Tìm hiểu lịch sử việt nam dành cho hướng dẫn viên du lịch - Pdf 25

TÌM HIỂU LỊCH SỬ VIỆT NAM
DÀNH CHO HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH
1
Tìm hiểu lịch sử Việt Nam dành cho hướng dẫn viên du lịch
Thưa quý vị , Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có
hàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi nhà nước được hình thành thì mới
khoảng từ hơn bốn ngàn năm lịch sử. dân tộc việt nam chúng ta đã trãi qua những thời
kỳ từ dựng nước đến giử nước. thời kỳ hào hùng của các anh hung dân tộc, công lao
của các vị vua hùng, từ thời đại hồng bang, văn lang, từ triệu, đinh ,lý ,trần bao đời
gây nền độc lập cùng hán đường , tống , nguyên mổi bên hùng cứ một phương, tuy
mạnh yếu từng lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào củng có. hôm nay trên con
đường thiên lý nam bắc ,hướng dẩn viên xin được khái quát lịch sử các triều đại lịch
sử phong kiến việt nam nước ta. Để chúng ta xứng đáng với câu nói “ dân ta phải biết
sử ta, cho tròn gốc tích nước nhà việt nam” . để đưa quý vị di ngược trở về dòng chảy
của lịch sử văn hóa Việt Nam. Hôm nay hướng dẩn viên xin được mạn phép đưa quý
vị trở về những ngày tháng hào hùng ấy. để chúng ta có một cái nhìn tổng quát về lịch
sử hào hùng của một dân tộc, anh hùng buất khuất chống lại sự xâm lăng trước kẻ
thù kính thưa quý vị mở đầu bài nói hôm nay xin được trở về với một truyền thuyết
mà ông cha ta, đã xem truyền thuyết đó như một lời giãi thích về nguồn cội, thiêng
liêng và cao quý của dân tộc Việt Nam. Đó là nguồn cội gắn với truyền thuyết Lạc
Long Quân và Âu Cơ. Cha Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ một người là rồng, một người
là tiên đã kết hợp với nhau đẻ xinh ra một cái bọc một trăm trứng, và từ 100 trứng đó
nở ra 100 người con. Rồi sau đó 50 người con theo mẹ lên non, 50 người con theo cha
xuống đồng bằng. người con trai đầu được tôn lên làm vua cai trị vùng đất mà được
gọi là nhà nước đầu tiên, đầu tiên của dân tộc Việt Nam chúng ta đó là nhà nước Văn
Lang và theo nhiều tài liệu lịch sử thì nhà nước Văn Lang được thành lập vào năm
2879 tcn . đây là một mốc lịch sử mà còn rất nhiều người tranh cải . giống như là
truyền thuyết Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ vậy và chúng ta tạm chấp nhận mốc lịch
sử này đẻ chúng ta có một truyền thuyết đẻ giải thích về nguồn cội hào hùng của dân
tộc Việt Nam , là con rồng cháu tiên. Nhà nước Văn Lang, tồn tại và trải qua 18 đời
vua hùng, đến khoảng năm 257 tcn thì Thục Phán, thủ lĩnh của bộ tộc Âu Việt, là

chịu nhiều ảnh hưởng về tổ chức thể chế chính trị, xã hội, văn hóa của Trung Quốc,
nhưng người Việt Nam vẫn giữ được nhiều bản chất nền tảng văn hóa dân tộc vốn có
của mình sau một nghìn năm đô hộ nhưng đến năm 938 mốc son chói lọi của lịch sử
lại một lần nữa dược đưa lên tầm cao mới, bằng một trận đánh lịch sử Bạch Đằng do
một vị tướng tài người Việt , Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán để lập ra triều đại
nhà ngô. Nhà Ngô tồn tại vỏn vẹn trong 29 năm, truyền được ba đời vua, từ Ngô
Quyền, Ngô Sương Xí, Ngô Sương Nhậm. Năm 944, Ngô Quyền mất, em vợ
là Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô, xưng Dương Bình Vương. Các nơi không
chịu thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi lên cát cứ các vùng thường đem quân đánh lẫn
nhau. Quý tộc nhà Ngô, các tướng nhà Ngô cùng các thủ lĩnh địa phương đều nổi dậy
chiếm cứ một vùng. Bắt đầu từ đó hình thành thế mà sử sách gọi là loạn 12 sứ quân.
Từ 966 hình thành đầy đủ 12 sứ quân chiếm giữ các địa phương:
1. Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh Hóa)
2. Ngô Nhật Khánh tự xưng là Ngô Lãm Công, giữ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà
Nội)
3. Đỗ Cảnh Thạc tự xưng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Hà
Nội)
4. Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu (Hưng Yên)
5. Kiều Công Hãn tự xưng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu - Bạch Hạc (Việt Trì-
Lâm Thao, Phú Thọ)
6. Nguyễn Khoan tự xưng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh
Phúc)
7. Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà
Nội)
8. Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
9. Kiều Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê (Phú Thọ)
10. Lý Khuê tự xưng là Lý Lãng, giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh)
11. Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố (Thái Bình)
12. Lã Đường tự xưng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên)
Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968)

năm( 1004-1009) người ăn chơi vô độ làm cho đất nước ta suy kiệt và lúc này
triều thần đã tôn một người anh hùng của dân tộc một người con ưu tú Lý
Công Uẩn lên ngôi hoàng đế để viết nên một triều đại được xem là có công
phát triển rực rở đất nước ta triều đại nhà Lý. Và được phân biệt với triều đại
của nhà Lý Bôn( Lý Bí) trước nên người ta mới gọi triều đại này là hậu Lý năm
1009. Và triều đại nhà Lý đã phát triển rực rở đất nước ta qua một việc , mà
ngày nay chúng ta có một sự kiện trọng thể đó là 1000 năm Thăng Long Hà
Nội. đó là việc dời đô từ cố đô Hoa Lư về thành Đại La lúc bấy giờ và có tên là
Thăng Long. Thăng Long nghĩa là đất rồng bay lên, đất địa linh nhân kiệt và
đó là một quyết định hoàn toàn chính sác. Đây là một thời kỳ thịnh trị của đất
nước ta, vì đã lập ra nhiều triều chính, kỷ cương, văn hóa , như một nhà nước
thật sự. trong thời gian này chiến tranh củng thường xảy ra, nhà lý phải đánh
tống, đặc biệt nổi danh là lý thường kiệt, cầm quân phá tống bình chiêm, khiến
nhước nhà bền vững một thời gian.lý thường kiệt có một bài thơ rất nổi tiếng :
4
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Tạm dịch
Sông núi nước Nam Đế Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Bài thơ này có tác dụng khích lệ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt, tạo ra lòng tin
rằng họ đang được thần linh giúp đỡ, đồng thời làm hoang mang quân nhà Tống. Khi
quân nhà Tống đã lâm vào thế yếu Lý Thường Kiệt đã chủ động giảng hòa để quan hệ
Tống-Việt sau đó có thể trở lại bình thường.
Nhà Lý trị vị từ năm 1009 đến năm 1225, lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chính
quyền một cách lâu dài đến hơn hai trăm năm, khác với các vương triều cũ

trong 7 năm, và triều đại này không phải không có công đau quý vị kính thưa
quý vị triều đại nhà Hồ củng có công rất lớn , những cải cách trong triều đại
nhà Hồ rất thiết thực và đây là triều đại đầu tiên của đất nước ta có tiền giấy,
5
khi sua chúng ta chỉ có tiền đồng không có tiền giấy, và đến triều đại nhà hồ
chúng ta mới có tiền giấy. là một dân tộc luôn luôn bị đàn áp bởi giặc phương
bắc, một lần nữa đã phải hung chiệu một tai kiếp, 1407 nhà minh xâm lược đất
nước ta, đô hộ đất nước ta trong vòng hai mươi năm từ (1407-1427). Như đã
nói, mảnh đất này không thiếu những nhân kiệt, và trong thời loạn lạc đã có
những anh hùng đúng vào thời điểm này đất nước ta đã sinh ra một người con,
một người anh hùng vang danh lổi lạc, lê lợi người đã 10 năm chống giặc
Minh đến năm 1427 với sự góp sức của danh nhân văn hóa thế giới la nguyễn
trãi , quét sạch bọn giặc minh ra khỏi đất nước ta thành lập nên nhà hậu lê. Nhà
Hậu Lê bắt đầu từ năm 1428 , kéo dài đến tận năm 1788 là một trong những
triều đại cai trị đất nước ta lâu nhất trong các triều đại phong kiến lịch sử dân
tộc việt nam. Mặc dù trong tiều đại nhà Lê có những cuộc chính biến, có
những cược phân chia quyền lực , vidu: nam Bắc Triều, Trịnh Nguyễn phân
tranh kéo dài gần 200 năm ( 1627-1771). Bắt nguồn từ thời kỳ Nam-Bắc triều .
Sau khi vua Lê Túc Tông mất năm 1504, các vua kế vị đều là những hôn quân
hoặc yếu ớt. Đến năm 1527, quyền thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê
Cung Hoàng rồi sáng lập nhà Mạc. Chiến tranh Lê-Mạc (1533-1677) là cuộc
nội chiến giữa nhà Mạc và nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. đây là thời
kỳ Phù Lê Diệt Mạc.Nhà Lê trung hưng được tái lập vài năm sau đó với sự
giúp đỡ của Nguyễn Kim, một tướng cũ và giành được sự kiểm soát khu vực
từ Thanh Hóa vào Bình Định. Sau khi Nguyễn Kim chết, người con rể là Trịnh
Kiểm đã dành quyền bính, 60 năm kế tiếp Trịnh Kiểm và các con cháu của ông
đã giành được chiến thắng trước nhà Mạc vào năm 1592 và mở đầu cho thời kỳ
đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thời kỳ vua Lê chúa Trịnh
Sự mâu thuẫn giữa hai người cận thần của nhà Lê trung hưng là Trịnh Kiểm
và Nguyễn Hoàng đã bắt đầu cho sự phân chia đất nước ra thành hai lãnh thổ, hai

trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh trong nội chiến và chống ngoại xâm chưa
thất bại lần nào. Thành tựu của ông để lại có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử Việt Nam.
Ba anh em Tây Sơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ, được gọi là "Tây Sơn
tam kiệt".với tên gọi Anh em Tây Sơn . Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế,
đóng đô ở Quy Nhơn.
Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định.
Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ đèo Hải Vân trở ra
Bắc
, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổi tiếng lật đổ nhà Hậu Lê cùng với
hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía Bắc và Nguyễn ở phía Nam. Thêm vào đó,
Nguyễn Huệ còn là người đánh bại cuộc xâm lược nước Đại Việt ở phía Nam của
nước Xiêm La, và ở phía Bắc của nước Đại Thanh. Do có nhiều công lao với đất
nước, Quang Trung Hoàng đế được xem là anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.
Sau một thời gian dài chinh chiến và cai trị, Nhưng thật bất hạnh cho dân tộc Việt
Nam khi hoàng đế Quan Trung Nguyễn Huệ lâm bệnh và qua đời đột ngột ở tuổi 40
(1792). Cái chết của ông dẫn đến sự suy yếu nhanh chóng và sụp đổ của nhà Tây Sơn.
Những người kế thừa của Nguyễn Huệ không thể tiếp tục những kế hoạch ông đã đề
ra để cai trị Việt Nam và chống lại sự trỗi dậy mạnh mẽ của Nguyễn Ánh, người thừa
kế còn sót lại của các chúa Nguyễn. Nguyễn Ánh là dòng dỏi của 9 chúa triều Nguyễn
đã tiêu diệt triều đại Tây Sơn lập ra triều đại nhà nguyển 1802 và đặt lại quốc hiệu
Việt Nam năm 1804. 13 triêu vua gồm: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,
Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Hàm Nghi, Duy Tân , Khải Định, Bảo
Đại. đến ngày 30-8-1945 tại Ngọ Môn, Huế, hoàng đế Bảo Đại, đã trao lai ấn kiếm
cho Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kết thúc triều đại phong kiến Việt Nam. Đó là một
bài nói của hướng dẩn sẻ đưa quý vị đi với dòng chảy của lịch sử Việt Nam nước ta,
đẻ quý vị có một tự hào tự hào về dân tộc hiên ngang, buất khuất, bao lần bị áp bức
đô hộ nhưng không bao giờ chiệu khuất phục
7
CHUYÊN ĐỀ PHẬT GIÁO
KHÁI LƯỢC HỆ THỐNG PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM

con vật mà mình nghe tiếng kêu khóc khi chết, nhìn thấy cảnh giết chết con vật, hay tơ
tưởng về thịt động vật, ngoài ra cũng không ăn thịt những động vật ăn xác chết như
kên kên, quạ, linh cẩu. Mỗi ngày ăn một bữa chính duy nhất trước 12 giờ trưa.
Hệ phái này chỉ có Nam tu sĩ xuất gia mà không có nữ tu sĩ.
Chỉ thờ duy nhất đức Phật Thích Ca.
Trang phục màu vàng đậm, không mặc áo mà dùng y quấn, để trần một vai, khi đi
hành lễ trên Phật điện thì dùng tà áo phía sau che phần vai để trần lại.
Hệ phái này có 2 nhánh là Phật Giáo Nam Tông của người Việt và Phật Giáo Nam
Tông của người Khmer (thường được gọi là Phật Giáo Khmer), khi cạo đầu thì cạo
luôn cả chân mày.
Phật Giáo Nam Tông Khmer có 2 nhóm nhỏ là Mahanikay và Thommayut.
8
Mahanikay có nghĩa là phái lớn do các tầng lớp bình dân theo nhiều hơn, tu sĩ được
giữ tiền, khi đi hành khất thì lót vải dưới bình bát, đọc kinh ít ê a hơn Thomaut.
Thommayut (có nghĩa là làm đúng theo Phật pháp) do các tầng lớp quý tộc Khmer
thành lập, tu sĩ Thommayut không được giữ tiền, đi khất thực không lót vải dưới bình
bát và đọc kinh ê a hơn Mahanykay. Toàn Miền Nam có 18 chùa Thommayut ở An
Giang, còn lại là chùa Mahanikay.
Phật Giáo Khất Sĩ.
Phật Giáo Khất Sĩ do Tổ Sư Minh Đăng Quang quê ở Vĩnh Long sáng lập vào năm
1944 sau khi ông đi tu học ở Campuchia về.
Hệ phái này mang tôn chỉ “nối truyền thích ca chánh pháp”. Cơ sở tôn giáo không gọi
là chùa mà gọi là tịnh xá.
Kiến trúc tịnh xá có một đặc trưng là bửu điện mang biểu tượng hoa sen tám cánh và
hình tượng ngọn đèn chân lý.
Hệ phái này có cả nam và nữ tu sĩ, họ ăn chay như Phật Giáo Bắc Truyền nhưng chỉ
ăn một bữa trước 12 giờ như Phật Giáo Nam Truyền và ăn mặc cũng tương đối giống
Phật Giáo Nam Truyền.
Chánh điện cũng chỉ thờ Phật Thích Ca.
Phật Giáo Hoa Tông

gồm những bài thơ dạy đạo (chủ yếu theo thể thơ lục bát và song thất lục bát), không
thờ hình tượng mà thờ một tấm vải màu nâu đất nên được gọi là đạo thờ trần dà.
Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội.
Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội là một dòng tu theo Phật Giáo, hệ phái tịnh độ nhưng chủ
trương không tu xuất gia mà tu cư sĩ, do đó nên không có tăng, ni (tu sĩ xuất gia) mà
chỉ có tín đồ, tín đồ công cử ra người đại diện quản lý cơ sở thờ tự.
Phái này mặc áo dài đăn, huy hiểu hình chữ Hưng cách điệu tròn.
Điện thờ cũng gọi là chùa, tiếng Hán gọi là Tự, thờ tượng các Phật và Bồ Tát. Chùa
thường bắt đầu bằng chữ Hưng như Hưng Đức Tự, Hưng Sơn Tự, Hưng Long Tự…
Dòng tu này có một đặc trưng là làm thuốc nam từ thiện rất nhiều, mỗi một chùa là
một phòng khám chữa bệnh bằng thuốc nam.
Bốn tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hoà Hảo và Tịnh Độ
Cư Sĩ Phật Hội là bốn tôn giáo nội sinh dựa vào giáo lý Phật Giáo và do người Việt
thành lập, chỉ có Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm là dòng tu do người Hoa thành lập và dựa
vào giáo lý Phật Giáo mà thôi.
Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm.
Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm là một dòng tu Phật Giáo của người Hoa nhưng không nằm
trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đây là dòng tu cư sĩ, tức là tu tại gia. Tịnh xá thờ
Quán Thế Âm Bồ Tát.
Dòng tu này có ban hộ niệm dùng để tụng đọc kinh khi có người quá vãng theo nhu
cầu của những người theo Phật Giáo Hoa Tông qua đời. Dòng tu này có nhiều tính
chất của Shaman giáo.
CÁC TÔN GIÁO CHỊU ẢNH HƯỞNG BỞI GIÁO LÝ PHẬT GIÁO
Cao Đài.
Cao Đài là tôn giáo nội sinh, ra đời năm 1926 tại chùa Gò Kén, Tây Ninh, bởi một
nhóm những trí thức tiểu tư sản như Ngô Văn Chiêu (Ngô Minh Chiêu), Phạm Công
10
Tắc, Lê Văn Trung, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Cư…Tôn giáo này hiện nay có tất cả
11 hệ phái được nhà nước công nhận.
Đạo Cao Đài thờ chủ yếu là Ngọc Hoàng Thượng Đế thông qua hình tượng thiên nhãn

Minh Sư cũng giống như Minh Lý vì có cùng nguồn gốc phát triển là Tam Giáo Đồng
Nguyên, đối tượng thờ của Minh Sư cũng giống Minh Lý hoàn toàn, nhưng lại là hai
tổ chức tôn giáo độc lập. Minh Sư có nguồn gốc từ những người Hoa theo Tam Giáo
Đồng Nguyên ở Trung Quốc sang Việt Nam.
Cơ sở thờ tự của Minh Sư được gọi là Điện (nếu lớn) và Đường (nếu như nhỏ), hiện
nay Minh Sư đang thu hẹp lần, một số quy nhập vào Phật Giáo hoặc một số quy nhập
vào Minh Lý nhưng Minh Sư vẫn được nhà nước công nhận.
Chùa Phước Hải ở 73 Mai Thị Lựu, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh trước đây là của
Đạo Minh Sư và có tên là Ngọc Hoàng Điện, sau này được Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam quản lý và gọi là Phước Hải Tự nhưng không thay đổi đối tượng thờ cúng.
Hiện tượng Tam Giáo Đồng Nguyên:
11
Hiện tượng Tam Giáo Đồng Nguyên là một hiện tượng tổng hợp các hệ thống triết
học, các hệ thống giáo lý của 3 tôn giáo là Nho Giáo, Đạo Giáo và Phật Giáo lại với
nhau. Hiện tượng này khá phổ biến ở Việt Nam từ thời Lý Trần.
Theo đó, những ngôi chùa (Phật Giáo) vẫn sử dụng thuât bói toán (Nho Giáo) hay một
số nơi còn bào chết thuốc trường sinh (Đạo Giáo). Quá trình Tam Giáo Đồng Nguyên
đến ngày nay vẫn còn tồn tại, nhưng do Đạo Quán ở Việt Nam ngày nay không còn
nhiều và theo thói quen thì gọi là Chùa như chùa Quán Thánh như thật ra đó là Đạo
Quán của Đạo Giáo cho nên sự thể hiện Tam Giáo Đồng Nguyên của Đạo Giáo đối
với Phật Giáo hay Nho Giáo cũng khó có thể nhận biết được. Nho Giáo cũng vậy, cho
nên biểu hiện của hiện tượng Tam Giáo Đồng Quy ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được
thể hiện nhiều ở Phật Giáo dưới cấp độ tôn giáo.
Ví dụ: Có nhiều chùa thờ Ngọc Hoàng, mà Ngọc Hoàng là một vì thần của Đạo Giáo,
điều đó chứng tỏ sự tổ hợp của Đạo Giáo trong Phật Giáo, hay việc các nhà sư coi
ngày giờ, bói toán (bói toán ngày giờ có nguồn gốc từ bói cỏ thi, sau đó bói kinh dịch
của Nho giáo - từ bộ Kinh Dịch trong Ngũ Kinh, một hệ thống triết học trở thành công
cụ để bói toán) cũng chứng tỏ mượn Nho Giáo vào Phật Giáo, và đó là một phần của
Tam Giáo Đồng Nguyên, ngoài ra cũng có một vài tôn giáo dựa vào hiện tượng Tam
Giáo Đồng Nguyên như Cao Đài hay Minh Lý Đạo, Minh Sư…

Ba Xà Ba Đề chăm sóc cho thái tử. Thaí tử lớn lên trở thành một cậu trai thông minh,
xinh đẹp và nhân từ. Thái tử ngày càng trưởng thành, lòng nhân ái càng bộc lộ rõ,
song vua cha lại buồn rầu. Vua cha cùng các quan bàn với nhau là sẽ kén vợ cho thái
tử. Và người cuối cùng đựơc chọn chính là công chúa Da Du Đà La, con gái của vua
nước lân cận.
Thời gian trôi qua, Da Du Đà La đã hạ sinh một bé trai là La hầu La. Sống trong cung
điện lâu ngày Tất Đạt Đa muốn ra ngoài dạo chơi để xem cuộc sống bên ngoài như thế
nào. Qua những lần xuất cung, những cảnh tượng sanh, lão, bệnh, tử đã làm cho thái
tử suy nghĩ rất nhiều. Và trong một lần xuất cung sau đó, thái tử gặp một tu sĩ và từ
đây ngài càng muốn đi tìm con đường giải thoát mọi sự khổ đau cho con người.
Vào một buổi tối thái tử cùng với người hầu của mình là Xa Nặc và con ngựa Kiền
Trắc đã rời khỏi cung điện. Trước khi chia tay. Thái tử đã rút gươm cắt tóc trao lại cho
Xa Nặc với các đồ trang sức bảo đem về cho Da Du Đà La.
Thái tử tìm gặp những người tu hành lâu năm để học hỏi, nhưng những điều thu được
không làm ông thoả mãn. Ông rủ 5 người bạn đến vùng núi Tuyết Sơn tu khổ hạnh
suốt 6 năm ròng mà chẳng ích lợi gì. Thấy mình đã tu sai đường, ngài liền ăn uống
13
cho lại sức rồi tìm đến một gốc cây Pipal lớn, lấy cỏ làm nệm ngồi tập trung suy nghĩ.
Sau một thời gian (tương truyền là 49 ngày đêm) tư tưởng ngài liền đã trở nên sáng rõ,
ngài đã hiểu ra quy luật của cuộc đời, nỗi khổ của chúng sanh, thấy được điều mà bấy
lâu tìm kiếm.
Ngài liền đi tìm 5 người bạn đã cùng tu khổ hạnh trứơc đây để giác ngộ cho họ, rồi
cùng với họ trong súôt 40 năm còn lại đi khắp vùng lưu vực sông Hằng để truyền bá
những tư tưởng của mình, ngài đựơc gọi là Buddha ( nghĩa là Bậc giác ngộ, phiên âm
tiếng Việt là Bụt, Phật ). Cây Pipal nơi ngài đã ngồi tu luyện, được gọi là cây Bodhi
(Bồ Đề) và trở thành biểu tượng cho sự giác ngộ.
Sau khi truyền xong đạo Phật cho chúng sinh, Đức Phật nhập cõi Niết Bàn. Tương
truyền năm 544 trứơc công nguyên, thọ 80 tuổi. Khi biết mình bệnh nặng, Đức Phật
đã truyền cho đệ tử trải y cho Ngài nằm trên Thạch bàn giữa hai hàng cây Long Thọ.
Ngài chậm rãi giảng giải những trang kinh Phật cuối cùng cho các vị Tùy khưu rồi từ

14
Diệt đế là chân lý về cảnh giới diệt khổ. Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân
gây ra khổ bị loại trừ. Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (Nirvana, nghĩa đen là “
không ham muốn, dập tắt ”). Đó là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát.
Đạo đế là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ. Con đường diệt khổ, giải thoát và giác
ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), tư tưởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ). Ba
môn học này được cụ thể hoá trong khái niệm bát chánh đạo (tám nẻo đường chân
chính). Đó là : chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm, chánh định, chánh
kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn.
Thứ tự của các hạng người trong xã hội Ấn Độ
1. Bà-la-môn (Brahman) gồm những Giáo-sĩ, những người giữ quyền thống-trị
tinh-thần, phụ-trách về lễ-nghi, cúng bái. Họ tự nhận mình là hạng cao-thượng,
sinh từ lỗ miệng Phạm Thiên(Brahma) thay Phạm-Thiên cầm cương lãnh đạo
tinh-thần dân-tộc, nên có quyền ưu-tiên được tôn-kính, và an-hưởng cuộc đời
sung-sướng nhất.
2. Sát-đế-ly là hàng vua chúa quý-phái, tự cho mình sinh từ cánh tay Phạm-Thiên,
thay mặt cho Phạm-Thiên nắm giữ quyền-hành thống-trị dân-chúng.
3. Vệ-Xa là nhữnh hàng thương-gia chủ-điền, tin mình sinh ra từ bắp vế Phạm-
Thiên, có nhiệm-vụ đảm-đương về kinh-tế trong nước (mua bán, trồng-trọt, thu
huê-lợi cho quốc-gia ).
4. Thu-Đà-La là hàng Hà-tiện, nô-lệ tinh mình sinh từ gót chân Phạm-Thiên, nên
thủ-phận làm khổ-sai suốt đời cho các giai-cấp trên.
5. Ba-ri-a giống người cùng khổ, bị coi như sống ngoài lề xã-hội loài người, bị
các giai-cấp trên đối-xử như thú-vật, vô cùng khổ nhục, tối tăm.
1.2 Phân loại:
Ở Việt Nam Có các tông phái Phật giáo: Thiền tông, Tịnh Độ Tông và Mật
Tông, khất sỉ,
1.2.1 Thiền Tông:
Là tông phái Phật giáo do nhà sư An độ Bồ Đề Đạt Ma sáng lập ra ở Trung
quốc vào đầu thế kỷ VI. “Thiền” (rút gọn của Thiền – na, phiên âm Hán Việt nghĩa là

Hệ phái Khất sĩ do tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập từ năm 1944. hiện nay, hệ
phái có hơn 2000 tăng ni xuất gia tu học tại 400 ngôi tịnh xá, tịnh thất ở các tỉnh miền
Trung và miền Nam. Ngôi chùa của hệ phái được tổ sư Minh Đăng Quang gọi là tịnh
xá, tức là nơi trú xứ an tịnh, trong sạch.
Danh hiệu của ngôi tịnh xá đều có chữ ngọc đứng trước. Y của vị tổ sư muốn
khuyên dạy đệ tử luôn tinh tấn tu học để có được phẩm chất quý như ngọc, hiển lộ
được ngọc trong tâm mình.
Ngày thống nhất giáo hội phật giáo ở viêt nam?
Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo lớn nhất và là đại diện cho Phật giáo
tại Việt Nam. Giáo hội được thành lập vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 tại tùng
lâm Quán Sứ, Hà Nội, trên cơ sở hợp nhất tất cả tổ chức Phật giáo trong nước.
Những người lãnh đạo?
Hiện nay chức danh Pháp chủ dùng để gọi người lãnh đạo cao nhất của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam. Pháp chủ là người đứng đầu Hội đồng Chứng minh, thay mặt Hội
16
đồng Chứng minh ban hành các Giáo chỉ, các văn bản quan trọng nhất, đại diện cho
Giáo hội trong các hoạt động đối ngoại.
Ngôi vị Pháp chủ chỉ do Đại hội Phật giáo toàn quốc suy cử một vị Hòa thượng, và tại
vị đến suốt đời. Trên thực tế, ngôi vị này chỉ có vai trò đại diện chứ không trực tiếp
tham gia điều hành, và không có thực quyền quyết định.
Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có ba vị Pháp
chủ
 Đức Đệ nhất Pháp chủ: Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1981 - 1993)
 Đức Đệ nhị Pháp chủ: Hòa thượng Thích Tâm Tịch (1993 - 2005)
 Đức Đệ tam Pháp chủ: Hòa thượng Thích Phổ Tuệ (2007 đến nay)
1.4 Kiến Trúc Ngôi Chùa Việt Nam Ngày Nay
Ơ miền Bắc : thường gặp kiểu chữ Đinh, Công, Tam, Nội Công Ngoại Quốc
Ơ miền Trung : đặc biệt là ở Huế, chùa thường được xây dựng kiểu chữ Môn,
chữ Khẩu.
Ơ miền Nam : chùa Tứ trụ, chữ Nhị, chữ Tam

2. A-nan-đà
3. Thương-na-hòa-tu
4. Ưu-bà-cúc-đa
5. Đề-đa-ca
6. Di-già-ca
7. Bà-tu-mật
8. Phù-đà-nan-đề
9. Phù-đà-mật-đa
10. Bà-lật-thấp-bà
11. Phú-na-dạ-xa
12. A-na-bồ-đề hoặc Mã Minh
13. Ca-tì-ma-la
14. Long Thụ
15. Ka-na-đề-bà
16. La-hầu-la-đa
17. Tăng-già-nan-đề
18. Tăng-già-xá-đa
19. Cưu-ma-la-đa
20. Xà-dạ-đa
21. Thế Thân
22. Ma-noa-la
23. Cưu-lặc-na
24. Sư Tử Bồ-đề
25. Bà-xá-tư-đa
26. Bất-như-mật-đa
27. Bát-nhã-đa-la
28. Bồ-đề-đạt-ma
Đầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề-đạt-ma sang
Trung Quốc và được xem là Sơ tổ của
Thiền tông tại đây.Sáu vị Tổ Thiền tông

12. Đến tuổi
trưởng thành
Ngài từ giã quê hương phụ mẫu,
lên đường tìm sư học đạo. Trên
bước đường vân du, Ngài gặp vị
Tỳ-kheo A Thị Thuyết, là một
trong năm vị Tỳ-kheo đầu tiên
quy y Phật, dạy cho bài kệ:
13. Các pháp do nhân
duyên sanh.
14.
15. Các pháp do nhân
duyên diệt.
16. Ngài ngộ được bài kệ và cùng
người bạn chí thân đó là Mục
Kiền Liên quy y theo Phật từ đó.
17. Xá Lợi Phất là người có công
lớn trong việc truyền bá Đạo Phật
từ phường nam về phương bắc.
18. 2. Tôn giả Mục Kiền Liên -
Thần thông bậc nhất
19. Mục Kiền Liên là tiếng Phạn,
Trung Hoa dịch là “phục lai căn,”
19
còn dịch là “thái thúc thị”. Tên
của Tôn giả là “Câu Luật Đà”,
vốn là tên của một loại cây. Sự
chào đời của Tôn giả cũng có một
nhân duyên như Tôn giả Đại Ca
Diếp vậy Tôn giả Đại Ca Diếp là

chịu khổ nơi địa ngục, cơm cũng
không có mà ăn; thế là Tôn giả
liền đi xin một bát cơm để mang
đến cho mẹ.
21.
Vào đến địa ngục, Tôn giả dâng
bát cơm cho mẹ. Bà mẹ của Tôn
giả lúc còn sanh tiền vì tâm tham
quá nặng nề, cho nên dù bị đọa
làm ngạ quỷ nhưng vẫn không dứt
bỏ được tâm tham. Bà một tay đỡ
lấy bát, dùng vạt áo của tay kia
che lại, rồi vội vàng chạy đến chỗ
không có các ngạ quỷ, đem bát
cơm ra len lén ăn một mình. Vì
sao bà phải che bát cơm lại? Vì bà
sợ các ngạ quỷ khác đến giành
giật, nào ngờ cơm vừa đưa đến
miệng thì liền hóa thành lửa. Đây
là lý do gì? Đây là vì nghiệp
chướng của bà quá nặng nề,
nghiệp tội quá sâu dày, cho nên dù
là thức ăn có ngon đến mấy, bà
cũng không thể ăn được!
22.
Tôn giả Mục Liên tuy là thần
thông đệ nhất, nhưng bây giờ thì
hết cách, không còn chú để niệm,
không thể thi triển thần thông,
không còn cách nào khác— đành

những thức ăn này thì ông cũng
chưa được dùng. Ông trước hết là
phải cúng Phật, Pháp và Tăng, sau
đó mới có thể thọ dụng những
phẩm vật dâng cúng. Vào ngày
này, ông thiết trai cúng dường
Tam bảo thì mẹ của ông sẽ lìa khổ
được vui!”
24.
Thế là Tôn giả Mục Kiền Liên y
theo phương cách này, thiết bày
pháp hội Vu lan, lễ cúng Vu lan
bồn. Cho nên mỗi năm đến ngày
này, các chùa đều tổ chức pháp
hội Vu lan bồn, siêu độ cho cha
mẹ trong bảy đời quá khứ và cha
mẹ hiện đời. Có người hỏi rằng:
“Cha mẹ của tôi hiện còn tại thế,
vậy tôi nên làm gì?” Cha mẹ hiện
đời vẫn còn sống thì hãy siêu độ
cho cha mẹ trong bảy đời đã qua;
siêu độ cho cha mẹ trong quá khứ
thì cha mẹ hiện đời cũng sẽ được
tăng thêm phước báu, kéo dài tuổi
thọ.
25.
26. 3. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp -
Hạnh Đầu đà bậc nhất
27. Tôn giả Đại Ca Diếp là con của
nhà hào phú trưởng giả dòng Bà-

hạnh ly dục hoàn toàn của đạo
Phật. Vì là vị Tổ đầu tiên được
đức Phật truyền y bát, nối truyền
giáo pháp, nên cũng gọi Ngài là vị
Tổ-sư Thiền tông thứ nhất.
30. 4. Tôn giả Tu Bồ Đề - Giải
không đệ nhất
31. Tu Bồ Đề là vị đệ tử Giải
Không Đệ Nhất (am hiểu tính
không) của Phật Thích Ca. Ngay
vừa chào đời, tất cả tài bảo, dụng
cụ trong nhà Tôn giả bỗng nhiên
biến mất, không thấy một cái nào.
21
Người trong nhà đều lo sợ, vội
mời thầy xem tướng đến bói một
quẻ.
Tướng
sư gieo
quẻ rồi
nói:
32.
- Đây là
một hỷ
sự,
trong
nhà sanh quý tử. Tiền bạc, bảo vật
trong nhà đều trống rỗng ngay khi
cậu bé chào đời đó là người Giải
không đệ nhất. Chúng ta nên đặt

Tôn trong suốt hơn 25 năm cuối,
luôn tận tụy trong việc chăm sóc
đức Phật; ghi nhớ tất cả những gì
mà đức Phật dạy bảo; luôn đem
đến niềm an lạc cho mọi người,
như chính ý nghĩa của tên Ngài
Ananda: an lành và hạnh phúc.
37.
A Nan sinh
trưởng trong
một gia đình
truyền thống
Kshatriya
(chiến sĩ giai
cấp nắm quyền
hành thống trị
đất nước Ấn
Ðộ thời bấy
giờ), con của vua Amitodana. Vua
Amitodana là em ruột của vua
Suddhodana (Tịnh Phạn Vương -
phụ thân của đức Phật). Trong
quan hệ dòng họ, A Nan là em chú
bác ruột với đức Phật. Ngày đức
Phật trở về Ca Tỳ La Vệ
(Kapilavastu) để thăm vua cha và
thân quyến lần đầu tiên sau khi
thành đạo, trong số vương tôn
công tử ra nghinh đón Ngài có
chàng trai trẻ thuộc dòng họ vua

40. 6. Tôn giả Ca Chiên Diên - Nghị
luận đệ nhất
41. Tôn giả Ca Chiên Diên vốn tên
gọi là Na-la-đà, con thứ hai của
quốc sư Ca Chiên Diên. Ca Chiên
Diên là họ, về sau Tôn giả nổi
tiếng nên mọi người dùng họ để
thay tên gọi. Tôn giả Ca Chiên
Diên rất giỏi biện luận, không kể
người đó là Bà-la-môn quyền uy
đến đâu, khi gặp mặt, Tôn giả chỉ
dùng vài lời ngắn gọn đều khiến
kẻ vấn nạn phải
vui vẻ khâm
phục.
42.
43.
44.
45. 7. Tôn giả Phú Lâu Na - Thuyết
pháp đệ nhất
23
46. Tôn giả Phú Lâu Na vốn được
gọi là "Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử".
Phú Lâu Na chỉ là tiếng gọi tắt.
Danh hiệu Ngài dài như thế chính
là biểu hiện cho Tôn giả khi
thuyết pháp cũng trường mãn vô
cùng. Danh xưng của Ngài được
dịch sang tiếng
Trung Hoa là

không được
hưởng quyền lợi về học vấn.
Người của dòng Thủ Đà La mà
muốn học tập pháp điển Mã Nổ
của Bà-la-môn là một vọng tưởng
hão huyền. Đến tuổi trưởng thành,
Tôn giả được xuất gia theo Phật.
Mùa hạ trong năm Ưu Ba Ly xuất
gia, đang khi chúng Tăng cử hành
lễ an cư, Ưu Ba Ly đã tinh tấn tu
đạo và khai ngộ. Do đó, Tôn giả
đã thành một bậc thượng thủ
trong Tăng đoàn, được sự cung
kính của hai chúng tại gia, xuất
gia. Việc ấy cũng làm nhiều người
kinh ngạc. Một người thuộc dòng
Thủ Đà La thấp hèn mà căn cơ
mẫn tuệ đến như vậy, đó không
những làm rạng rỡ cho dòng Thủ
Đà La, mà cũng làm vẻ vang cho
tinh thần bình đẳng của Phật
Giáo.
57. Là vị giữ giới đệ nhất, Tôn giả
luôn luôn quan tâm đến các vấn
đề pháp chế, nhưng quan trọng
nhất vẫn là vấn đề phá tăng và hòa
tăng.
58. 10. Tôn giả La Hầu La - Mật
hạnh đệ nhất
59. Đức Phật khi còn là Thái tử của

châu báu mà chúng ta chưa được
thấy." Không bao lầu sau, La Hầu
La được xuất gia theo Phật và trở
thành vị Sa Di đầu tiên trong Tăng
đoàn, dưới sự dìu dắt trực tiếp của
Tôn giả Xá Lợi Phất.
62. Tôn giả La Hầu La được gọi là
mật hạnh, nghĩa là trong ba ngàn
oai nghi, tám muôn tế hạnh, La-
hầu-la đều biết hết, đều có thể làm
hết. Nghĩ đến hồi ban đầu, La-
hầu-la theo Phật xin gia tài, đến
khi Tôn giả chứng ngộ là đã được
đức Phật trao cho pháp tài vô tận.
Nghĩ đến thuở còn Sadi nhỏ tuổi
gia nhập Tăng đoàn, đã làm bận
lòng đức Phật không biết bao
nhiêu, hiện tại Tôn giả đã xa lìa
mọi dục lạc thế gian, đạt được
niềm vui chơn chánh của pháp
mầu. Thật là vinh hạnh cho Tôn
giả.
63.
64. Cổng tam quan mang ý niệm "ba
cách nhìn" của phật giáo gồm có
"hữu quan", "không quan" và
"trung quan. Giải thích thứ hai là
tam quan là cửa của tam bảo
Thuyết khác thì cho rằng tam
quan là "tam giải thoát môn" của

Trích đoạn TỨ NGUYỆT TAM VƯƠNG SƠNG AN CỰU, NẮNG ĐỤC MƯA TRONG KINH THÀNH HUẾ CHÙA THIÊN MỤ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status