nghiên cứu đa dạng di truyền của tập đoàn lúa thơm miền bắc bằng chỉ thị ssr (simple sequence repeat) - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Khuất Hữu Trung đã tận tình
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong suốt thời gian
hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên Viện Di truyền Nông
nghiệp đã tạo điều kiện điều kiện tốt nhất, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS. Nguyễn Như Toản cùng quý thầy cô
giáo, gia đình, bạn bè đã luôn khích lệ tinh thần và giúp đỡ để tôi có điều
kiện tốt nhất trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Do thời gian và kiến thức có hạn nên khóa luận không tránh khỏi
những hạn chế và thiếu sót nhất định. Tôi xin cảm ơn và tiếp thu những ý
kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên.
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Bùi Thị Linh
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp đại học: “Nghiên cứu đa dạng di
truyền của tập đoàn lúa thơm miền Bắc bằng chỉ thị SSR’’ được hoàn thành
dưới sự hướng dẫn của TS. Khuất Hữu Trung và không trùng với bất kỳ khóa
luận nào khác. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung
thực, khách quan, theo sự nhận thức vấn đề của riêng tác giả. Nếu có gì sai sót
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận, tôi đã kế thừa những
thành tựu của các nhà khoa học với sự trân trọng và biết ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Sinh viên

Bảng 1.4: Diễn biến sản xuất lúa gạo trên thế giới trong những năm gần đây 13
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Namqua một
số năm 15
Bảng 2.6: Danh sách 17 giống lúa thu thập dùng trong nghiên cứu 28
Bảng 2.7: Thông tin về các cặp mồi trong nghiên cứu 29
Bảng 3.8: Bảng tần số ellele trên từng cặp mồi 35
Bảng 3.9: Số allele thể hiện và hệ số PIC của 31 cặp mồi SSR 40
Bảng 3.10: Tỷ lệ khuyết số liệu (M) và tỷ lệ dị hợp tử (H) của các
giống lúa chất lượng nghiên cứu 42
Bảng 3.11: Mối quan hệ di truyền giữa 50 giống lúa chất lượng 46
2. Danh mục các hình vẽ
Hình 1.1: Vi trí gen thơm trên nhiễm sắc thể số 8 24
Hình 3.2: DNA tổng số của 17 giống lúa nghiên cứu 34
Hình 3.3: Ảnh điện di sản phẩm PCR mồi RM245 41
Hình 3.4: Ảnh điện di sản phẩm PCR của các giống lúa nghiên cứu
với cặp mồi RM515 (205 - 231 bp) 43
Hình 3.5: Ảnh điện di sản phẩm PCR cặp mồi RM270 (104- 117 bp) 44
Hình 3.6: Sơ đồ hình cây về mối quan hệ di truyền giữa các giống lúa
Chất lượng nghiên cứu 45
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
2. Mục đích của đề tài: 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 3
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Nguồn gốc, phân loại cây lúa 4

Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lúa gạo là một trong những loại cây lương thực chủ yếu trên thế giới,
có vai trò rất quan trọng ở cả lĩnh vực kinh tế và vấn đề an ninh lương thực.
Lúa được trồng rộng khắp từ 10
o
Nam vĩ tuyến đến 53
o
Bắc vĩ tuyến. Diện
tích trồng lúa chiếm khoảng 1/10 diện tích các giống cây trồng trên thế giới,
khoảng 91% diện trích trồng lúa là ở Châu Á, 9% còn lại được phân bố ở
Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi. Với tính thích ứng rộng, cây lúa có mặt ở
khoảng 125 nước trên thế giới, cung cấp lương thực cho khoảng 2/3 dân số
trên thế giới và là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu của châu Á. Trên thế
giới có 15 nước trồng lúa với diện tích hơn hơn 1 triệu ha, trong đó có tới 13
nước ở Châu Á. Riêng Trung Quốc và Ấn Độ chiếm khoảng 50% diện tích
trồng lúa và 56% sản lượng lúa toàn cầu. Bangladesh, Indonexia, Thái Lan
mỗi nước đều có diện tích trồng lúa lớn hơn tổng diện tích trồng lúa của tất cả
các nước Mĩ La tinh.
Ở Việt Nam, lúa là một loại cây trồng quan trọng nhất, vừa là nguồn
lương thực chủ yếu vừa là nông sản có kim nghạch xuất khẩu lớn nhất hiện
nay. Từ năm 1989 trở lại đây, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia
xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Năm 2001 các nước xuất khẩu chính
(tính theo triệu tấn) bao gồm: Thái Lan (6,4); Việt Nam (4,0); Trung Quốc
(3,0); Mỹ( 2,8); (Nguồn USDA, 2001). Tuy sản xuất với số lượng nhiều
nhưng chất lượng và giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thường thấp hơn so với
một số nước như: Thái Lan; Mỹ… đặc biệt có sự chênh lệch lớn ở loại gạo
đặc sản và gạo cao cấp.

nhằm đánh giá, tuyển chọn các nguồn gen lúa có đặc tính quý về năng suất,
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
2
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
chất lượng, hương thơm phục vụ công tác chọn tạo các giống lúa có năng
suất, chất lượng cao.
2. Mục đích của đề tài:
Đánh giá mức độ đa dạng di truyền của tập đoàn giống lúa tám thơm
bản địa của Việt Nam ở mức phân tử và xác định mối quan hệ di truyền giữa
các nguồn gen, tuyển chọn các nguồn gen lúa có đặc tính quý về năng suất,
chất lượng và tính chống chịu phục vụ công tác chọn tạo các giống lúa thơm
phù hợp với điều kiện khí hậu miền Bắc.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đánh giá đa dạng di truyền của các nguồn gen lúa tám thơm tạo cơ sở
lý luận cho việc chọn lọc các nguồn gen lúa chất lượng ưu tú phục vụ nghiên
cứu lai tạo giống và định hướng cho công tác thu thập bảo tồn đa dạng nguồn
gen lúa chất lượng ở mức phân tử.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc xác
định các allele hiếm, allele đặc trưng để nhận dạng chính xác các nguồn gen
ưu tú góp phần vào công tác chọn tạo các giống lúa thơm có năng suất cao,
phẩm chất gạo tốt phục vụ cho sản xuất của miền Bắc.
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
3
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, phân loại cây lúa
1.1.1. Nguồn gốc
Tổ tiên cây lúa đã tồn tại từ đầu kỷ Phấn trắng. Vào giữa kỷ này, xuất

hiện 4.500 năm trước công nguyên ở châu Á.
Họ hàng với cây lúa trồng là các loài trong chi Oryza. Tateoka
(1963, 1964) phân biệt 22 loài, trong đó, cũng thống nhất 2 loài lúa trồng O.
sativa L. và O. glaberrima Steud. Tateoka xem dạng lúa Châu Phi (O.
perennis Moench) như là một loài riêng O. barthii A. Chev., và dạng lúa Châu
Á và Châu Mỹ thuộc về loài O. rufipogon Griff. Tateoka cũng bổ sung 2 loài
mới: O. longiglumis Jansen và O. angustifolia Hubbard (Bảng 1.1) [37,38].
Bảng 1.1. Các loài Oryza theo Takeoka (1963) với số nhiễm sắc thể,
kiểu gen và phân bố địa lý
Nhóm/loài 2n Kiểu gen Phân bố địa lý
Nhóm Oryzae
Sativa L. 24 AA Khắp thế giới, lúa trồng
Rufipogon Griff. 24 AA Châu Á, Châu Mỹ
Barthii A. Chev. 24 AA Châu Phi
Glaberrima Steud. 24 AA Châu Phi, lúa trồng
Breviligulata A. Chev. Et Roehr. 24 AA Châu Phi
Australiensis Domin 24 EE Châu Úc
Eichingeri A. Peter 24 CC Châu Phi
Punctata Kotschy 24, 48 BB, BBCC Châu Phi
Officinalis Wall. 24 CC Châu Á
Minuta J.S. Presl 48 BBCC Châu Á
Latifolia Desv. 48 CCDD Châu Mỹ
Alta Swallen 48 CCDD Châu Mỹ
Gradniglumis Prod. 48 CCDD Châu Mỹ
Nhóm Schlechterianae
Schlechteri Pilger New Guinea
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
5
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
Nhóm Granulatae

(divisio), lớp (classis), bộ (ordines), họ (familia), chi (genus), loài (species) và
biến chủng (varietas).
Để rõ thêm có thể sử dụng các đơn vị trung gian như họ phụ
(subfamilia), loài phụ (subspecies). Theo hệ thống phân loại này thì cây lúa
được sắp xếp theo trình tự sau đây:
Ngành - Divisio: Angiospermae - Thực vật có hoa
Lớp - Classis: Monocotyledones - Lớp một lá mầm
Bộ - Ordines: Poales (Graminales) - Hòa thảo có hoa
Họ - Familia: Poacae (Graminae) - Hòa thảo
Họ phụ - Subfamilia: Poidae - Hòa thảo ưa nước
Chi - Genus: Oryza - Lúa
Loài - Species: Oryza sativa - Lúa trồng
Loài phụ - Subspecies:
Subsp: japonica: Loài phụ Nhật Bản
Subsp: indica: Loài phụ Ấn Độ
Subsp: javanica: Loài phụ Java
Việc phân loại theo hệ thống phân loại học thực vật giúp ích lớn cho
việc hệ thống hóa một số lượng khổng lồ các dạng hình của cây lúa. Hệ thống
này giúp các nhà khoa học phân biệt lai gần hoặc lai xa.
* Phân loại theo cơ sở phân bố địa lý
Năm 1928 - 1930, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã phân loại lúa trồng
thành 2 nhóm “Indica” và “Japonica” dựa trên cơ sở phân bố địa lý, hình thái
cây và hạt, độ bất dục khi lai tạo và phản ứng huyết thanh (Serological
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
7
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
reaction). Các nhà nghiên cứu Nhật Bản sau đó đã thêm một nhóm thứ 3
“Javanica” để đặt tên cho giống lúa cổ truyền của Indonesia là “bulu” và
“gundil”. Tên gọi của 3 nhóm thể hiện nguồn gốc xuất phát của các giống lúa
từ 3 vùng địa lý khác nhau. Từ “Janvanica” có gốc từ chữ Java là tên của một

- Ít rụng hạt
Sinh học - Tính quang cảm
rất thay đổi
- Tính quang cảm rất
yếu
- Tính quang cảm rất
thay đổi
Nguồn: Chang, 1965.
* Phân loại theo nguồn gốc hình thành
Cơ sở chính để phân loại là nguồn gốc hình thành và phương pháp tạo
giống. Theo quan điểm này cây lúa có các quần thể sau:
+ Nhóm quần thể địa phương: Bao gồm các nhóm địa phương được
hình thành trong một khoảng thời gian rất dài ở từng địa phương khác nhau
như: giống lúa Tám Xoan, nếp Hoa Vàng, nếp Cẩm, nếp Tương… và rất
nhiều giống thu được ở vùng sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở
nước ta.
+ Nhóm quần thể lai: Được tạo ra bằng phương pháp lai trong các
chương trình chọn giống khác nhau. Đây là nhóm giống có nhiều tính trạng
tốt, phù hợp với yêu cầu của các chương trình tạo giống hiện đại và được sử
dụng rộng rãi ở tất cả các vùng trồng lúa.
+ Nhóm quần thể đột biến: Bao gồm các loại hình được tạo ra bằng
phương pháp đột biến (đột biến tự nhiên và đột biến nhân tạo). Đặc điểm nổi
bật của nhóm này là chứa các gen mới do quá trình đột biến gen tạo ra.
+ Nhóm quần thể tạo ra bằng công nghệ sinh học: Nhóm này gồm các
quần thể được chuyển gen, nuôi cấy bao phấn hoặc chọn dòng tế bào nhằm
đáp ứng các mục tiêu riêng rẽ của chương trình tạo giống.
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
9
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
+ Nhóm các dòng bất dục đực: Là một nhóm đặc biệt chứa kiểu gen

+ Tập đoàn giống chịu úng ngập: Tập hợp các giống có khả năng chịu
được ngập trong một thời gian dài hoặc các giống sinh trưởng nhanh, cây cao,
cứng, có khả năng chịu úng tốt.
+ Tập đoàn giống với thời gian sinh trưởng đặc thù: Người ta sắp xếp
các giống có cùng thời gian sinh trưởng vào một tập đoàn và phân thành các
tập đoàn đặc thù gồm: tập đoàn giống cực ngắn (thời gian sinh trưởng dưới 90
ngày), tập đoàn các giống ngắn ngày (thời gian sinh trưởng từ 91 - 115 ngày),
tập đoàn các giống có thời gian sinh trưởng trung bình (116 - 130 ngày), tập
đoàn các giống dài ngày (trên 131 ngày), tập đoàn giống phản ứng với ánh
sáng ngày ngắn gồm các giống chỉ trổ bông trong điều kiện ngày ngắn.
Tùy theo mục tiêu sử dụng mà có thể phân ra các tập đoàn đặc hiệu
khác nhau nhằm mục tiêu cung cấp đầy đủ nguồn vật liệu hữu ích cho
chọn tạo giống mới.
1.2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Do tính thích nghi cao, cộng với việc con người đã thành công trong
việc tạo môi trường sống nên cây lúa đã có thể trồng được ở nhiều địa phương
và các vùng khí hậu khác nhau. Hiện nay cây lúa được trồng ở 113 quốc gia
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
11
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
trên thế giới, phân bố chủ yếu ở từ 53
0
Bắc đến 10
0
Nam. Lúa trồng ở vùng
Tây Bắc Trung Quốc ở 53
0
Bắc, ở miền Trung Xumatra trên đường xích đạo
và cả New South Wales, châu Úc 35

DT
(triệu/ ha)
NS
(tạ/ ha)
SL
(triệu/tấn)
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
12
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
1 Châu Á 130,97 36,60 474,39 136,60 39,60 542,30
2 Châu Mỹ 7,80 33,90 26,48 7,10 44,60 31,70
3 Châu Phi 6,93 20,20 14,01 7,70 21,20 16,30
4 Châu Âu 1,04 55,90 2,26 0,56 55,40 3,10
5 Châu Úc 1,42 81,70 1,16 0,19 89,50 1,70
Thế giới 148,16 45,66 518,30 152,15 50,06 595,10
(Theo: Nguồn thống kê của FAO, 2001 )
Bảng 1.4: Diễn biến sản xuất lúa gạo trên thế giới trong những
năm gần đây
Năm
Diện tích
(triệu/ ha)
Năng suất
( tạ/ha)
Sản lượng
(triệu /tấn)
2005 153,5 40 614,0
2006 152,6 41 622,1
2007 153,0 41 622,2
2008 153,7 41 626,7
(Nguồn: FAO. Production year book 2009)

sản hoặc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị cao hơn; một bộ phận
khác chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, do vậy diện tích gieo cấy lúa
còn khoảng trên 7,3 triệu ha (giảm 336.825 ha), song nhờ năng suất lúa bình
quân tăng từ 28,1 tạ/ha lên 49 tạ/ha, do đó làm cho sản lượng lúa của Việt
Nam vẫn tăng bình quân mỗi năm khoảng 1,0 triệu tấn [6]. Đặc biệt từ năm
2008, trị giá tăng vọt gần 100% so với năm trước do giá gạo trên thị trường
tăng đột biến, đạt gần 2,7 tỷ USD, đưa năm 2008 trở thành năm đánh dấu mốc
kim ngạch xuất khẩu gạo vượt con số 2 tỷ USD. Đặc biệt, trong vòng ba năm
trở lại đây, xuất khẩu gạo đã liên tiếp lập kỷ lục về số lượng và trị giá. Năm
2009, xuất khẩu gạo đã tăng vọt lên mức hơn 6 triệu tấn. Đến năm 2010, xuất
khẩu gạo tiếp tục đạt mức kỷ lục mới về cả số lượng và trị giá với 6,75 triệu
tấn và thu được gần 3 tỷ USD.
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam
qua một số năm
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
14
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2000 7.666,3 42,432 32.529,5
2001 7.492,7 42,853 32.108,4
2002 7.504,3 45,803 34.447,2
2003 7.452,2 46,387 34.568,8
2004 7.443,8 48,212 35.887,8

Lúa thơm khu vực đồng bằng Bắc bộ chủ yếu tập trung ở 2 nhóm:
+ Nhóm lúa Tám: Nhóm này gồm nhiều giống lúa mùa chính vụ,
nhưng có một số giống lúa muộn như Tám Xoan, Tám Đen, Tám Đỏ. Trong
những năm 60 trở về trước, lúa Tám có diện tích khá lớn, nhất là các tỉnh
Trung du và đồng bằng Bắc bộ. Lúa Tám thường được trồng ở chân ruộng
nhiều màu, nhưng cũng có những giống thích hợp với ruộng xấu hơn. Năm
1964, lúa Tám chiếm 22% diện tích canh tác lúa ở Bắc bộ ( Bùi Huy Đáp,
1999) [5]. Bằng phương pháp phân tích isozyme, phân tích khoảng cách di
truyền, các giống lúa Thơm Việt Nam lần đầu tiên được xác định thuộc nhóm
Japonica ( Đỗ Khắc Thịnh, 2003) [13].
Các giống lúa Tám phần lớn là những giống hạt nhỏ dài, chiều dài của
hạt lúa thay đổi từ 7,6 mm đến 8,5 mm và chiều rộng của hạt từ 1,7 mm đến
2,7 mm. Tỷ lệ chiều dài/rộng là 3. Đặc biệt Tám Xoan có hạt rất dài, tỷ lệ
dài/rộng lên tới 4,5. Trong các giống lúa Tám qúy nhất là giống Tám Xoan và
Tám Thơm. Các loại Tám thường có hạt màu vàng tươi, thời gian sinh trưởng
trên dưới 150 ngày. Hai giống này có phẩm chất cao như: hạt nhỏ, gạo trong,
cơm mềm dẻo, có mùi thơm đậm, tuy nhiên hai giống này khó trồng do đòi hỏi
ruộng tốt nên diện tích gieo trồng tương đối hạn hẹp (Bùi Huy Đáp, 1999) [5].
+ Nhóm lúa Dự: Lúa Dự thường là những nhóm chính vụ hoặc hơi
sớm, thời gian sinh trưởng 130 đến 138 ngày. Giống thường được cấy ở chân
ruộng nhiều màu, lúa Dự khác hẳn lúa Tám ở màu sắc tai lá, bẹ lá và mỏ hạt.
Lúa Dự có hạt dài từ 7,9 mm đến 8,5 mm; chiều rộng hạt từ 2,4 mm đế 2,8
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
16
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
mm. Tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng là 3. Màu sắc hạt thay đổi từ vàng
rơm đến vàng sẫm. Gạo Dự là loại gạo qúy được nhiều người ưa chuộng.
Nhưng so với Tám thơm thì hạt gạo Dự thô hơn, kém trong, hạt có nhiều
nhựa, khó nấu và cơm ít thơm hơn.
* Nghiên cứu tính trạng mùi thơm

Chỉ thị phân tử dựa trên ADN là công cụ hiệu quả vượt xa chỉ thị hóa
sinh và hình thái trong việc đánh giá đa dạng di truyền. Lợi thế của các chỉ thị
phân tử dựa trên ADN là có thể xác định được những khác biệt nhỏ nhất ở
mức ADN, có khả năng tạo ra hàng chục, hàng trăm locus và trên mỗi locus
có thể phát hiện được nhiều allele cùng một lúc.
Nhờ có chỉ thị ADN, ngày nay việc đánh giá đa dạng di truyền lúa đã
trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn nhiều, tuy nhiên các kỹ thuật có liên quan
đến chỉ thị ADN đòi hỏi phải đầu tư lớn và tốn kém. Có rất nhiều chỉ thị ADN
đang được sử dụng và liên tục được phát triển.
1.4.2. Một số chỉ thị phân tử dựa trên phản ứng PCR
• Chỉ thị phân tử RAPD ( Random Amplified Plymorphic DNA)
RAPD (đa hình các đoạn khuếch đại ngẫu nhiên) là một trong những
phương pháp nghiên cứu đa hình dựa trên cơ sở của kỹ thuật PCR do
William(1990), Wesh và cs. Phát minh. Kỹ thuật này cho phép phát hiện đa
hình các đoạn ADN được nhân bội ngẫu nhiên bằng việc dùng một mồi đơn
chứa một trật tự nucleotide ngẫu nhiên dài 10 nucleotide. Các mồi đơn gắn
vào hai điểm khác nhau của hai mạch đơn đối diện của đoạn ADN khuôn.
Nếu các điểm gắn mồi nằm trong khoảng cách có thể nhân bội được (thường
từ 200 - 2000 nucleotitde) thì đoạn ADN đó được nhân lên. Ưu điểm chính
Khoa Sinh- KTNN Lớp K34A- Sinh
18
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Linh
của kỹ thuật này là không cần phải biết trình tự nucleotide ở ADN được nhân
bội, kỹ thuật tương đối đơn giản, nhanh và dễ thực hiện [41].
Chỉ thị RAPD thường được dùng để phân tích và xác định quan hệ di
truyền giữa các cá thể trong công tác lai tạo hay phân loại. Chúng cũng được
sử dụng để xác định các gen kiểm soát hoặc liên quan đến một tính trạng nào
đó của cây trồng. Tuy nhiên, kỹ thuật RAPD không ổn định khi tiến hành thí
nghiệm ở các điều kiện khác nhau.
Như vậy RAPD là phương pháp PCR sử dụng mồi ngẫu nhiên cho phép


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status