945 ) ở sài gòn Chợ Lớn Gia Định - Pdf 25

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BAN TUYÊN GIÁO THÀNH UỶ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH LỊCH SỬ
CÁCH MẠNG THÁNG 8 (1945)
Ở SÀI GÒN - CH LỚN
VÀ GIA ĐỊNH
ZZZYYY

(BÁO CÁO TÓM TẮT)
(Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu ngày 20 tháng 7 năm 2007
do GS.TS Ngô Văn Lệ làm Chủ tòch Hội đồng)

Chủ nhiệm đề tài: Th.s. PHẠM NGỌC BÍCH

2
DẪN LUẬN
ZZYY
Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Cùng với nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Sài gòn - Chợ
lớn và Gia đònh đã nhất tề đứng dậy khởi nghóa giành chính quyền trong mùa thu lòch
sử 1945.
Thắng lợi của cuộc khởi nghóa Cách mạng Tháng 8 (1945) ở Sài gòn - Chợ lớn
và Gia đònh đã góp phần quan trọng đưa cuộc Tổng khởi nghóa trên phạm vi cả nước
nhanh chóng đi đến thắng lợi và tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời nước Việt nam
dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.
Phục dựng lại bức tranh lòch sử Đảng bộ Sài gòn - Chợ lớn và Gia Đònh lãnh đạo
nhân dân đứng lên giành chính quyền Tháng 8 (1945), đây là một công việc cần thiết
của Đảng bộ thành phố hiện nay, nhằm khơi dậy truyền thống cách mạng, động viên
các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia vào công cuộc xây dựng thành phố trở thành
một trung tâm kinh tế, văn hóa, tài chính và du lòch lớn của cả nước và khu vực. Đồng
thời để Đảng bộ vận dụng những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng 8 vào
quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trò trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Nội dung nghiên cứu của đề tài

cập đến, song chỉ dừng lại ở một số khía cạnh chung mà chưa đi sâu nghiên cứu cuộc
khởi nghóa dưới sự lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng 8 ở thành phố Sài Gòn -
Chợ Lớn và Gia Đònh
• Tình hình nghiên cứu trong nước:
Cách mạng Tháng 8 được giới nghiên cứu trong nước và các cơ quan khoa học
rất quan tâm với nhiều công trình ra đời từ những năm 1950 đến nay. Đáng chú ý là
các cuốn: Cách mạng tháng Tám 1945, Lòch sử Đảng cộng sản Việt Nam (sơ thảo) tập 1
(1920 - 1954); Những sự kiện lòch sử Đảng tập 1 (1920 - 1954); Tìm hiểu Cách mạng
tháng Tám, của Ban nghiên cứu lòch sử Đảng Trung ương; Các tác phẩm của đồng chí
Trường Chinh: Cách mạng tháng Tám và sách lược của những người Cộng sản Việt
Nam; Cách mạng tháng Tám; Những đặc điểm của Cách mạng tháng Tám ; Về Cách
mạng tháng Tám của đồng chí Lê Duẩn; Đấu tranh vũ trang trong Cách mạng tháng
Tám của Nguyễn Anh Dũng; Mấy đặc điểm của Cách mạng tháng Tám ở Sài Gòn -
Nam bộ của Trần Văn Giàu… Các công trình trên là những tác phẩm hay những bài
nghiên cứu chuyên khảo của các cơ quan nghiên cứu Trung ương và đòa phương, các
nhà khoa học, các nhà lãnh đạo… Tất cả đều cung cấp cho đề tài nhiều thông tin quan
trọng, nhiều vấn đề khoa học về Cách mạng Tháng 8 trên phạm vi cả nước, cũng như ở
một số đòa phương điển hình, kể cả ở Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh. Song việc đề
cập một cách có hệ thống và đầy đủ về Cách mạng Tháng 8 ở Sài Gòn - Chợ Lớn và
Gia Đònh vẫn còn thiếu và còn nhiều sai sót.
Có một số cuộc hội thảo, tọa đàm và bài viết trên các báo chí nói về cuộc khởi
nghóa giành chính quyền Tháng 8 (1945) ở Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh
nhân dòp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng 8 thành công và Quốc khánh 2/9 hàng năm
như: Cách mạng tháng Tám và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng trên
đòa bàn Nam bộ (1945-1975) Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 300 năm hình thành và
phát triển; Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh con người và văn hóa trên đường phát
triển; Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 60 năm tiếp bước con đường Cách mạng tháng
Tám (1945 - 2005)… Nhìn chung cho đến nay ở Thành phố vẫn chưa có một chuyên
khảo nào được tổ chức nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về Lòch sử Cách
mạng Tháng 8 (1945) ở Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh

Chương III: Khởi nghóa giành chính quyền ở Sài gòn - Chợ lớn và Gia Đònh.
Sau đây là nội dung chính của đề tài.
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
ZZYY
KHÁI LƯC VỀ SÀI GÒN - CH LỚN VÀ GIA ĐỊNH

5
I. VÀI NÉT VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI SÀI GÒN - CH LỚN VÀ GIA ĐỊNH (1698-
1945)
1.1. Lòch sử phát triển vùng đất Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay có diện tích 2.029 km
2
, vốn là phần đất của
xứ Sài Gòn - Bến Nghé - Đồng Nai - Gia Đònh xưa, bao gồm Sài Gòn, Gia Đònh và một
phần tỉnh Chợ Lớn cũ. Ranh giới tự nhiên của thành phố phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh,
phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Long An, phía Nam
giáp biển Đông.
Vò trí đòa lý, đòa hình, đòa mạo và đặc điểm tự nhiên, xã hội đã góp phần làm
cho Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ có vò trí chiến lược quan trọng mà còn là đòa
bàn trung tâm về chính trò, quân sự kinh tế, văn hóa, xã hội của cả vùng đất phương
Nam rộng lớn. Về cương vực đòa lý hành chính, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã
gắn chặt với nhiều thăng trầm của lòch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam bộ.
Sau khi xác lập quyền quản lý lãnh thổ, chúa Nguyễn thấy đất đai còn quá rộng,
phần lớn chưa được khai phá nên đã tiến hành ngay việc “chiêu mộ lưu dân từ châu Bố
Chánh trở vô Nam đến ở khắp nơi”, khai mở thêm làng xã. Do vậy, từ năm 1698 về
sau, quá trình Nam tiến tự phát chấm dứt và thay vào đó là quá trình Nam tiến có tổ
chức với qui mô ngày càng lớn hơn. Cũng trong thời gian này, các chúa Nguyễn còn
chiêu dụ tầng lớp thượng lưu giàu có từ các xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Nghóa,
Qui Nhơn… di dân vào đất Gia Đònh, thuê mướn điền nô để khai hoang lập đồn điền.
Chính lớp thượng lưu giàu có ở các xứ này đã thổi một luồng gió mới vào việc làm ăn

Với sự tập trung nhiều nguồn dân cư, cùng với đời sống kinh tế - xã hội ngày
một phát triển, các giai cấp, tầng lớp dân cư cũng bò phân hóa ngày một mạnh mẽ.
Ngoài nông dân, thợ thủ công, đòa chủ, quan lại, tiểu thương, còn xuất hiện thêm lực
lượng công nhân, giới tư sản, trí thức… Chính sự đa đạng về nguồn gốc và thành phần
cư dân làm cho bức tranh dân cư Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh ngày một đa sắc hơn.
Trải qua quá trình lập nghiệp ở vùng đất mới, được ban tặng nguồn tài nguyên
thiên nhiên phương Nam; được thừa hưởng truyền thống văn hóa giàu bản sắc trong
quá trình giao thoa văn hóa tộc người giữa nhiều vùng miền, nhiều vùng trong cả nước;
được tôi luyện trong thực tiễn sinh động của lòch sử dựng và giữ nước của dân tộc; trải
qua nhiều biến cố Các thế hệ cư dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh được tích tụ,
lắng đọng rồi kết tinh và trở thành tính cách Nam bộ, lối sống, sự năng động, nhạy
cảm, chòu thương, chòu khó hình thành cốt cách của người Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia
Đònh.
II. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN
DÂN SÀI GÒN - CH LỚN - GIA ĐỊNH
2.1. Thời kỳ trước khi có Đảng
Tháng 2/1859, Pháp đánh chiếm Gia Đònh. Những người dân ấp, dân lân cũng
không chòu sống với giặc, nhiều người đã tự đốt nhà mình, bỏ vườn tược, rời vùng “đất
quy”, tham gia nghóa binh. Tháng 9/1861, nhân dân Gia Đònh còn “nô nức tình nguyện
ứng nghóa đi đánh giặc Pháp và góp nhiều tiền, gạo để nuôi quân”. Tháng 10/1861, ở
vùng Gia Đònh, hương thân Lê Cao Dũng và cử nhân Phan Văn Đạt đã chiêu mộ nghóa
quân đánh Pháp. Dù sau đó bò bắt, bò xử chết, nhưng hai ông vẫn lớn tiếng chưởi mắng
quân thù cho đến khi tắt thở hoàn toàn. Khí phách hiên ngang, bất khuất của Lê Cao
Dũng và Phan Văn Đạt là tấm gương sáng cho nhân dân vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và
Gia Đònh.
Cùng với các cuộc khởi nghóa vũ trang, các nho só, só phu yêu nước trong buổi
đầu chống xâm lược còn đánh giặc bằng mọi thứ có trong tay. Trònh Quang Nghò,

7
Nguyễn Công Duy, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Đình Chiểu và nhiều nho só khác đã

Hy, Trần Huy Liệu và hội kín của Nguyễn An Ninh. Thời gian này, tại Sài Gòn cũng
thành lập những cơ sở của hai tổ chức cách mạng: Hội Việt Nam cách mạng Thanh
niên và Tân Việt cách mạng đảng. Các cơ sở của hai tổ chức này góp phần quan trọng
vào việc thúc đẩy phong trào yêu nước theo khuynh hướng cộng sản và tích cực làm
nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến chủ nghóa Mác - Lênin.
Từ cuối năm 1926, việc tuyên truyền chủ nghóa Mác-Lênin vào vùng đất Sài
Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh được tăng cường bằng sự có mặt của lớp cán bộ trẻ được
Nguyễn i Quốc đào tạo, huấn luyện tại Quảng Châu về nước. Tờ báo “Thanh Niên”

8
do Nguyễn i Quốc sáng lập và sách báo tiến bộ từ hải ngoại gửi về là động lực tích
cực thúc đẩy phong trào dân tộc và dân chủ phát triển đến đỉnh cao.
2.2. Thời kỳ từ khi có Đảng đến Khởi nghóa Nam kỳ (1940)
Sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, phong trào đấu tranh cách mạng ở Sài
Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh phát triển mạnh mẽ. Các cuộc bãi công của công nhân
diễn ra liên tục, điển hình như cuộc bãi công của công nhân Công chính (14/3/1930),
công nhân xe lửa Dó An (16/3/1930), công nhân hãng rượu Bình Tây (1/8/1930) Cùng
với các cuộc bãi công là các cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa, Hóc Môn, Trung
Quận, Chợ Lớn… các cuộc mít tinh, kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động, kỷ niệm Cách
mạng Tháng Mười Nga của đông đảo các tầng lớp nhân dân nội thành, nội thò và các
cuộc bãi khóa của học sinh trường Huỳnh Khương Ninh, trường Huỳnh Công Pháp
Có thể nói, lúc này, ở Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh thế liên minh công nông hình
thành rõ nét và có thể coi đó như một “vành đai đỏ của thành phố”. Vì rằng “trong
vòng 30 km đường bán kính, hễ 100 người dân thì 50, 60 người cảm tình cách mạng,
theo cách mạng”.
Mùa thu năm 1936, từ việc cổ động thành lập “Ủy ban triệu tập Đông Dương
đại hội” một phong trào rộng lớn đã nổ ra, chỉ một thời gian ngắn, tại Sài Gòn - Chợ
Lớn và Gia Đònh hàng trăm Ủy ban hành động lần lượt được thành lập và hoạt động
sôi nổi. Theo đó, báo chí yêu nước cũng hoạt động mạnh, điển hình như tờ “Le
Peuple”, “L'Avant Garde”, “Dân Chúng”, “Lao Động”, “Mới”, “Phổ Thông” (1937) …

những điều kiện tốt nhất cho cuộc khởi nghóa. Đêm 22 rạng ngày 23/11/1940, cả Nam
kỳ vùng dậy khởi nghóa.
Khởi nghóa Nam kỳ diễn ra trên phạm vi 21 tỉnh của toàn xứ, đây là một trong
những cuộc khởi nghóa vũ trang đầu tiên của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, có
tầm ảnh hưởng rộng lớn. Nó làm tan rã bộ máy cai trò của Pháp ở một số vùng nông
thôn, đồng thời làm rung động cả hệ thống cai trò của Pháp ở các nước thuộc đòa. Nó
cũng là cuộc tổng diễn tập ở Nam kỳ để cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước
được tôi luyện, trưởng thành trước khi bước vào trận chiến đấu mới. Khởi nghóa Nam
kỳ là "tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghóa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng
võ lực của các dân tộc Đông Dương”.
Dù thất bại, nhưng cuộc khởi nghóa Nam kỳ đã để lại nhiều bài học rút kinh nghiệm
cho cuộc Cách mạng tháng Tám sau này. Nó cũng, báo hiệu một thời kỳ mới của phong trào
đấu tranh cách mạng đang tới. Đó là thời kỳ mà nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh
không chỉ biết đấu tranh chính trò mà còn biết kết hợp giữa đấu tranh chính trò với đấu tranh
vũ trang, kết hợp với khởi nghóa của quần chúng để đưa cách mạng giải phóng dân tộc đi
đến thành công.
CHƯƠNG I
ZZYY
QUÁ TRÌNH PHỤC HỒI LỰC LƯNG CÁCH MẠNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH
HỆ THỐNG ĐẢNG SAU KHỞI NGHĨA NAM KỲ (1941 - 3/1945)
I. TÌNH HÌNH SÀI GÒN - CH LỚN VÀ GIA ĐỊNH SAU KHỞI NGHĨA NAM
KỲ
1. 1. Đòch ra sức khủng bố, đàn áp dã man phong trào cách mạng sau khởi
nghóa Nam kỳ
Cũng như các đòa phương khác ở Nam kỳ sau cuộc khởi nghóa Nam kỳ
(23/11/1940), phong trào cách mạng ở Sài Gòn -Chợ Lớn và Gia Đònh gặp những khó
khăn, thử thách rất lớn. Hệ thống cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng bò phá vỡ hoặc tê
liệt, hàng ngàn cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước bò đòch bắt giết hoặc giam
cầm trong các nhà tù đế quốc.


là những tổ chức đầu tiên của Mặt trận Việt Minh ở Nam kỳ .
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ THỐNG XỨ ỦY NAM KỲ (TIỀN PHONG
VÀ GIẢI PHÓNG)
2. 1. Sự hình thành liên tỉnh ủy và các nhóm hoạt động ở các đòa phương
Tháng 9/1941, đồng chí Ngô Thò Huệ (Bảy Huệ) ra khỏi nhà tù đế quốc và móc
nối lại với các đồng chí ở Sài Gòn để tiếp tục hoạt động. Đồng chí Bảy Huệ liên hệ
với các đảng viên còn lại ở Sài Gòn, Lái Thiêu, Chợ Lớn, Tân An, thành lập lại Liên
Tỉnh ủy miền Đông.

11
Cùng thời gian này, các đồng chí Xứ ủy bò lộ dạt về U Minh hoạt động liên lạc
được với các đảng viên còn lại ở các tỉnh miền Tây; đến khoảng giữa năm 1941, thành
lập Liên Tỉnh ủy miền Tây do đồng chí Phan Văn Bảy (Bảy Cùi) làm Bí thư.
Các liên tỉnh ủy hoạt động một thời gian thì đổi thành Liên Tỉnh ủy Tiền Giang
(tức Liên Tỉnh ủy miền Đông) và Liên Tỉnh ủy Hậu Giang (tức Liên Tỉnh ủy miền
Tây). Tuy đã hình thành các Liên Tỉnh ủy (Ban cán sự Đảng), nhưng ở các đòa phương
(nhất là ở Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh - những nơi có đông công nhân, lao động, trí
thức, nhân só đang sinh sống và làm việc) từ năm 1942 vẫn hình thành các nhóm lãnh
đạo khác nhau như:
- Nhóm Nguyễn Oanh, Ngô Thò Liên, Ngô Thò Huệ móc nối tích cực gây dựng
cơ sở ở nội thành Sài Gòn. Trong thời gian này, nhóm của đồng chí Nguyễn Oanh đã
bắt liên lạc được với số cán bộ vượt ngục Tà Lài trở về. Các đảng viên đã phân công
nhau nắm lại tình hình, bắt liên lạc với các tỉnh Nam kỳ .
- Nhóm Bùi Văn Dự và một số đồng chí từ miền Tây lên như Xung Phong,
Hoàng Tế Thế, Năm Mập tích cực hoạt động ở khu vực Bà Quẹo. Nhóm này tự nhận
là Thành ủy Sài Gòn và ra báo Giải Phóng làm cơ quan tuyên truyền. Báo Giải Phóng
ra được 5 số thì bò đòch phá vỡ, phần lớn các đảng viên bò đòch bắt.
- Nhóm Phùng Văn Đôn, Vinh, Phổ tích cực hoạt động ở các làng Bình Trò
Đông, Tân Tạo, Tân Kiên (Trung Quận - Chợ Lớn). Trọng tâm hoạt động của nhóm
này nhằm khôi phục lại các cơ sở Đảng trong các tổng, làng và khôi phục các cơ sở hội

Ngày 20/3/1941, nhóm 8 người (Dương Quang Đông, Trần Văn Giàu, Trần Văn
Kiệt, Trương Văn Nhâm, Tô Ký, Nguyễn Tấn Đức, Nguyễn Công Trung, Châu Văn
Giác), thành công trong việc vượt Căng Tà Lài trở về với phong trào cách mạng. Một
số người sau đó bò đòch bắt trở lại; số còn lại do đồng chí Dương Quang Đông làm nòng
cốt tiến hành gây dựng cơ sở và móc nối hoạt động ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ
Tho, Gò Công, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Cần Thơ.
Ngày 13 - 15/10/1943, tại nhà ông Hương trưởng Trần Vinh Hoài ở xã Tân
Thuận Bình, huyện Chợ Gạo (tỉnh Mỹ Tho), nhóm 11 người dự họp gồm: Dương Quang
Đông, Nguyễn Oanh, Châu Văn Giác, Nguyễn Văn Trân và một số đồng chí đại diện
cho Tỉnh ủy lâm thời, Ban cán sự Đảng các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre,
Vónh Long. Hội nghò bàn bạc và nhất trí thành lập lại Xứ ủy Nam kỳ, bầu Xứ ủy mới
gồm 7 đồng chí: Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Oanh, Dương Khuy,
Dương Quang Đông, Nguyễn Tấn Đức , Nguyễn Côn
Do có uy tín cao nên đồng chí Trần Văn Giàu được cử làm Bí thư Xứ ủy. Nhưng
đồng chí Trần Văn Giàu không dự họp, nên đồng chí Dương Quang Đông tạm thời phụ
trách. Đến tháng 4/1945 đồng chí Trần Văn Giàu mới chính thức nhận chức vụ Bí thư
Xứ ủy.
Sau Hội nghò, Xứ ủy phân công các ủy viên về đòa phương để phát triển tổ chức
và phát triển đảng viên. Tổ chức Xứ ủy lúc này chưa có cơ quan và các bộ phận
chuyên trách. Phần lớn các đồng chí trong Xứ ủy hoạt động độc lập và đơn tuyến. Một
số đồng chí ở miền Tây ra báo Tiền Phong làm cơ quan ngôn luận để tuyên truyền
đường lối cách mạng, quan điểm của Đảng. Báo Tiền Phong không phát hành rộng rãi,
chủ yếu ở một số tỉnh miền Tây Nam kỳ. Đồng chí Trần Văn Giàu với bút danh Xuyên
Văn Nhạn viết nhiều bài trên báo này.
Xứ ủy Nam kỳ (Tiền Phong) chủ trương dựa vào đường lối Nghò quyết Hội nghò
Trung ương 6 của Đảng, lấy mục tiêu giải phóng dân tộc làm nhiệm vụ hàng đầu, lấy
việc tập hợp quần chúng các giới các ngành, kể cả thành thò và nông thôn làm cơ sở để
hành động cách mạng. Trên cơ sở đó, Xứ ủy vận dụng vào thực tế toàn xứ và nhạy bén
với tình hình thời cuộc, thực hiện linh hoạt các chủ trương của Trung ương để thúc đẩy
phong trào cách mạng trong các tầng lớp quần chúng.

và phát triển Đảng ở nông thôn, củng cố các tổ chức bí mật của Đảng. Ban cán sự
Đảng bộ lâm thời Nam kỳ cũng cho phát hành lại báo Giải Phóng (xuất bản lần thứ 2)
làm cơ quan tuyên truyền của Kỳ bộ Việt Minh ở Nam kỳ, nhất là tuyên truyền cho
việc phát triển các hội cứu quốc theo chủ trương của Tổng bộ Việt Minh thay cho các
hội phản đế trước đây.
Ngày 20/3/1945, Ban cán sự miền Đông kết hợp với một số cán bộ ra tù họp Hội
nghò ở Xoài Hột, Châu Thành (Mỹ Tho). Dự Hội nghò gồm các đồng chí: Nguyễn Thò
Thập, Hoàng Dư Khương, Nguyễn Công Trung, Trần Văn Khiết, Lê Minh Đònh, Lê
Hữu Kiều, Nguyễn Hữu Ngoạn, Lữ Đồng Tấn, Hoàng Tế Thế, Trần Văn Trà, Võ Bá
Nhạc, Tô Ký… Hội nghò bàn bạc và nhanh chóng đi đến nhất trí thành lập
Xứ ủy mới -

14
gọi là Xứ ủy lâm thời (Giải Phóng) gồm các đồng chí: Trần Văn Vi (Dân Tôn Tử), Lê
Hữu Kiều, Nguyễn Thò Thập, Hoàng Dư Khương, Hoàng Tế Thế, Trần Văn Trà…
Đồng chí Dân Tôn Tử được cử làm Bí thư Xứ ủy lâm thời (Giải Phóng).
Ngày 20-21/4/1945, Xứ ủy lâm thời (Giải Phóng) họp Hội nghò mở rộng tại Bà
Điểm (Gia Đònh) để nhận đònh tình hình, bàn biện pháp phát triển tổ chức Đảng ra toàn
xứ, bổ sung thêm cán bộ từ các tỉnh Gia Đònh, Tây Ninh, Thủ Dầu Một vào Ban cán sự
Đảng, củng cố Ban cán sự miền Tây, thành lập hệ thống Mặt trận Việt Minh bên cạnh
cấp ủy Đảng từ Xứ xuống đến cấp Tổng.
Xứ ủy lâm thời (Giải Phóng) đứng chân tại Gia Đònh và cho xuất bản hai tờ báo
Độc lập và Giải phóng, trong đó lấy tờ Giải phóng làm cơ quan ngôn luận của Mặt trận
Việt Minh Xứ Nam kỳ.
Xứ ủy lâm thời (Giải Phóng) phát triển cơ sở Đảng ra các tỉnh ở cả nông thôn và
thành thò, nhưng rất chú trọng gây dựng cơ sở ở vùng nông thôn, lấy nông thôn làm căn
bản cho các hoạt động xây dựng và phát triển thực lực; đẩy mạnh việc tập hợp quần
chúng công nông vào các Hội cứu quốc làm cơ sở cho Mặt trận Việt Minh phát triển.
Như vậy, Xứ ủy Nam kỳ (Giải Phóng) từ sau khi hình thành hệ thống mới song
hành chỉ đạo cách mạng cùng với Xứ ủy Nam kỳ (Tiền Phong), đã làm tăng cường sự

xem nhẹ các tỉnh xa. Để tập trung cho công tác trọng tâm này, các đồng chí Tiền
Phong trong các hội nghò của mình còn nhận đònh rằng: Nắm nông thôn thì dễ, nắm
được Sài Gòn - Chợ Lớn nơi yết hầu của giặc mới là khó. Muốn nắm được Sài Gòn -
Chợ Lớn phải nắm vững công nhân và thanh niên. Lực lượng công nhân có mạnh mới
lôi kéo được các tầng lớp khác, có nắm được thanh niên mới thu hút được các tầng lớp
tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc. Xứ ủy Nam kỳ (Tiền Phong) đã đặt vấn đề công
nhân vận động vào hàng chủ yếu và cấp bách.
Công tác xây dựng cơ sở cách mạng ở đô thò, đặc biệt là Sài Gòn - Chợ Lớn
được thực hiện ráo riết, nhất là từ cuối năm 1944 đầu năm 1945. Các tổ chức công
nhân được hình thành dưới các hình thức nghiệp đòan, hội ái hữu, hội tương tế trong
các xí nghiệp lớn như Ba Son, Efen, Faxi, Simar. Lực lượng thợ giày, cắt tóc, thợ thủ
công các loại cũng xuất hiện những hội tương tế, ái hữu. Đến đầu năm 1945, Sài Gòn -
Chợ Lớn có 30 công đoàn cơ sở với khoảng 2.000 đoàn viên
Phong trào truyền bá chữ quốc ngữ ở Nam kỳ từ năm 1938 tiếp tục bùng phát
trong những năm 1944-1945, với những người tiêu biểu là các ông Phạm Thiều, Đặng
Minh Trứ, Trần Văn Nguyên, Michel Văn Vỹ… Phong trào lôi kéo được nhiều tầng lớp
nhân dân tham gia mở mang dân trí, đề cao tiếng Việt, đề cao văn hóa và phong tục
tập quán Việt, qua đó việc tuyên truyền cách mạng cũng được mở rộng.
Phong trào xếp bút nghiên được phát động do nhóm sinh viên từ Hà Nội về Nam
với nòng cốt là nhóm Hoàng Mai Lưu (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu
Phước) đã sáng tác nhiều bài ca yêu nước như Tiếng gọi Thanh niên, Bạch Đằng Giang,
Ải Chi lăng, Người xưa đâu tá, Khải hoàn ca, Xếp bút nghiên, Lên đàng… được phổ biến
ở Sài Gòn và các tỉnh, khơi dậy tinh thần dân tộc, niềm tự hào dân tộc, ý chí quật
cường của người Việt.
CHƯƠNG II
ZZYY
SÀI GÒN - CH LỚN VÀ GIA ĐỊNH TRONG CAO TRÀO TIỀN KHỞI NGHĨA
(3/1945 - 8/1945)
I. CHỦ TRƯƠNG HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG BỘ NAM KỲ SAU ĐẢO CHÍNH
NHẬT - PHÁP (3/1945 – 8/1945)

nhất Đảng bộ Nam kỳ hãy kíp đi vào đường lối của Đảng của đồng chí Trường Chinh
đăng trên báo Cờ giải phóng ra ngày 17 tháng 7 năm 1945.
Cùng thời gian này, Trung ương cử đồng chí Bùi Lâm vào gặp đại biểu hai Xứ ủy
Tiền Phong (Bùi Cơng Trừng, Lý Chính Thắng) và Xứ ủy Giải Phóng (Hồng Dư
Khương, Nguyễn Thị Thập) nhằm lập ra một “Ban hành động chung” do đồng chí Bùi
Lâm làm Trưởng ban. Nhưng cơ quan này về thực chất cũng chưa đi vào hoạt động thống
nhất tổ chức và hành động của hai Xứ ủy.
Mặc dù có những vấn đề
khác nhau về tổ chức lực lượng và phương thức hoạt
động, khơng dễ gì giải tỏa trong một thời gian ngắn, nhưng trước đòi hỏi bức bách của
phong trào cách mạng, của cuộc sống, nhất là khi khởi nghĩa giành chính quyền đã chuẩn
bị nổ ra ở Bắc kỳ và Trung kỳ, những người cộng sản ở Nam kỳ tập hợp trong hai Xứ ủy
Giải Phóng và Tiền Phong đề
u có một nhận thức chung rất căn bản là phải quyết liệt tiến
hành cuộc đấu tranh, khẩn cấp hành động để giành lấy chính quyền về tay nhân dân.
II. THANH NIÊN TIỀN PHONG RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN Ở SÀI GÒN - CH LỚN
VÀ GIA ĐỊNH

2.1. Sự ra đời và phát triển của Thanh niên Tiền Phong

17
Ngày 1/6/1945 Thanh niên Tiền Phong chính thức ra cơng khai trước nhân dân Sài
Gòn và Nam kỳ, trụ sở đặt tại số 14 đường Charner (đường Nguyễn Huệ, Quận 1 ngày
nay).
Ngày 1/7/1945, Thanh niên Tiền Phong tổ chức Đại hội lần thứ nhất ở Sài Gòn.
Ngày 5/7/1945 làm lễ tun thệ tại vườn Ơng Thượng (Cơng viên văn hóa thành phố.Hồ
Chí Minh ngày nay), có 30.000 đồn viên tham dự. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đọc diễn văn
kêu gọi tuổi trẻ rèn luyện để sẵn sàng cứ
u nước.
Phong trào Thanh niên Tiền Phong được thành lập dựa trên kinh nghiệm tổ chức

ĐCS
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
(21 người)
Trụ sở: Số 14 đường Charner (nay là
đường Nguyễn Huệ, quận I, TpHCM)
SỞ THANH NIÊN &
THỂ THAO NAM KỲ
(Nguyễn Văn Huấn)

TỔNG THƯ KÝ
(Phạm Ngọc Thạch)
PHÓ TỔNG THƯ KÝ
(Nguyễn Việt Nam) 18
CÁC BAN CHUYÊN MÔN
• Ban Tổ chức
• Ban Thanh niên
• Ban Tuyên truyền cổ động
• Ban Công tác xã hội
Trong Hội đồng quản trị có thành lập một Chi bộ Đảng Cộng sản do Phạm Ngọc
Thạch làm Bí thư, các đảng viên gồm Hồng Đơn Văn, Nguyễn Lưu, Nguyễn Văn Tư.
Để phát triển lực lượng trong công nhân, Xứ ủy (Tiền Phong) đưa Tổng Cơng hội
vào làm nòng cốt trong Thanh niên Tiền Phong và thành lập “Thanh niên Tiền Phong
Ban xí nghiệp”. Các tổ chức “Thanh niên Tiền Phong Ban xí nghiệp” tạo điều kiện cho
cơng đồn ra hoạ
t động cơng khai vừa đóng vai trò nòng cốt cho Thanh niên Tiền Phong.
Qua đó sức mạnh của tổ chức cơng nhân Nam bộ cũng được nhân lên gấp bội (đến đầu
8/1945, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có 324 cơng đồn cơ sở với 120.000 đồn viên).
2.3. Hoạt động của Thanh niên Tiền Phong trước ngày khởi nghóa giành chính
quyền ở Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Đònh
Hoạt động của Thanh niên Tiền Phong trước ngày khởi nghĩa tập trung vào việc
chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa cụ thể là hướ
ng vào 3 cơng tác chính:
− Một là, tổ chức huấn luyện chính trị cho các thủ lĩnh và đồn viên nhằm xây
dựng nòng cột.
− Hai là, huấn luyện qn sự nhằm tập dượt võ trang khởi nghĩa giành chính
quyền: Thanh niên Tiền Phong cùng với liên đồn cơng chức thành lập đội tự
vệ ở các cơng sở.
− Ba là, tổ chức các hoạt động xã hội nhằm tỏ rõ tính cách mạng.
Như vậy, Thanh niên Ti
ền Phong từ một tổ chức khoác áo công khai hợp pháp
do Nhật cho phép thành lập, chuyển nhanh thành một tổ chức quần chúng cách mạng
dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam kỳ (nhóm Tiền Phong). Thanh niên Tiền Phong có hệ
thống tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dưới, có nhiều hình thức hoạt động phong phú
phù hợp với nhiều tầng lớp quần chúng yêu nước. Thanh niên Tiền Phong có lực lượng
đông đảo ở cả thành thò và nông thôn, có thế công khai hợp pháp để hoạt động chuẩn
bò cho cách mạng tiến tới khởi nghóa giành chính quyền; vì thế nó có vai trò như một

thành khởi nghóa, theo đề nghò của đồng chí Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu, quyết đònh
lấy Tân An làm thí điểm, lấy kinh nghiệm sau đó Sài Gòn và các tỉnh sẽ khởi nghóa
đồng loạt. Đêm 22 rạng ngày 23/8/1945, Tân An đã nổ ra khởi nghóa thành công.
II. KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở SÀI GÒN - CH LỚN, GIA ĐỊNH
VÀ CH LỚN
2.1. Khởi nghóa nổ ra và thắng lợi ở thành phố Sài Gòn
Sáng ngày 23/8/1945, được tin Tân An khởi nghĩa thành cơng, qn Nhật khơng
phản ứng gì, Hội nghị Xứ ủy mở rộng họp quyết định: “Tối 24 phát động khởi nghĩa giành
chính quyền ở nội thành Sài Gòn và ngày 25 huy động nhân dân nội thành và nơng dân
các tỉnh lân cận của Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Biên Hồ, Thủ dầu Một… lên dự biểu
tình vũ trang và ra mắ
t Ủy ban Hành chính Nam bộ.
18 giờ ngày 24/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa phát lệnh khởi nghĩa, 20 giờ, các đội
qn khởi nghĩa rầm triển khai lực lượng với quyết tâm hồn thành xuất sắc nhiệm vụ
được giao. Các đội Thanh niên Tiền Phong xung kích gồm hàng nghìn đội viên ưu tú, đa
số là đồn viên Tổng cơng đồn, mà nòng cốt là đảng viên, được vũ trang tiến hành đánh
chiếm các cơ sở trọng yếu như Kho bạc, Nhà máy đèn, Nhà máy n
ước, Sở Bưu điện, Dinh
Thống đốc Nam kỳ, các đầu cầu vào Sài Gòn, các bốt cảnh sát, Sở Chữa cháy, Sở Cơng

20
an, các vùng lân cận trại lính Nhật, khu Pháp kiều, khu vực trại lính Pháp… Trong lúc các
đội xung kích chiếm các cơng sở thì thanh niên, cơng nhân có vũ trang trên các xe cam-
nhơng cắm cờ chạy khắp thành phố để cổ động và phòng ngừa phản động.
Cùng với việc đánh chiếm những nơi trọng yếu trong thành phố, Ủy ban khởi nghĩa
đồng thời ra lệnh cho các đội tự vệ vũ trang đánh chiếm.
− Các cầu chủ yếu: cầu Thị Nghè, cầ
u Bơng, cầu Kiệu, cầu Mac Mahon, cầu Tân
Thuận, cầu Chữ Y, cầu Chà Và và cầu Nhị Thiên Đường…
− Chiếm nhà ga và các bến xe, các quảng trường chính như Bùng binh, Giếng

lập tự do.
2.2. Diễn biến khởi nghóa giành chính quyền ở tỉnh Gia Đònh
Ngày 25/8/1945, theo lệnh của Xứ ủy, Ban lãnh đạo khởi nghĩa Gia Định tập trung
lực lượng Thanh niên Tiền Phong ở các huyện, cờ Thanh niên Tiền Phong được thay thế
bằng cờ đỏ sao vàng kéo về Sài Gòn tham gia giành chính quyền ở trung tâm thành phố.
Sau khi dự mít tinh và tuần hành ở Sài Gòn, đồn biểu tình tỉnh Gia Đị
nh (Tiền
Phong) quay về giành chính quyền ở tỉnh lỵ Gia Định, khoảng 2 giờ chiều, đồn người bao
vây tòa bố Gia Định (Dinh tỉnh trưởng). Tỉnh trưởng Gia Định Nguyễn Phước Lộc khiếp
sợ giao chính quyền cho lực lượng cách mạng. Chính quyền tồn tỉnh Gia Định thuộc về

21
tay nhân dân chiều 25/8/1945, cờ đỏ sao vàng được cắm trên tòa bố Gia Định. Sau đó
đồn biểu tình quận Gò Vấp quay về giành chính quyền ở Gò Vấp. Quận trưởng Tạ Nhật
Tứ nhận thấy khơng kháng cự nổi nên đã bàn giao chính quyền cho lực lượng cách mạng.
Tại Hóc Mơn, sau ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh (15/8/1945) chính quyền tay sai
của Nhật ở Hóc Mơn đã rệu rã trong khi qn Nhật đóng ở Hóc Mơn vẫn còn ngun. Ban
cán sự Đảng quận Hóc Mơn (tức Qu
ận ủy) có mặt đầy đủ tại quận lỵ để chỉ đạo trực tiếp
hoạt động của các đồn thể và theo dõi tình hình diễn biến hàng ngày. Về mặt cơng khai
có tổ chức đồn thể Thanh niên Tiền Phong quận Hóc Mơn, chịu hệ thống với tỉnh Gia
Định và tổ chức ở các xã trong quận. Tổ chức Thanh niên Tiền Phong hoạt động cơng
khai, danh nghĩa được Nhật cho phép nên có trụ sở hẳn hoi, h
ằng ngày tổ chức giữ gìn trật
tự an ninh, tập huấn quận sự sơi nổi rầm rộ.
Hai đồn biểu tình của Hóc Mơn và Bà Điểm nhập tại đại lộ Norodom hợp thành
một đồn thống nhất của tỉnh. Cùng lúc đó các đồn biểu tình của các quận Gò Vấp, Thủ
Đức, Nhà Bè, Trung Quận, Lái Thiêu… và đồn của các tỉnh lân cận như Chợ Lớn, Tân
An, Thủ Dầu Một, Biên Hòa … cùng nhân dân thành ph
ố nườm nượp kéo vào Sài Gòn

đều có chính quyền cách mạng.

22
Devilers viết về thành cơng của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền Tháng 8 năm
1945: “nhanh chóng đến mức làm cho người ta cũng sững sờ”. David Marr viết “Sau ngày
9/3/1945, các sự kiện diễn ra trong một cái tự phát, khơng có bất cứ bàn tay lãnh đạo nào.
Những đảng viên cộng sản ở địa phương cũng như những người tham gia Việt Minh đã
giành thắng lợi do khả năng ứng phó nhanh chóng của họ trước những thay đổi đột ngột”.
Đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định: “Cách mạng Tháng 8 là một cuộc tổng khởi nghĩa kết
hợp tài tình đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, một cuộc nổi dậy đồng loạt ở các
thành thị lẫn nơng thơn mà đòn quyết định là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài
Gòn.
III. LỄ ĐỘC LẬP 2 THÁNG 9, BƯỚC ĐẦU CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÂN
DÂN Ở SÀI GÒN - CH LỚN VÀ GIA ĐỊNH.
Ở Sài Gòn, ơng Kha Vạn Cân tiếp tục được đề cử làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân,
Đốc phủ Phan Văn Chương làm Phó Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh làm Bí thư
Thành ủy.
Ở Gia Định, sau khi giành chính quyền ngày 25/8/1945, Ủy ban Nhân dân tỉnh ra
mắt nhân dân gồm các đồng chí: Phạm Văn Chiêu, Chủ tịch, Phạm Văn Khung Phó Chủ
tịch, Phan Văn Năm Tổng thư ký, Nguyễn Văn Lượng phụ trách an ninh, Nguyễn Văn
Triệu phụ trách tài chính. Các quận trong tỉnh, Ủy ban Nhân dân cũng ra mắt đồng bào.
Tại tỉnh Ch
ợ Lớn: do có sự chưa thống nhất giữa 2 nhóm Tiền Phong và Giải
Phóng, do đó Lâm ủy Hành chính Nam bộ đã bổ nhiệm ơng Võ Lợi Trinh, ngun Thủ
lĩnh Thanh niên Tiền Phong và là chủ nhà máy xay từng ủng hộ tiền cho cách mạng thời
kỳ bí mật, làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch là ơng Nguyễn Văn Hồnh (Bí thư Tỉnh ủy) trụ sở
Ủy ban đóng tại Chợ Đệm
Ngày 2/9/1945, cùng cả nước, Xứ ủy và Lâm ủy Hành chánh Nam b
ộ tổ chức “Lễ
Độc lập” tại Sài Gòn.

NAM BỘ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 (10/9/1945) Bên cạnh Ủy ban Nhân dân Nam bộ còn có một Ban cố vấn khoảng 50 nhân sĩ trí
thức do bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đứng đầu. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
BAN CỐ VẤN UỶ BAN
Nguyễn Văn Hưởng
UBND NAM BỘ
Chủ tòch Phạm Văn Bạch
ỦY BAN VIỆT MINH N.B
Phái viên Hoàng Quốc Việt
ỦY BAN NHÂN DÂN
CÁC TỈNH, THÀNH
Đ
OÀN THỂ CỨU QUỐC

- CÔNG NHÂN CỨU QUỐC
- NÔNG DÂN CỨU QUỐC
- THANH NIÊN CỨU QUỐC
- PHỤ NỮ CỨU QUỐC
ỦY BAN NHA
Â
N DÂN
CÁC HỘ, QUẬN, HUYỆN
XỨ ỦY NAM BỘ
Bí thư Trần Văn Giàu
ỦY BAN NHÂN DÂN
CÁC TÔNG, XÃ, LÀNG

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status