Bài văn mẫu Bài văn mẫu: Hình ảnh người phụ nữ qua 2 bài thơ Tự tình và Thương vợ - Pdf 25

Bài văn mẫu: Hình ảnh người phụ nữ qua 2 bài thơ "Tự tình" và
"Thương vợ"
BÀI LÀM
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có chùm thơ “Tự tình” 3 bài. Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm thơ trữ tình ấy.
Vẫn là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật đã Việt hoá một cách tài ba, có điều chùm thơ mang một
giọng điệu trữ tình thảm thiết, nhiều cay đắng tủi hờn, phản ánh tâm trạng của một người phụ nữ quá
lứa lỡ thì, duyên ôi phận ẩm. Bài thơ “Tự tình” này thể hiện đậm nét cốt cách thi sĩ của Bà chúa thơ Nôm.
Tự tình nghĩa là tự phô bày, tự giãi bày những tình cảm ẩn chứa trong lòng, tự mình thổ lộ cho mình biết,
cho mình hay. Tự tình mang tính hướng nội, nên rất chân thực, sâu sắc và cảm động. Nội dung “Tự tình”
là tuổi tác và tình duyên.
Mở đầu bài thơ, hai đâu đề gợi ra một không gina bao la, mờ mịt từ trên bom thuyền ở nơi dòng sông
đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng. Người phụ nữ thao thức suốt những canh dài. Tiếng gà gáy “văng
vẳng” như thế. Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài nơi làng
quê đã góp phần làm nổi bật tâm trạng “oán hận” , của người phụ nữ thao thức suốt những canh trường.
Nàng ngồi dậy, lắng tai nghe tiếng gà gáy sang canh, rồi “trông ra” màn đêm mịt mùng. Màn đêm như
bủa vây người phụ nữ trong nỗi buồn cô đơn, oán hận:
“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm”.
Hai câu 3, 4 trong Phần thực, tác giả tảo ra hai hình ảnh “mõ thảm” và “chuông sầu” đối nhau, hô ứng
nhau, cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của riêng mình đang sống trong cảnh ngộ qúa lứa lỡ thì, trắc trở trong
tình duyên. Vần thơ đầy ám ảnh. Phủ định để khẳng định tiếng “cốc” của “mõ thảm”, tiếng “om” của
“chuông sầu”. Nữ sĩ đã và đang trải qua những đêm dài thao thức và cô đơn, đau cho nỗi đau của đời
mình cô đơn như “mõ thảm” chẳng ai khua “mà cũng cốc”, tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn
đơn như “chuông sầu” , chẳng dánh “cớ sao om”. Nỗi oán hận, đau buồn sầu tủi như thấm sâu vào vào
đáy dạ, tê tái xót xa, như đang tỏa rộng trong không gian “khắp mọi chòm” , như kéo dài theo thời gian
của những đêm dài. “Om” là tiếng tượng thanh, tiếng chuông sầu, cũng là lời gợi tả nỗi thảm sầu tê tái,
đau đớn đến cực độ. Câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ thảm thiết, xoáy sâu vào lòng người như một lời
than, như một tiếng thở dài thương mình trong nỗi buồn ngao ngán:
“Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”
Có biết thời con gái, Hồ Xuân Hương đã có những vần thơ tươi xinh, phơi phới như “Thân em vừa trắng

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phần son càng tủi phận long đong
Biết còn mấy chút sương siu máy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong”.
Bài thơ “Tự tình” – I gieo vần “om”, 5 vần thơ, vần nào cũng hóc hiểm, tài tình: “bom chòm om mòm
tom”. Những vần thơ hóc hiểm ấy, một mặt thể hiện bút pháp điêu luyện, mặt khác đã tạo nên nhạc
điệu, âm điệu như thật, như nén lại cái “oán”, cái “hận”, cái “ngang bướng” của một tâm trạng, một cá
tính rất Xuân Hương. Duyên số và hạnh phúc tình yêu của người phụ nữ là nội dung đầy ám ảnh đối với
mỗi chúng ta khi đọc bài thơ “Tự tình” này của Xuân Hương. “Tự tình” là tiếng than thân trách phận cho
nỗi buồn cô đơn, vẻ bi kịch tình yêu, là niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ. Vì lẽ đó, “Tự tình”
mang giá trị nhân bản sâu sắc
Bài thơ sau đây là bài “Thương vợ” của Tú Xương:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vẵng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng
phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu,
quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải
đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết
đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sống,
Nuôi đủ năm con với một chồng”.
Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa
thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của
các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn

“Năm nắng mười mưa dám quản công”
Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói
những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề
(Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười
trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú
chịu đựng hết.
Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi đủ năm con với một chồng” thì
nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình.
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời
xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương
đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ
bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người
đáng kính.
Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ
nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ
Việt Nam xưa.
Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú giành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ
“không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này
có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status