đề cương triết học phần triết học duy vật lịch sử - Pdf 25

Câu 1: Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ của LLSX.
Sự vận dụng của Đảng ta.
BÀI LÀM
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của
LLSX là một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và
phát triển của XH loài người. Sự tác động của quy luật này cùng với
các quy luật khác đã đưa XH loài người phát triển từ thấp đến cao
trong sự phát triển của lòch sử nhân loại. Việc nhận thức và vận dụng
đúng đắn quy luật này có ý nghóa quan trọng trong việc xác đònh
mục tiêu, đề ra đường lối và tìm các biện pháp thực hiện nhằm mang
lại hiệu quả cao.
Như chúng ta đã biết nền SX xã hội là một thể thống nhất
bao gồm nhiều mặt, nhiều mối liên hệ, trong đó nổi lên hai mối quan
hệ cơ bản là LLSX và QHSX: quan hệ của con người với tự nhiên và
quan hệ của con người với nhau.
* LLSX biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,
nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình SX tạo ra của
cải XH. LLSX bao gồm người lao động với kỹ năng của họ và tư liệu
SX, trước hết là công cụ lao động. Trong đó “LLSX hàng đầu của
toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”. Do đặc trưng
sinh học - XH riêng có của mình, con người ngày càng có vai trò to
lớn trong nền SX XH. Đặc biệt trong điều kiện của KH công nghệ
hiện nay, con người đã trở thành nguồn lực cơ bản, nguồn lực đặc
biệt của SX.
Cùng với con người lao động, công cụ lao động cũng là một
thành tố cơ bản của LLSX. Theo Anghen, thì công cụ lao động là
“khí quan của bộ óc con người”, là “sức mạnh của tri thức đã được
vật thể hoá”. Bởi vậy, khi công cụ lao động đã đạt tới trình độ tin
học hoá, tự động hoá… thì vai trò “khí quan vật chất” của nó trở nên
vô cùng quan trọng. Ngày nay, KH đã phát triển đến mức trở thành
nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong XH và đời

nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình, thể
hiện ở chỗ: trình độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức lao động
XH, trình độ ứng dụng KH vào SX, kinh nghiệm, kỹ năng lao động
của con người và trình độ phân công lao động. Còn tính chất của
LLSX là khi nền SX được thực hiện với những công cụ ở trình độ thủ
công, LLSX chủ yếu là mang tính chất cá nhân. Còn khi SX đạt tới
trình độ cơ khí hoá, LLSX đòi hỏi phải được vận động trong sự hợp
tác XH rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá thì tính chất tự cấp, tự
túc, cô lập của nền SX nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã
hội hoá.
Vì vậy, mọi sự hình thành và tồn tại của QHSX phải dựa vào
chính cái LLSX hiện có, tính chất loại hình của QHSX như thế nào
phải do chính LLSX đó quyết đònh chứ không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con người.
Trong quá trình SXVC, thì bao giờ cũng vậy LLSX luôn luôn
vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. LLSX phát triển đến
một giai đoạn nhất đònh nào đó thì mâu thuẫn với QHSX hiện có, khi
đó đòi hỏi phải thay vào đó một kiểu QHSX mới, thích ứng với trình
độ phát triển của LLSX.
Sự tác động ở đây không phải là ngang bằng mà giữa một
bên đóng vai trò tác động, một bên đóng vai trò bò tác động. Trong
bất cứ hoàn cảnh nào LLSX tự bản thân nó vẫn phát triển, cho dù
QHSX tỏ ra lạc hậu, lỗi thời đến mấy tự bản thân nó không thể kìm
hãm hoàn toàn đối với LLSX.
Trong quá trình SXVC, thì LLSX biến đổi trước năng độnhg
hơn, còn QHSX mang tính ổn đònh tương đối hơn. Chính vì vậy, Quy
luật này luôn luôn biểu hiện “phù hợp và không phù hợp”, vì vậy
chủ thể của quá trình nhận thức và vận dụng phải nắm được đặc tính
này để kòp thời phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn.
Ngày nay trong điều kiện của cuộc cách mạng KH và công

Thứ hai, khi QHSX vừa thiếu đồng bộ vừa có yếu tố “vượt trước” so
với thực trạng của LLSX do chủ thể áp đặt một cách chủ quan, thì nó
cũng kìm hãm sự phát triển của LLSX. Đại hội VI của Đảng chỉ rõ:
LLSX bò kìm hãm không chỉ trong trường hợp QHSX lạc hậu mà cả
khi QHSX phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so
với trình độ phát triển của LLSX.
Trong mỗi hình thái KT-XH sự tác động trở lại của QHSX đối
với LLSX bao giờ cũng thông qua các quy luật KT cơ bản. Quy luật
QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật phổ
biến tác động trong toàn bộ tiến trình lòch sử nhân loại. Sự thay thế,
phát triển đi lên của lòch sử XH loài người từ chế độ cộng sản
nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ
TBCN và đến XH cộng sản chủ nghóa, tương lai là do sự tác động
của hệ thống các quy luật XH, trong đó quy luật QHSX phù hợp với
trình độ phát triển của LLSX là quy luật cơ bản nhất.
* Khẳng đònh tầm quan trọng của quy luật để vận dụng thật
tốt quy luật này vào thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, tại Đại
hội VI (1986) Đảng ta đã nhận rõ những sai lầm, thiếu sót trong việc
nhận thức và vận dụng quy luật này thể hiện trong thời kỳ trước đổi
mới ở quan điểm, chính sách cải tạo XH cũ, XD QHSX mới. Trong
Cương lónh xây dựng đất nước (Đại hội VII, 1991) Đảng ta cũng chỉ
rõ: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật
khách quan: nóng vội trong cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền KT
nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công
nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý KT tập trung quan liêu
bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ,
tiền lương”.
Đảng ta đã nhận thức sai lầm rằng QHSX XHCN tiên tiến sẽ
mở đường, tạo đòa bàn rộng lớn cho LLSX lạc hậu phát triển nhanh
lên hiện đại. Do đó trong thực tế đã đưa QHSX lên quá cao so với

triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân”, đồng thời với “Phát
triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền
kinh tế quốc dân”. “Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại
hình tổ chức sản xuất, kinh doanh”. “Mở rộng quan hệ đối ngoại,
chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với nâng cao khả
năng độc lập tự chủ của nền kinh tế”. “Tạo được nền tảng để đẩy
mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố và phát triển kinh tế tri thức, đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước cơng nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020”.
Nhìn chung, tất cả các chủ trương, quan điểm và sự vận dụng
trong thực tiễn nêu trên của Đảng ta từ Đại hội VI đến nay, đó chính
là sự vận dụng đúng và sáng tạo quy luật về sự phù hợp của QHSX
với trình độ phát triển của LLSX trong giai đọan cách mạng hiện nay
của đất nước ta.
4
Hết.
Câu 2: Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng. Sự nhận thức và vận dụng của Đảng ta.
BÀI LÀM
Mỗi xã hội đều có một kiểu quan hệ vật chất đặc trưng tương
ứng với những lực lượng sản xuất nhất đònh đó là quan hệ sản xuất.
Trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó hình thành nên các quan hệ
về chính trò và tinh thần của xã hội. Hai mặt đó của đời sống xã hội
được khái quát thành cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng
(KTTT) của xã hội.
Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ
cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên
một KTTT pháp lý, chính trò và những hình thái ý thức xã hội nhất

Các nhà triết học và xã hội học trước Mác khi xem xét xã hội
đều rơi vào duy tâm lòch sử, bởi vì họ cho rằng những quan hệ chính
trò, pháp lý, tinh thần hay tôn giáo quyết đònh các quá trình hiện thực
của lòch sử.
5
Chủ nghóa duy vật biện chứng với phương pháp biện chứng
lòch sử đã chỉ ra rằng, CSHT và KTTT có mối quan hệ biện chứng
vơi nhau. Mối quan hệ giữa CSHT và KTTT là biểu hiện đặc trưng
của quan hệ giữa kinh tế và chính trò - tư tưởng trong xã hội, trong
đó, CSHT hay đời sống kinh tế giữ vai trò quyết đònh đối với KTTT
hay chính trò - tư tưởng.
a. Vai trò quyết đònh của CSHT đối với KTTT.
CSHT và KTTT là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống
nhất biện chứng với nhau, trong đó CSHT đóng vai trò quyết đònh
đối với KTTT.
Vai trò quyết đònh của CSHT đối với KTTT trước hết thể
hiện ở chỗ: mỗi CSHT sẽ hình thành nên một KTTT tương ứng với
nó. Tính chất của KTTT do tính chất của CSHT quyết đònh. Mọi sự
biến đổi trong xã hội xét đến cùng đều do những quan hệ kinh tế
quyết đònh. Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, xét đến cùng, quyết
đònh mâu thuẫn trong lónh vực tư tưởng. Trong xã hội có giai cấp,
giai cấp nào thống trò về kinh tế thì cũng chiếm đòa vò thống trò về
mặt chính trò và đời sống tinh thần của xã hội; cuộc đấu tranh giai
cấp về chính trò tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống
kinh tế.
Mác viết: "Nếu ta không thể nhận đònh về một người căn cứ
vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì ta cũng không
thể nhận đònh về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của
thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn
của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các LLSX xã

6
Sự tác động của KTTT đối với CSHT diễn ra theo hai chiều.
Nếu KTTT tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì
sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển. Nếu KTTT tác
động ngược lại thì sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển
xã hội.
Vai trò tác động của KTTT đối với CSHT là rất quan trọng,
tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh của vai trò này mà phủ nhận tác động
quyết đònh của những quy luật kinh tế khách quan, phủ nhận tính tất
yếu của vận động xã hội thì sẽ không tránh khỏi rơi vào sai lầm duy
tâm chủ quan. Xét đến cùng, nhân tố kinh tế đóng vai trò quyết đònh
đối với KTTT. Nếu KTTT kìm hãm sự phát triển của CSHT thì sớm
hay muộn, bằng cách này hay cách khác, KTTT cũ sẽ được thay thế
bằng KTTT mới tiến bộ hơn để thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển.
2. Sự nhận thức và vận dụng của Đảng ta.
* Đảng ta nhận thức được đặc điểm của sự hình thành CSHT
và KTTT XHCN, đó là:
- Sự hình thành CSHT và KTTT XHCN cũng diễn ra theo
đúng quy luật chung mà CNDV lòch sử đã khái quát.
- CSHT và KTTT XHCN tuy không tự phát hình thành đầy đủ
trong lòng xã hội TBCN, nhưng những tiền đề, mầm mống nhất đònh
thì tất yếu đã nảy sinh từ trong hiện thực của CNTB.
- Khi xây dựng mới cả CSHT và KTTT, thì CNXH sẽ chủ
động kế thừa biện chứng những nhân tố hợp lý của cả CSHT và
KTTT của CNTB, chứ không phải là một quá trình phủ đònh sạch
trơn.
- Trong TKQĐ lên CNXH thì cả CSHT và KTTT đều chưa
thể có đầy đủ những đặc trưng của CNXH. Vì vậy cuộc đấu tranh
giữa cái mới và cái cũ diễn ra hết sức gay go và quyết liệt trên cả
lónh vực KT lẫn chính trò, tư tưởng.

+ “Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền XHCN”.
+ “Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng”
+ “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi
mới phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân”.
(VKĐH Đảng lần thứ X, NXB.CTQG, H.2006, tr 78, 125,
130, 116)
Như vậy, trong quá trình vận dụng, Đảng ta luôn khẳng đònh
đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan niệm
đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình
thức, bước đi và biện pháp phù hợp, kết hợp sự kiên đònh về nguyên
tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt sáng tạo trong sách
lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới. Đổi mới phải được thực hiện trên
cơ sở bảo vệ, kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc
và những thành tựu cách mạng đã đạt được. Phê phán nghiêm trò sai
lầm, khuyết điểm phải đi đôi với khẳng đònh những việc làm đúng
không phủ nhận sạch trơn quá khứ, không hoang mang dao động mất
phương hướng từ thái cực này chuyển sang thái cực khác. Phải giữ
vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới;
nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc,
kiên trì chủ nghóa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, gắn với quá trình đổi mới hệ thống chính trò là quá
trình chống quan liêu, tham nhũng chống những hành vi xâm phạm
quyền làm chủ của nhân dân. Tệ quan liêu, tham nhũng làm biến
dạng và xói mòn mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân,
làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đó là
những vật cản to lớn và thường xuyên của quá trình dân chủ hóa về
tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trò. Vì vậy chống quan liêu

đònh nhất của giai cấp dù đó là giai cấp ở thời kỳ lòch sử nào.
Lênin đã tìm nguyên nhân của sự khác nhau của những tập
đoàn người để hình thành lý luận về giai cấp từ trong kinh tế gắn với
chế độ kinh tế, quan hệ kinh tế, tuy nhiên không nên xem giai cấp là
một phạm trù kinh tế thuần tuý mà giai cấp là một phạm trù kinh tế -
xã hội có tính lòch sử, bởi vì ngoài sự khác biệt bởi những yếu tố vật
chất (các quan hệ vật chất trong quan hệ sản xuất) thì các giai cấp
còn khác nhau về lối sống tâm lý và tư tưởng.
Các tập đoàn người trong một phương thức sản xuất nhất đònh
là các giai cấp khi họ có sự khác nhau ở ba phương diện cơ bản trong
quan hệ sản xuất:
Thứ nhất, khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất. Đây
là sự khác nhau cơ bản nhất. Chính quan hệ này quy đònh giai cấp
bóc lột và giai cấp bò bóc lột. Trong các phương thức sản xuất trong
lòch sử, các tập đoàn người chiếm giữ tư liệu sản xuất luôn giữ vai
trò thống trò không chỉ về kinh tế mà còn cả về chính trò và tư tưởng.
Chủ nô, đòa chủ phong kiến, tư sản là những tập đoàn người giữ đòa
vò thống trò trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu, trước hết
vì các tập đoàn người này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội, tức là
nắm phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng nhất để chi phối lao
động của các tập đoàn người không có hoặc rất ít tư liệu sản xuất.
Những tập đoàn người bò mất tư liệu sản xuất (nô lệ, nông dân, vô
sản) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tập đoàn thống trò.
Thứ hai là khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã
hội, trong tổ chức quản lý sản xuất. Tập đoàn nào chiếm hữu tư liệu
sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động sản
xuất, lưu thông trên quy mô toàn xã hội cũng như từng đơn vò kinh
tế. Các giai cấp lao động là những tập đoàn người trực tiếp sản xuất
dưới sự điều khiển của giai cấp thống trò trong phương thức sản xuất.
Mặc dù ngày nay chủ nghóa tư bản đã điều chỉnh các quan hệ sản

công ty cổ phần, về hình thức đã làm thay đổi một phần quan hệ giai
cấp - tức là xu thế xã hội hoá tư sản, nhưng về thực chất nó không
làm thay đổi bản chất của giai cấp tư sản và giai cấp công nhân,
không làm thay đổi bản chất quan hệ giữa tư bản và lao động. Giai
cấp tư sản vẫn là những người chiếm hữu tư liệu sản xuất của xã hội,
những người chỉ huy sản xuất, những người chiếm hữu giá trò thặng
dư.
Theo Mác, giai cấp không tồn tại trong mọi xã hội, mà: “Sự
tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển
lòch sử nhất đònh của sản xuất”. Sự hình thành giai cấp là do nguyên
nhân về kinh tế.
Trong xã hội nguyên thuỷ, khi lực lượng sản xuất còn thấp
kém, con người làm ra của cải vật chất chỉ đủ để tồn tại, chưa có sản
phẩm dư thừa, do đó chưa xuất hiện giai cấp. Cuối xã hội nguyên
thuỷ, lực lượng sản xuất phát triển (công cụ bằng kim loại được phổ
biến) dẫn đến phân công lao động: thủ công nghiệp tách khỏi nông
nghiệp. Trao đổi sản phẩm trở thành hoạt động thường xuyên, phổ
biến. Quan hệ sản xuất nguyên thuỷ không còn phù hợp với lực
lượng sản xuất mới nữa. Chế độ tư hữu xuất hiện dần dần thay thế
chế độ công hữu nguyên thuỷ về tư liệu sản xuất. Các gia đình có tài
sản riêng ngày càng nhiều, trong xã hội công xã xuất hiện sự chênh
lệch về tài sản. Những người có quyền lực trong thò tộc, bộ lạc đã có
thể lợi dụng đòa vò của mình để chiếm đoạt của cải của công xã làm
của riêng. Sự phát triển của lực lượng sản xuất sang trình độ mới tạo
khả năng và tiền đề phân hoá xã hội thành giai cấp. Chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất là cơ sở trực tiếp của sự hình thành các giai cấp.
Theo Mác và Ăngghen, xã hội có giai cấp không tồn tại vónh
cửu mà chỉ là một giai đoạn tất yếu của lòch sử loài người. Hai ông
cho rằng sự phân chia xã hội thành giai cấp sẽ bò sự phát triển đầy
10

người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”.
Đấu tranh giai cấp là một tất yếu lòch sử, có nguyên nhân
khách quan từ sự phát triển mang tính xã hội hoá ngày càng sâu rộng
của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất. Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội là mâu
thuẫn giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho
phương thức sản xuất mới, với một bên là giai cấp thống trò, bóc lột,
đại biểu cho những lợi ích gắn với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc
hậu.
Các cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra dưới nhiều hình thức khác
nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lòch sử, vào các giai cấp tham gia đấu
tranh, vào giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh. Chẳng hạn, trong
xã hội tư bản mới hình thành, đấu tranh của giai cấp công nhân diễn
ra dưới hình thức các cuộc đấu tranh lẻ tẻ, cục bộ, tự phát như đấu
tranh của một xí nghiệp, một đòa phương, đòi tăng lương, giảm giờ
làm, cải thiện điều kiện lao động, và thường là không có hiệu quả
do thiếu tổ chức, thiếu đoàn kết. Lênin cho rằng các cuộc đấu tranh
đó chỉ là “mầm mống yếu ớt” của đấu tranh giai cấp. Đấu tranh của
giai cấp công nhân chỉ trở thành cuộc đấu tranh giai cấp công nhân
thực sự khi nó phát triển thành cuộc đấu tranh toàn quốc hoặc ít nhất
cũng có quy mô rộng lớn, nhằm chống lại quyền lực chính trò của
giai cấp tư sản.
Trong xã hội tư bản, đấu tranh của giai cấp công nhân có ba
hình thức cơ bản đó là đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trò và đấu
tranh tư tưởng. cả ba cuộc đấu tranh này đều rất quan trọng; giai cấp
11
công nhân muốn giành được thắng lợi cuối cùng thì sử dụng cả ba
hình thức đấu tranh trên.
Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển
quan trọng của các xã hội có giai cấp. Trong một phương thức sản

mới. Trong thời kỳ giai cấp công nhân giành được chính quyền đó -
thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội, mục tiêu đấu tranh cũng thay
đổi từ giành chính quyền chuyển sang củng cố chính quyền và xây
dựng thành công chủ nghóa xã hội. Đồng thời hình thức đấu tranh của
giai cấp công nhân cũng thay đổi, Lênin nói: “Trong điều kiện
chuyên chính vô sản, những hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp
vô sản không thể giống như trước được”. Cuộc đấu tranh giai cấp
trong thời kỳ quá độ diễn ra trên tất cả các lónh vực: chính trò, kinh
tế, xã hội, văn hoá, tư tưởng. Do đó, giai cấp công nhân phải sử dụng
tổng hợp và linh hoạt các hình thức đấu tranh mới, trong đó có đấu
tranh bằng bạo lực và hoà bình, bằng giáo dục thuyết phục và bằng
hành chính, pháp chế, bằng chính trò, quân sự và bằng kinh tế,
Liên hệ thực tiễn.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội ở nước ta, xã hội
vẫn tồn tại lâu dài các giai cấp, các mâu thuẫn giai cấp. Đấu tranh
giai cấp là một thực tế khách quan không thể tránh khỏi. Do bối
cảnh lòch sử của quá trình hình thành giai cấp và điều kiện mới của
xu thế quốc tế hoá mà đấu tranh giai cấp ở Việt Nam có những đặc
điểm riêng và rất phức tạp.
Đại hội Đại IX của Đảng khẳng đònh: Hiện nay và cả trong
thời kỳ quá độ của nước ta vẫn tồn tại một cách khách quan các giai
cấp và đấu tranh giai cấp. Nhưng đấu tranh giai cấp ở nước ta diễn ra
12
trong điều kiện mới với những nội dung mới và bằng những hình
thức mới. Bởi vì cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội,
dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước, cơ cấu giai
cấp, nội dung, tính chất, vò trí của các giai cấp trong xã hội ta cũng
đã thay đổi nhiều, nó khác với thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ
trong những năm đầu chúng ta mới giành được chính quyền.
Mối quan hệ giữa các giai cấp không còn như trước nữa.

nghóa xã hội ở nước ta.
Hết.
13
14
Hết.
Câu 4 : Quan điểm mác xít về nhà nước. Vận dụng quan điểm nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân.
BÀI LÀM
Nhà nước là một phạm trù lòch sử. Không phải Xh loài người
ngay từ khi hình thành đã có Nhà nước. Có một thời kỳ lòch sử XH
chưa có Nhà nước: thời kỳ CSNT. Chỉ khi đến nền SX XH phát triển
đến một trình độ nhất đònh, XH phân chia thành GC, thì Nhà nước
mới ra đời.
Với sự ra đời của công cụ sx bằng kim loại, LLSX đã có sự
phát triển vượt bậc, của cải XH đã dư thừa và chế độ tư hữu ra đời,
XH phân chia thành những GC đối kháng: Chủ nô và nô lệ. Mâu
thuẫn giữa các GC bóc lột và bò bóc lột ngày càng trở nên gay gắt và
dẫn đến đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh giữa các GC đó diễn ra
không ngừng và ngày càng quyết liệt không thể điều hoà được. Để
bảo vệ lợi ích giai cấp của mình, GC chủ nô đã lập ra một bộ máy
bạo lực, trấn áp. Bộ máy đó chính là Nhà nước. Nhà nước đầu tiên
xuất hiện trong lòch sử là Nhà nước CHNL, tiếp đó là Nhà nước
Phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước XHCN, những nhà nước đó
xuất hiện đều từ mâu thuẫn đối kháng GC không thể đều hoà được.
Như vậy, nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự ra đời của nhà nước là từ KT,
từ sự phát triển của LLSX, nguồn gốc trực tiếp về KT-XH dẫn đến
sự ra đời và tồn tại của nhà nước là do có chế độ tư hữu và “mâu
thuẫn GC không thễ điều hoà được.”
Nhà nước là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay GC

Chức năng đối nội: chức năng này có 2 mặt: mặt thứ nhất là
duy trì trật tự KT, XH, chính trò và các trật tự XH khác theo luật pháp
của GC thống trò. Đồng thời sử dụng các phương tiện khác như bộ
máy thông tin, tuyên truyền văn hoá, giáo dục… để xác lập và củng
cố hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột biến nó thành tư tưởøng thống trò
trong xh (đây là chức năng GC). Mặt thứ hai: quản lý và giải quyết
các nhu cầu của Xh (cũng còn gọi là chức năng quản lý công cộng.
Hai mặt của chức năng đối nội có quan hệ biện chứng trong đó mặt
thống trò giai cấp là mục đích, còn mặt XH là cơ sở, là điều kiện để
thực hiện chức năng giai cấp.
Chức năng đối ngoại: chức năng đối ngoại nhằm bảo vệ lãnh
thổ quốc gia và quan hệ với các nước khác vì lợi ích của giai cấp
thống trò và lợi ích quốc gia.
Hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nùc là một thể
thống nhất, chức năng đối nội là chủ yếu và có ý nghóa quyết đònh.
Chức năng đối ngoại là kế tục chức năng đối nội.
Trong lòch sử phát triển của mình, Nhà nước có những kiểu
sau: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà
nước XHCN. Các kiểu Nhà nước chủ nô, Phong kiến, tư sản mặc dù
có những đặc điểm riêng nhưng đều là những “Nhà nước theo đúng
nghóa” đïc xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về TLSX và là
công cụ để duy trì sự thống trò của giai cấp bóc lột đối với đông đảo
quần chúng nhân dân lao động. Khác với các kiểu Nhà nước bóc lột,
Nhà nước XHCN là “nữa Nhà nước” tức là Nhà nước của nhân dân
lao động, thực hiện dân chủ và công bằng XH cho tất cả công dân.
Sự thay đổi kiểu Nhà nước này bằng kiểu Nhà nước mới tiến
bộ hơn là quy luật tất yếu phù hợp với quy luật về sự phát triển và
thay thế của các hình thái KT-XH. Cách mạng XH là con đường dẫn
đến sự thay đổi đó.
Nhà nước XHCN ra đời và tồn tại trong thời kỳ quá độ từ xh

tăng cường và hoàn thiện chế độ dân chủ là điều kiện để Nhà nước
rút khỏi vũ đài lòch sử. Đó là biện chứng của quá trình phát triển
hoàn thiện Nhà nước thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS.
Quán triệt quan điểm Mác-xít về Nhà nước, Đảng ta xem
Nhà nước XHCN “là cột trụ của hệ thống chính trò, là công cụ thực
hiện quyền lực của nhân dân”; nó được tổ chức theo nguyên tắc Nhà
nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; lấy liên minh g/c
CN với g/c ND và tầng lớp trí thức làm nền tảng, đặt dưới sự lãnh
đạo của ĐCSVN. Trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực
nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, nhưng có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan NN trong việc thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam có những đặc trưng
cơ bản như sau:
Một là, đó là NN của dân do dân và vì dân; tất cả quyền lực
NN thuộc về nhân dân.
Hai là, quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công rành
mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan NN trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Ba là, NN được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp,
pháp luật và bảo đảm cho hiến pháp và các đạo luật giữ vò trí tối
thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lónh vực của đời
sống XH.
Bốn là, NN tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền
công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa NN và công dân; thực
hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là, NN pháp quyền XHCN do Đảng CSVN lãnh đạo,
đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện XH của
MTTQ VN và các tổ chức thành viên của mặt trận.
Trong quá trình xd NN pháp quyền XHCN, chúng ta đã đạt

nước; đẩy mạnh đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng. Tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Củng cố khối
liên minh công-nông-trí thức, khối đại đoàn kết toàn dân. “Cải cách
tổ chức và hoạt động của Nhà nước gắn liền với XD Chỉnh đốn
Đảng, đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước. Xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượng
hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong các cơ quan Nhà
nước” (VKĐH IX, tr.131, 132). Đại hội X của Đảng cũng chỉ rõ
phương hướng xây dựng NN pháp quyền XHCN ở nước ta như sau:
“Xây dựng cơ chế vận hành của NN pháp quyền XHCN, bảo đảm
nguyên tắc tất cả quyền lực NN đều thuộc về nhân dân; quyền lực
NN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong
việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (VKĐHĐ lần
thứ X, NXB.CTQG, H.2006, tr 126).
Nhìn chung, thực hiện tốt các biện pháp và phương hướng xây
dựng NN pháp quyền XHCN nêu trên chính là sự vận dụng sáng tạo
quan điểm Mác xít về nhà nước của Đảng ta. Chắc chắn chúng ta sẽ
đạt được bước tiến căn bản trong việc hoàn thiện Nhà nước Cộâng
hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam, góp phần xây dựng thành công
CNXH ở nước ta.
18
Hết.
Câu 5: Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã
hội. Ý nghóa phương pháp luận và sự vận dụng của Đảng ta.
BÀI LÀM
XH loài người tồn tại và phát triển theo những qui luật khách
quan và những quy luật đó được thực hiện thông qua hoạt động có ý
thức của con người. Do đó, nhận thức đúng đắn bản chất của ý thức
XH và sự chuyển hoá cái tư tưởng thành cái hiện thực trong đời sống
XH có ý nghóa rất quan trọng để hiểu lòch sử XH loài người. Triết

XH. Chủ nghóa duy vật lòch sử đã đặt ý thức XH trong quan hệ với cơ
sở vật chất, với cơ sở KT để nghiên cứu và từ đó khẳng đònh YTXH
và TTXH có quan hệ biện chứng với nahu. Trong mối quan hệ đó
TTXH quyết đònh đối với YTXH , YTXH là sự phản ánh của TTXH,
phụ thuộc vào TTXH. YTXH là sự phản ánh của TTXH cho ta khẳng
19
đònh TTXH là nguồn gốc nội dung của YTXH. TTXH sinh ra YTXH,
TTXH như thế nào thì YTXH như thế ấy, khi TTXH nhất là PTSX
biến đổi thì những tư tưởng và lý luận XH, những quan điểm về
chính trò, pháp quyền, triết học, đạo đức, VH, nghệ thuật… sớm muộn
sẽ biến đổi theo. Trong lòch sử XH loài người thì sự thay đổi và phát
triển của YTXH trước hết là xuất phát từ sự thay đổi và phát triển
của PTSX. Vì vậy chúng ta phải tìm nguồn gốc của ý thức XH trong
đời sống vật chất của XH trước hết là trong mối quan hệ giữa LLSX
và QHSX. Trong XH có giai cấp YTXH mang tính GC, không có ý
thức chung cho mọi GC mà chỉ có ý thức chung cho một GC nhất
đònh.
Chúng ta cần lưu ý rằng: nói YTXH là sự phản ánh tồn tại
XH là nói nguồn gốc và nội dung của YTXH. YTXH là do TTXH
sinh ra, nội dung của nó là kết quả của sự phản ánh tồn tại XH khi
TTXH tác động vào suy nghó và nhận thức của chủ thể thì hình thành
những quan điễm, nhận đònh và thái độ của chủ thể. Sự phản ánh
của YTXH bao giờ cũng xuyên qua một mắc khâu là lợi ích, do đó
xem xét nội dung của YTXH phải gắn chặt với với quan hệ lợi ích.
YTXH là sự phản ánh TTXH nhưng không phải bất cứ tư tưởng nào,
một hình thức YTXH nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp các
quan hệ KT của thời đại mà nó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua
khâu trung gian để phản ánh nhưng xét đến cùng bằng cách này hay
cách khác nó vẫn phản ánh các quan hệ KT của thời đại. Thực tiễn
lòch sử đã chứng minh các thời đại khác nhau có những tư tûng khác

qua nhiều thế kỷ là sức mạnh ghê ghớm nhất YTXH lạc hậu so với
tồn tại XH còn có nguyên nhân ở quan hệ lợi ích đó là trong XH có
GC, các GC phản động tìm mọi cách khôi phục, duy trì những tư
tưởng cũ lạc hậu để chống lại cuộc đấu tranh cải tạo XH của GC
20
cách mạng. Khuynh hướng lạc hậu của YTXH cũng biểu hiện rõ
trong điều kiện của CNXH. Nhiều hiện tượng ý thức có nguồn gốc
sâu xa trong XH cũ vẫn tồn tại trong XH mới như lối sống ăn bám,
chay lười lao động, tệ nạn tham nhũng… Lênin nói rằng : Một người
bệnh chết đi ta có thể đem chôn cùng với căn bệnh nhưng một XH
mất đi ta không thể đem chôn cùng những căn bệnh của nó được mà
những căn bệnh này rữa ra xâm nhập vào những con người đang
sống.
Những hiện tượng ý thức lạc hậu tiêu cực không mất đi dễ
dàng cho nên trong sự nghiệp XD XH mới phải thường xuyên tăng
cường công tác tư tưởng xây dựng ý thức XH mới (CM tư tưởng) đấu
tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của những lực
lượng thù đòch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức
cũ đồng thờu ra sức phát huy những truyền thống tư tûng tốt đẹp.
Khi khẳng đònh tính thường lạc hậu hơn của YTXH so với
TTXH triết học Mác đồng thời thừa nhận rằng trong những điều kiện
nhất đònh tư tưởng của con người đặc biệt những tư tưởng KH tiên
tiến có thể vượt trước sự phát triển của TTXH , dự báo được tương
lai và có tác dụng tổ chức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con
người , hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới
do sự phát triển chín muồi của đời sống vật chất của XH đặt ra và sự
phản ánh này sẽ là duy ý chí khi nó chỉ là sự mong muốn chủ quan
của con người không dựa trên sự nắm bắt thực hiện. Tuy nhiên khi
nói tư tưởng tiến tiến có thể vượt trước TTXH , dự kiến được quá
trình khách quan của sự phát triển XH thì không có nghóa là trong

hưởng lớn hơn tuỳ điều kiện cụ thể. Do đó trong quá trình XD YTXH
21
mới phải phát triển hài hoà và đồng bộ tất cả các hình thái YTXH
tránh mâu thuẫn đối lập nhau.
YTXH là do TTXH quyết đònh nhưng lại tác động trở lại
TTXH. Sự tác động này vừa thể hiện tính độc lập tương đối của
YTXH vừa nói lên vai trò của YTXH. Sự tác động YTXH đôi với
TTXH diễn ra hai khuynh hướng khác nhau. Những tư tưởng KH và
tiến bộ góp phần thúc đẩy XH phát triển ngược lại những tư tưởng
lạc hậu, phản động thì cản trở sự phát triển của XH. Tính chất và
hiệu quả tác động trở lại của YTXH phụ thuộc vào các yếu tố : vai
trò lòch sử của GC đề ra tư tûng đó, trình độ phù hợp của tư tûng
với hiện thực, mức độ truyền bá và xâm nhập của tư tưởng cả bề
rộng lẫn bề sâu trong quần chúng ND.
Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa TTXH
và YTXH, ta rút ra ý nghóa phương pháp luận là khi xem xét, giải
quyết các hiện tựong thuộc YTXH trước hết phải xuất phát từ cơ sở
vật chất, cơ sở KT đã sinh ra nó đồng thời phải xem xét tính độc lập
tương đối. Từ đó khẳng đònh được vai trò động lực của những tư
tưởng KH, tiến bộ. Trong công cuộc cải cách và XD CNXH, tiến
hành Cm tư tưởng VH, XD con người mó7I và nền VH mới ta phải
biết chọn lọc, tiếp thu, kế thừa những thành quả văn minh, những di
sản quý giá do loài người tạo ra bao thế hệ những thành tựu VH, KH
hiện đại. Chúng ta chống chủ nghóa hư vô đồng thời chốngười
khuynh hướng siêu GC trong việc kế thừa di sản để lại. Ta phải
thường xuyên giáo dục trong cán bộ, đảng viên và trong ND về chủ
nghóa Mác-Lênin và tư tưởng HCM, điều đó có ý nghóa hết sức quan
trọng trong sự nghiệp cải tạo và XD CNXH ở nước ta trong công
cuộc đổi mới hiện nay.
Báo cáo chính trò của Ban chấp hành TW tại Đại hội VII chỉ

mọi người sống nhân ái, có VH, tôn trọng pháp luật kỷ cương không
còn áp bức bất công, ai cũng có điều kiện làm ăn sinh sống ấm no,
tự do, hạnh phúc. Hiện nay nhiều vấn đề XH còn phức tạp một mặt
nền KT thò trường vừa tạo ra những yếu tố tích cực để nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần nhưng mặt khác nó lại vừa tạo ra những yếu
tố tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của XH đặc biệt là về
tư tưởng đạo đức và lối sống. Trong đó sự suy thoái về tư tưởng đạo
đức và lối sống của cán bộ đảng viên chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.
Trong điều kiện đó mục tiêu của cuộc cách mạng trên lãnh vực tư
tưởng cần đạt được là xây dựng nền VH mới và con người mới
XHCN. Để thực hiện mục tiêu đó phải thực hiện hai nhiệm vụ trong
giai đọan hiện nay là : nhiệm vụ trọng tâm về tư tưởng là làm cho
chủ nghóa Mác_Lênin và tư tưởng HCM giữ vai trò chủ đạo trong đời
sống tinh thần của XH. Còn nhiệm vụ cấp bách về VH là XD nền
VH tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc: “hướng mọi hoạt động VH vào
việc XD con người VN phát triển toàn diện về chính trò, tư tưởng, trí
tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực lực sáng tạo, có ý thức công đồng,
lòng nhân ái khoan dung, trọng tình nghóa, lối sống có VH, quan hệ
hài hoà trong GD, công đồng và XH” và nêu cao tinh thần trách
nhiệm của GĐ trong việc XD và bồi dưỡng các thành viên có lối
sống VH làm cho GĐ thật sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào
lành mạnh của XH. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết XD
đời sống VH” ; ngăn chặn việc phục hồi các hủ tục, khắc phục tình
trạng mê tín đang có xu hướng lan rộng trong XH (VK 9 trang 114 –
116).
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta chủ trương bảo vệ và khuyến
khích công dân làm giàu hợp pháp , được hưởng thụ văn hoá, GD
đào tạo, chăm lo Y tế, được hưởng thụ xứng đáng với công sức, tiền
của bỏ vào SX. Thực hiện phân phối công bằng theo lao động, chống
tư tưởng bình quân, ỷ lại, đãi ngộ xứng đáng tài năng, mở rộng phúc

bản chất con người. Đã từng có những ý kiến cho rằng triết học Mác-
Lênin nói riêng xem vấn đề con người là trung tâm của mọi KHXH
và nhân văn. CN Mác_Lênin ra đời xuất phát từ con người và mục
đích cuối cùng của nó là soi sáng cho sự nghiệp giải phóng cho mỗi
con người và cho cả xã hộiû loài người
Các nhà triết học trước Mác coi bản chất con người từ sự sáng
tạo và chi phối của thần thánh hoặc từ ý thức trừu tượng (chủ nghóa
duy tâm tôn giáo) hoặc từ giác độ sinh vật thuần tuý tự nhiên,không
phân biệt được con người với tính tầm thường của động vật (chủ
nghóa duy tâm siêu hình). Ngược lại, triết học Mác coi “trong tính
hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các QHSX” và bản
chất đó cũng biến đổi cùng với sự phát triển của XH. Triết học Mác
xem bản chất con người xuất phát từ hoạt động của con người thực
tiễn. Vì vậy con người là một động vật có tính XH với tất cả nội
dung VH-LS của nó. Vạch ra bản chất con người từ QHSX nhưng
triết học Mác không tuyệt đối hoá mặt XH trong con người mà cho
rằng con người là thực thể thống nhất của mặt sinh vật và mặt XH.
Mặt sinh vật, Chủ nghóa Mác khảng đònh rằng: Con người la
økết quả của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh, toàn bộ các quá
trình sinh vật diễn ra trong con người và con người là con người sinh
vật, con người tự nhiên. Cũng chòu sự chi phối của các qui luật khách
quan, các quy luật sinh học, về mặt tự nhiên con người cũng giống
như các động vật khác là, cũng phải ăn uống …sinh con đẻ cái duy trì
giống nòi .
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status