1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Nguyễn Trãi
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ
TRONG TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
Người thực hiện: TRẦN THỊ VƯƠNG NHI
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2013 - 2014
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: TRẦN THỊ VƯƠNG NHI
2. Ngày tháng năm sinh: 08 – 05 - 1982
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: 7I/40 khu phố 8, phường Hố Nai, Biên Hoà, Đồng Nai
5. Điện thoại: 0903 180 950
6. Fax: 061.3881183 E-mail:
[email protected]
7. Chức vụ: Giáo viên, Bí thư Đoàn trường
4 Giáo dục tích cực phòng chống bạo lực học
đường ở trường THPT Nguyễn Trãi
PPGD 2012 Khá
2
BM02-LLKHSKKN
5 Giáo dục tài nguyên, môi trường biển, đảo qua
môn Giáo dục công dân cấp Trung học phổ thông
PPDH
Bộ môn
2013 Khá
XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ
TRONG TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lý do pháp lý
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển
sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho
văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”.
Đảng ta đề ra nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa để tạo ra các điều
kiện cho các hoạt động văn hóa diễn ra thường xuyên, liên tục, đáp ứng được nhu
cầu tinh thần lành mạnh và ngày càng tăng lên của nhân dân. Nhằm cụ thể hóa tinh
thần Nghị quyết Đại hội Đảng, ngày 02 tháng 8 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ra
Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế văn hóa công sở. Quy chế nêu
các nguyên tắc thực hiện văn hóa công sở: phù hợp với truyền thống, bản sắc văn
hóa dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội, phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, hiện đại; phù hợp với các quy định
của pháp luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành chính, chủ trương hiện đại hóa
nền hành chính nhà nước. Việc thực hiện văn hóa công sở nhằm mục đích: bảo
đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước;
xây dựng phong cách ứng xử chuản mực của cán bộ, công chức, viên chức trong
Về mặt khái niệm, “văn hóa” là một khái niệm đa nghĩa, đến nay đã có
hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo UNESCO, Văn hóa là một
phức thể, tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình
cảm khắc họa lên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, xã hội,…
Văn hóa công sở là một loạt hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó
để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình đối với những người khác
trong công sở. Văn hóa công sở còn là một hệ thống được hình thành trong quá
trình hoạt động của công sở, tạo nên niềm tin, giá trị về thái độ của cán bộ làm
việc trong công sở, ảnh hưởng đến cách làm việc trong công sở và hiệu quả hoạt
động của nó.
Văn hóa nhà trường là tập hợp những giá trị cơ bản, chuẩn mực đạo đức,
phương tiện và các mẫu hành vi quy định cách thức mà cán bộ, giáo viên, nhân
viên và học sinh trong nhà trường tương tác với nhau và đầu tư năng lực vào
công việc của mình và vào việc thực hiện nhiệm vụ của nhà trường nói chung.
Như vậy, văn hóa nhà trường liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần
của một nhà trường. Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý,
mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý,… bầu không khí tâm lý. Văn
hóa nhà trường thể hiện thành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy
tắc ứng xử… được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp
nhận. Từ đó, tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm, thông qua đó mà
các thành viên của nhà trường được kết nối với nhau để phấn đấu cho mục tiêu
chung, trách nhiệm chung.
Căn cứ vào các hoạt động, các mối quan hệ bên trong nội bộ, các mối
quan hệ với môi trường bên ngoài, các tính chất, các trạng thái của nhà trường
mà phân tra thành 4 kiểu văn hóa nhà trường: hỗ trợ, đổi mới, hướng về mục
tiêu và quy tắc. Mỗi kiểu văn hóa sẽ ứng với các đặc điểm khác nhau của tổ
chức về: mô hình; tiêu chí đánh giá hiệu quả; giá trị; hình ảnh con người; cơ cấu
tổ chức; phong cách lãnh đạo; xung đột; động cơ; truyền thông; sử dụng thời
gian; tiêu chí và phương pháp tuyển chọn đội ngũ; huấn luyện bồi dưỡng đội
ngũ; đánh giá, khen thưởng; đề bạt, thuyên chuyển; mối nguy của tổ chức.
thiếu giá trị gây ảnh hưởng tiêu cực đến đoàn kết nội bộ, hình ảnh, uy tín, thương
hiệu và chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, như: giáo viên sử dụng rượu
bia trong giờ hành chính, giáo viên hút thuốc khi lên lớp, học sinh đi trễ, chưa lễ
phép, xưng hô không phù hợp môi trường học đường, chửi thề, nói tục, phá hoại cơ
sở vật chất,… cần phải có các biện pháp phòng chống và loại trừ. Tuy nhiên, việc
lãnh đạo nhà trường điều chỉnh các biểu hiện tiêu cực trong văn hóa ứng xử chỉ
mang tính tự phát, theo tình huống phát sinh chứ chưa tự giác, chủ động xây dựng
quy chế văn hóa ứng xử phù hợp với đặc trưng của nhà trường và nhu cầu của xã
hội. Bên cạnh đó, việc xây dựng văn hóa ứng xử cho cán bộ, giáo viên, học sinh
chỉ dừng lại ở các quy chế văn hóa ứng xử cơ quan, nội quy nhà trường vắn tắt chứ
chưa chú trọng thay đổi hành vi, chưa có biện pháp theo dõi và chế tài thống nhất
xử lý các trường hợp vi phạm. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Xây dựng văn hóa ứng xử
trong trường THPT Nguyễn Trãi” để nuôi dưỡng, vun trồng và phát triển văn hóa
ứng xử trong nhà trường, nhằm tạo môi trường văn hoá, văn minh, hiện đại; phát
5
huy tinh thần đoàn kết gắn bó, trách nhiệm cao của mỗi một thành viên nhà trường
trong các mối quan hệ góp phần xây dựng trường THPT Nguyễn Trãi xứng đáng
được Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý – Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
Các giải pháp mà tôi đưa ra là giải pháp thay thế phần lớn giải pháp đã có tại
trường THPT Nguyễn Trãi, đã được tổ chức thực hiện và bước đầu có hiệu quả.
2. Tình hình văn hóa ứng xử trong trường THPT Nguyễn Trãi
2.1. Giới thiệu khái quát về trường THPT Nguyễn Trãi
Trường THPT Nguyễn Trãi – có một cơ sở riêng biệt đặt tại khu phố 9,
phường Tân Biên, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 30/8/1983 Chủ tịch
UBND tỉnh Đồng Nai ra quyết định số: 1219/UBT về thành lập trường THPT
Nguyễn Trãi. Ngày 09/4/1987 Bộ trưởng Bộ Giáo dục quyết định số 189/QĐ-
BGD công nhận trường THPT Nguyễn Trãi. Năm 1983, trường là một phân hiệu
của trường THPT Thống Nhất A, cơ sở đầu tiên đóng tại xã Hố Nai 3, huyện
Trảng Bom, được tách ra thành lập trường THPT Nguyễn Trãi và chuyển về địa
điểm mới (khu phố 9, phường Tân Biên), tiếp nhận cơ sở cũ của trường Trung
6
2.2. Thực trạng văn hóa ứng xử trong trường THPT Nguyễn Trãi
Trường THPT Nguyễn Trãi có bề dày thành tích giáo dục hơn 30 năm vì
vậy nề nếp, văn hóa nhà trường, văn hóa ứng xử cũng đã xây dựng được những
giá trị tương đối ổn định. Từ năm học 2012 – 2013, một số tiêu chí ứng xử của
cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh đã được thể chế hóa trong quy chế
thi đua nội bộ, nội quy nhà trường được đa số thành viên nhà trường dều đồng
thuận, nhất trí, thực hiện. Bên cạnh đó, hơn 60% giáo viên trong nhà trường có
độ tuổi từ 40 trở lên, đa số đều yêu nghề, cư xử mẫu mực, có kinh nghiệm trong
việc giáo dục, uốn nắn thái độ, hành vi cho học sinh. Giáo viên trẻ thì nhiệt tình,
gần 20% tập thể sư phạm là cựu học sinh của trường, sinh sống tại địa phương
gắn bó, thân thiện, gần gũi, hòa nhập với học sinh, thuận lợi trong việc theo dõi,
đồng hành với học sinh trong việc học tập, rèn luyện.
Trường đóng trên địa bàn Công giáo, hơn 95% học sinh là người theo đạo
Thiên Chúa, thường xuyên tham gia sinh hoạt ở các giáo xứ, được giáo dục tốt, có
đạo đức, có kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử có văn hóa. Hơn nữa, nhà trường có
mối quan hệ gắn bó với địa phương, các giáo xứ lân cận nên công tác phối hợp
cùng giáo dục học sinh rất hiệu quả. Những trường hợp thường xuyên vi phạm
nội quy nhà trường được báo cáo về địa phương, giáo xứ nơi học sinh cư trú để
tìm biện pháp giáo dục.
Trường THPT Nguyễn Trãi luôn đứng trong top 5 của tỉnh về chất lượng
giáo dục, chưa vươn lên vị trí hàng đầu về chất lượng chuyên môn. Trong 5 năm
gần đây, tỷ lệ tốt nghiệp THPT luôn đạt từ 99% đến 100%, tỷ lệ đậu đại học, cao
đẳng giữ vững trên 70% (top 200 trường THPT diểm thi đại học cao trong cả
nước). Song, trường luôn được đánh giá rất cao về chất lượng giáo dục toàn diện
học sinh, thực hiện nghiêm túc và rất hiệu quả các phong trào của công tác học
sinh sinh viên. Đội ngũ các đoàn thể giàu kinh nghiệm, sáng tạo trong việc tổ
chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tạo điều kiện, môi trường cho học
sinh trải nghiệm, thực hành những nội dung đã được tuyên truyền, giáo dục….
Một số hoạt động định kỳ tạo sân chơi bổ ích, thiết thực mang tính giáo dục, trải
trường hợp giáo viên bị học sinh các lớp yêu cầu đổi giáo viên vì hay mất bình
tĩnh với học sinh, quát tháo, nặng lời, trừng phạt học sinh trong lớp. Vẫn còn vài
giáo viên chưa gương mẫu, nói chưa đi đôi với làm hoặc cho rằng học sinh thì
phải thực hiện những quy tắc ứng xử còn bản thân giáo viên thì không cần làm,
gây mất niềm tin của học sinh vào bản thân cá nhân giáo viên và nhà trường nói
chung. Một bộ phận giáo viên lớn tuổi bảo thủ, giữ khoảng cách thế hệ với giáo
viên trẻ và học sinh. Để điều chỉnh vấn đề này, Ban giám hiệu nhà trường đã
nhắc nhở nhiều lần trong các phiên họp hội đồng nhưng sự chuyển biến chưa
nhiều và cũng chưa có chế tài để xử lý triệt để.
Một bộ phận học sinh có ý thức học tập và rèn luyện đạo đức còn yếu, chưa
chuyên cần, đặc biệt là khối lớp 10 (có 10 học sinh học lực yếu). Đây cũng là sự trăn
trở của Hội đồng giáo dục nhà trường. Trong năm học qua nhà trường đã xử lý
nghiêm các trường hợp học sinh vi phạm nội quy nhà trường, nhưng vẫn còn hiện
tượng học sinh chửi thề, nói tục, nói xấu, biểu lộ tình cảm, âu yếm nhau trong khuôn
viên trường vào những lúc ngoài giờ, thiếu lễ phép, không chào hỏi cán bộ, giáo
viên, công nhân viên và khách đến trường, gian lận trong thi cử, bàng quan thờ ơ với
những bạn có hoàn cảnh khó khăn, thể hiện quan điểm, lối sống thực dụng, bao che
nhau khi bị phát hiện có hành vi tiêu cực, xả rác bừa bãi, viết vẽ bậy lên tường và
mặt bàn… Nguyên nhân các hiện tượng tiêu cực này chủ yếu là do sự thiếu ý thức
rèn luyện của học sinh, sự tác động của lối sống thực dụng từ xã hội, cũng có những
học sinh có đạo đức nhưng thiếu kỹ năng ứng xử…. Bên cạnh đó, số lượng học sinh
nhiều (1300 học sinh, 31 lớp) mà chỉ có 2 quản sinh hợp đồng (do không có biên
chế) nên việc phát hiện, uốn nắn các hiện tượng trên còn khó khăn, chưa triệt để, xử
lý chưa hiệu quả - vẫn có những trường hợp học sinh tái phạm nhiều lần; giáo viên
chủ nhiệm, giáo viên bộ môn thực hiện chưa đều tay, coi nhiệm vụ chuyên môn là
nhiệm vụ chủ yếu, việc giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh là việc của nhà trường,
gia đình hay xã hội; chưa có giáo viên chuyên trách các tiết hoạt động GDNGLL nên
8
nhiều tiết chưa đảm bảo chất lượng, chưa đạt mục tiêu giáo dục, chưa tác động thay
đổi hành vi của học sinh. Nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh chủ yếu
hiệu, tuyên truyền, chưa cụ thể hóa cách thực hiện, chưa có tiêu chí đánh giá
định lượng.
Nhiệm vụ dạy học nặng nề, áp lực thi cử cao, giáo viên và học sinh đều
căng thẳng, mệt mỏi chạy theo các chỉ tiêu, thành tích giáo dục.
Sự tác động của xã hội, có lối sống thực dụng, mạng thông tin trái chiều
khó chọn lọc vào một số dối tượng học sinh chưa có quan điểm sống rõ ràng,
chưa có kỹ năng sống dẫn đến thái độ thờ ơ, vô cảm, lối cư xử thiếu văn hóa,…
9
2.4. Kinh nghiệm xây dựng văn hóa ứng xử trong trường THPT
Nguyễn Trãi
Tôi là một giáo viên trẻ, một cựu học sinh của trường, sinh sống tại địa
bàn. Trong 8 năm công tác tại trường, ngoài nhiệm vụ chuyên môn, tôi còn được
phân công là Thư ký hội đồng, Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
phụ trách hoạt động ngoài giờ lên lớp nên tôi có điều kiện quan sát, nắm bắt tình
hình văn hóa ứng xử trong tâp thể sư phạm cũng như trong học sinh. Về phía
giáo viên, tôi thấy văn hóa ứng xử khá ổn nhưng không có nghĩa là không cần
điều chỉnh và tác động, ví dụ như hiện tượng giáo viên nói chuyện không hay về
giáo viên vắng mặt (nói xấu), tạo tin đồn hành lang về các chủ trương của nhà
trường, thông tin chủ quan, thiếu chính xác đến phụ huynh học sinh, gắt gỏng,
nóng giận, mất bình tĩnh với học sinh Về phía học sinh, đa số học sinh ngoan,
nhưng vẫn còn một số học sinh thường xuyên vi phạm nội quy nhà trường, có
biểu hiện hành vi trái đạo đức, môi trường học đường, một số học sinh thì lúng
túng trong việc ứng xử giữa các mối quan hệ,…
Với vai trò là Thư ký Hội đồng, Bí thư Đoàn trường, tôi đã tham gia việc
xây dựng quy chế ứng xử trong nhà trường, nội quy học sinh, góp phần xây
dựng các mối quan hệ tốt đẹp, thân thiện giữa thầy và thầy, thầy và trò, trò và
trò,… Mỗi buổi chào cờ vào thứ 2, tôi đều tích hợp giáo dục kỹ năng ứng xử cho
học sinh, tuyên dương những học sinh có hành vi ứng xử có văn hóa đẹp, nhắc
nhở, uốn nắn những hành vi chưa chuẩn mực cho học sinh. Ngay khi chứng kiến
hoặc nghe phản ánh về tình trạng học sinh vi phạm nội quy hoặc cư xử sai trái,
PHỐI HỢP
THỰC
HIỆN
ĐIỀU KIỆN
THỰC HIỆN
CÁCH THỨC,
BIỆN PHÁP
THỰC HIỆN
KHÓ KHĂN,
RỦI RO KHI
THỰC HIỆN
1 Xây dựng
chiến lược
nhà trường,
trong đó có
mục tiêu xây
dựng văn hóa
ứng xử
Xây dựng
được chiến
lược phát
triển của nhà
trường trong
thời kỳ mới –
xây dựng và
phát triển
trường “anh
hùng lao
động thời kỳ
đổi mới” thể
tương lai.
- Có ý tưởng.
- Thành lập Ban
chỉ đạo xây dựng
kế hoạch chiến
lược.
- Phân tích môi
trường, dự báo
tình hình
- Xác định định
hướng chiến lược
- Xác định mục
tiêu chiến lược
- Xác định các
giải pháp chiến
lược
- Xây dựng kế
hoạch hành động
- Hoàn thành bản
kế hoạch và phê
duyệt kế hoạch
chiến lược.
- Khó xác
định giá trị
riêng của nhà
trường.
- Chiến lược
chưa thể hiện
được tầm
nhìn, sứ
văn hóa ứng xử
của nhà trường
- Xác định các
mục tiêu, chỉ tiêu
cần đạt khi thực
hiện văn hóa ứng
xử
- Phân tích các
nguồn lực cần
huy động
- Dự thảo các tiêu
chí đánh giá việc
thực hiện văn hóa
- Kế hoạch
không khả thi.
- Không xác
định được chỉ
tiêu định
lượng (vấn đề
văn hóa khó
xác định định
lượng)
- Khó xây
dựng tiêu chí
đánh giá.
- Không huy
động được các
nguồn lực
19
4. Kết luận và kiến nghị
ích lâu dài và bền vững mà văn hóa ứng xử mang lại.
Học sinh THPT là đối tượng mà nhân cách, tính cách đã tương đối ổn định,
có cá tính mạnh mẽ, có nhu cầu được khẳng định rất cao. Vì vậy, cần có phương
pháp tác động phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi. Hiệu trưởng nên cử những giáo viên
20
phụ trách công tác xây dựng văn hóa ứng xử trong học sinh tham dự các lớp tập
huấn về tâm lý học đường, về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Hiệu trưởng chỉ đạo các thành viên của Ban giám hiệu bố trí lại phòng học,
thời khóa biểu hợp lý để có thể bố trí các tiết hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,
hướng nghiệp và các hoạt động ngoại khóa khác.
Bố trí các bảng, biểu ngữ về văn hóa ứng xử như: “Đi nhẹ, nói khẽ”, “Tắt
điện, quạt khi ra khỏi phòng”, “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa
lòng nhau”, “Hãy tạo một môi trường làm việc và học tập hạnh phúc hơn”….
Với việc tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các hoạt động xây dựng văn
hóa ứng xử trong trường THPT Nguyễn Trãi, tình hình văn hóa ứng xử trong nhà
trường bước đầu đã có những chuyển biến tích cực. Giáo viên, công nhân viên
giảm thiểu tình trạng lên lớp trễ, không đồng phục khi lên lớp, nói chuyện trong
giờ họp, cáu gắt, la mắng học sinh, sử dụng rượu bia trong giờ làm việc, hút thuốc
là trong trường… Học sinh biết chào hỏi cán bộ, giáo viên, công nhân viên, khách
ra vào trường một cách lễ phép; để xe đúng nơi quy định, bỏ rác vào thùng, cách
xưng hô phù hợp môi trường học đường,… Tuy nhiên, văn hóa ứng xử là vấn đề
phức tạp, không thể thấy ngay kết quả trước mắt, mà đó là quá trình lâu dài, từ từ.
Vì vậy, công tác xây dựng văn hóa ứng xử trong trường THPT Nguyễn Trãi cần
được tiếp tục, rút kinh nghiệm, bổ sung và thực hiện lâu dài, đồng bộ.
4.2. Kiến nghị
- Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo
Cần cải tiến chương trình khung giáo dục THPT, sách giáo khoa: giảm lý
thuyết hàn lâm, tăng tính ứng dụng, thực hành, tăng nội dung giáo dục đạo đức,
giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh.
Điều chỉnh phân phối chương trình cho Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
- Đoàn kết, nhiệt tình, tận tụy, trung thực, phát huy tính sáng tạo trong công tác.
- Giảng dạy phải có kế họach cụ thể, đúng phân phối chương trình, bám sát chuẩn
kiến thức kỹ năng và giảm tải. Từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiêm
túc thực hiện các quy chế chuyên môn.
- Soạn giáo án, chuẩn bị thiết bị dạy học theo quy định.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập phát huy
tinh thần sáng tạo của học sinh, thực hiện đúng quy chế chấm điểm và cho điểm.
- Đảm bảo các hồ sơ chuyên môn theo quy định.
- Tự bồi dưỡng và tham dự các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Tham dự hội giảng cấp trường và cấp tỉnh.
- Thực hiện quy chế kiểm tra, coi thi và chấm thi.
3 - Ứng xử với học sinh
- Thân ái, gần gũi, tôn trọng, nhẹ nhàng, nhã nhặn lắng nghe ý kiến của học sinh
biết chia sẻ và đồng cảm với học sinh.
- Không xúc phạm thân thể, danh dự, bình tĩnh xử lý các tình huống sư phạm trước
22
học sinh.
- Dạy nhiệt tình, tận tụy, thân thiện; hướng dẫn, giải thích cho học sinh tìm tòi học
hỏi trong quá trình học.
- Ngôn ngữ truyền cảm, sư phạm, rõ ràng, nhẹ nhàng.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập phát huy
tinh thần sáng tạo của học sinh, thực hiện đúng quy chế chấm điểm và cho điểm.
- Hỗ trợ, giúp đỡ học sinh yếu kém có cơ hội và hứng thú học tập của học sinh.
- Tích hợp môi trường và đạo đức trong quá trình giảng dạy, là “Tấm gương đạo
đức, tự học và sáng tạo” cho học sinh học tập và noi theo.
4 - Ứng xử với đồng nghiệp
- Tôn trọng, chân thành đóng góp xây dựng và bảo vệ uy tín đồng nghiệp.
- Hợp tác giúp đỡ cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ.
- Cảm thông, chia sẻ những khó khăn trong công việc cũng như trong cuộc sống.
- Luôn gìn giữ sự đoàn kết nội bộ và thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
- Biết tôn trọng, yêu quý lẫn nhau.
- Biết cảm thông và chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Biết nhận lỗi và sửa lỗi khi mình làm điều sai với bạn.
- Biết tha lỗi - vị tha khi bạn có lỗi với mình.
- Trong học tập biết giúp đỡ, hướng dẫn tận tình khi bạn hỏi và sẵn sàng giúp bạn
học yếu hơn mình; tích cực học bạn để cùng nhau tiến bộ.
5 - Ứng xử với trường lớp và nơi công cộng
- Trang phục giản dị, phù hợp với tâm sinh lý, lứa tuổi và đúng quy định của nhà trường.
- Giữ gìn và bảo vệ cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường.
- Chăm sóc, bảo vệ các loài cây trồng; luôn có ý thức góp phần làm môi trường
sống xanh, sạch, đẹp.
- Bỏ rác đúng nơi quy định, không viết, vẽ bậy lên mặt bàn, tường, cột,…
- Chấp hành đầy đủ yêu cầu của nội quy trường lớp và nơi công cộng./.
24
PHỤ LỤC 2
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP NHẰM GIÁO DỤC
VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
Chương trình « Mùa xuân san sẻ yêu thương »
25
Hành trình « Tôi tài giỏi, bạn cũng thế »
Ngày hội lồng đèn thắp sáng trái tim
26
Hội thi « Kể chuyện gương điển hình làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh »
27
Hội thi « Em yêu biển đảo »
Về nguồn « Thăm quan địa đạo Củ Chi »
28
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
Họ và tên tác giả: Trần Thị Vương Nhi Chức vụ: Bí thư Đoàn trường
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Trãi
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
- Phương pháp giáo dục
- Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng:
Tại đơn vị Trong Ngành
1.Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô dưới đây)
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn
- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng
đắn
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn
vị mình, nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
2.Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu
quả cao
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành
có hiệu quả cao
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu
quả
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn
vị mình, nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
3.Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong Tổ/Phòng/Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi