BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HỒ THỊ BẢO HOÀNG
PHÂN TÍCH SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC THUỘC TÍNH
ĐỊA PHƢƠNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP
TẠI TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
Khánh Hòa, năm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích sự ảnh hưởng của các thuộc tính địa
phương đến sự hài lòng của doanh nghiệp tại tỉnh Phú Yên” là kết quả của quá trình
học tập, nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn này được thu thập từ thực tế, có nguồn gốc rõ ràng,
đáng tin cậy, được xử lý trung thực, khách quan. Kết quả nghiên cứu được trình
bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được
trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây. Nha Trang, ngày 28 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn Hồ Thị Bảo Hoàng
ii LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Kim Long đã có rất nhiều đóng
góp ý kiến, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực
hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Đào tạo sau đại học - Trường Đại
1.1.3 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: 7
1.1.4 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): 8
1.1.5 Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và marketing địa phương: 10
1.2 Thuộc tính địa phương và sự hài lòng của doanh nghiệp: 12
1.2.1 Thuộc tính địa phương: 12
1.2.2 Sự hài lòng của doanh nghiệp: 14
1.2.3 Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp: 17
1.3 Tổng quan nghiên cứu liên quan: 19
1.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thiết: 22
1.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất: 22
1.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu: 23
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Quy trình thực hiện: 24
2.2 Nghiên cứu định tính: 25
2.3 Nghiên cứu định lượng: 31
2.3.1 Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu: 31
iv
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu: 31
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Giới thiệu tổng quan về Phú Yên: 35
3.2 Thống kê mô tả mẫu: 37
3.3 Làm sạch và xử lý dữ liệu: 38
3.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo: 39
3.4.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo nhóm thuộc tính cơ sở hạ tầng: 39
3.4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo nhóm thuộc tính chế độ chính sách và dịch vụ
kinh doanh: 40
3.4.3 Đánh giá độ tin cậy thang đo nhóm thuộc tính môi trường sống và kinh
doanh: 41
3.4.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo nhóm thuộc tính mức độ hài lòng của doanh
vi
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNNNg : Doanh nghiệp nước ngoài
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
EFA : Exploratory Factor Anylis (Phân tích nhân tố khám phá)
KCN : Khu công nghiệp.
NLCT : Năng lực cạnh tranh
PCI : Provincial Competitiveness Index (Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh)
UBND : Ủy ban nhân dân
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần 10
Bảng 1.2: Yếu tố hấp dẫn cứng và mềm 11
Bảng 2.1: Thang đo Cơ sở hạ tầng 28
Bảng 2.2: Thang đo Chế độ chính sách và dịch vụ kinh doanh 28
Bảng 2.3: Thang đo Môi trường sống và kinh doanh 29
Bảng 2.4: Thang đo Sự hài lòng của doanh nghiệp 30
Bảng 3.1: Vốn đầu tư của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2000 – 2012. 36
Bảng 3.2: Xếp hạng năng lực cạnh tranh của một số tỉnh vùng Nam Trung Bộ 36
Bảng 3.3: Thống kê mẫu theo ngành nghề và loại hình doanh nghiệp 37
Bảng 3.4: Thống kê mẫu theo Nguồn vốn kinh doanh 37
Bảng 3.5: Thống kê mẫu theo Số lượng lao động 38
Bảng 3.6: Thống kê mẫu theo Thời gian kinh doanh 38
Bảng 3.35: Kết quả kiểm định Kruskal – Wallis với Nguồn vốn kinh doanh 65
Bảng 3.36: Kết quả kiểm định Kruskal – Wallis với Số lượng lao động 65
Bảng 3.37: Kết quả kiểm định Kruskal – Wallis với Số lượng lao động 66
Bảng 3.38: Sự hài lòng về Hệ thống hải quan, thuế và ngân hàng. 59
Bảng 3.39: Sự hài lòng về Chất lượng lao động. 61
Bảng 3.40: Sự hài lòng về Hỗ trợ chính quyền và thủ tục cấp phép đầu tư 62
ix DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 23
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu 25
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau phân tích nhân tố EFA 52
Hình 3.2: Biểu đồ Scatterplot 56
Hình 3.3: Biểu đồ tần số Histogram 56
Hình 3.4: Biểu đồ P – P plot 57
Hình 3.5: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau phân tích hồi quy 58
1 PHẦN MỞ ĐẦU
Phần mở đầu nhằm mục đích giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên
cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của
nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu.
1. Sự cần thiết của đề tài:
Kể từ khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại Thế giới WTO, số lượng
doanh nghiệp không ngừng tăng lên. Trong giai đoạn 2011 – 2013, cả nước có thêm
224.200 doanh nghiệp thành lập mới, chiếm gần 41% tổng số doanh nghiệp được
và điều hành kinh tế. Qua đó có thể thấy, đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp luôn
nhận được sự quan tâm và là động lực để các địa phương cải thiện và nâng cao hơn
nữa năng lực cạnh tranh của địa phương mình.
Tại Phú Yên hiện nay có hơn 1600 doanh nghiệp, trong đó chiếm đa phần là
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp Phú Yên vào
sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, theo đánh giá
nghiên cứu về chỉ số PCI, Phú Yên được các doanh nghiệp đánh giá thấp về năng lực
cạnh tranh và cũng là địa phương có mức thu hút đầu tư thấp so với nhiều địa phương
khác trong nước. Theo báo cáo nghiên cứu của VCCI thực hiện khảo sát các doanh
nghiệp cho thấy, chỉ số PCI của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2010 – 2013 có chiều hướng đi
xuống và xếp hạng thấp. Cụ thể năm 2011, Phú Yên xếp hạng 50/63, thuộc nhóm xếp
hạng khá, năm 2012 xếp hạng 52/63, thuộc nhóm xếp hạng khá và năm 2013 xếp hạng
51/63, thuộc nhóm xếp hạng tương đối thấp.
Đến năm 2012, Phú Yên có 258 dự án đang triển khai đầu tư; trong đó vốn đầu tư
trong nước có 223 dự án với số tiền đăng ký đầu tư gần 51.000 tỉ đồng và 35 dự án có
vốn đầu tư nước ngoài hơn 8 tỉ USD. Tuy nhiên, số dự án đã đầu tư và đi vào hoạt
động mới 111 dự án; trong đó đầu tư nước ngoài có 25 dự án. Hàng loạt dự án lớn
không triển khai được như dự án thành phố sáng tạo Nam Tuy Hòa, dự án lọc – hóa
dầu Vũng Rô từng đưa Phú Yên xếp thứ nhì cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài.
Đến năm 2013, Phú Yên có 42 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký
6,405 tỷ USD, đã có 26 dự án đã đi vào hoạt động với vốn đầu tư chỉ ở mức 436,6
triệu USD, điều này cho thấy một kết quả chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh.
Để thu hút đầu tư và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Phú Yên, chính
quyền tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện chương trình hành động của UBND tỉnh về
cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh của
tỉnh, xây dựng, thực hiện 3 chương trình trọng điểm về đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng, cải cách hành chính và đào tạo nguồn nhân lực. Tuy nhiên, những cam kết về
chính sách, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh mà chính quyền tỉnh Phú Yên đưa
3
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với các
thuộc tính địa phương của tỉnh Phú Yên.
4
- Xác định mức độ quan trọng của từng nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của
doanh nghiệp đối với các thuộc tính địa phương của tỉnh Phú Yên.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: là sự hài lòng của các doanh nghiệp đang đầu tư kinh
doanh tại Phú Yên.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Phú Yên. Thời gian
thực hiện nghiên cứu từ tháng 07 đến tháng 11 năm 2013.
4. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu:
a. Ý nghĩa khoa học:
Đề tài góp phần bổ sung thêm cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và
sự hài lòng của doanh nghiệp đối với các thuộc tính của một địa phương.
b. Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở những lý thuyết về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và sự hài lòng của
doanh nghiệp đối với các thuộc tính của một địa phương, cụ thể tại địa phương, người
nghiên cứu xác định được mô hình nghiên cứu đo lường sự hài lòng của doanh nghiệp
tại Phú Yên, từ đó làm căn cứ khoa học cho những chính sách của chính quyền địa
phương nhằm nâng cao hơn nữa sự hài lòng của doanh nghiệp tại Phú Yên nói riêng và
các địa phương khác ở Việt Nam nói chung. Ngoài ra, đề tài có thể làm tài liệu tham
khảo hữu ích cho các nghiên cứu liên quan.
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài mục lục, danh mục bảng, danh mục hình, danh mục sơ đồ, tài liệu tham
khảo, luận văn được kết cấu gồm phần mở đầu, kết luận và 3 chương chính. Nội
dung cụ thể trong từng chương như sau
Phần mở đầu: Giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng
và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu và
kết cấu của đề tài nghiên cứu.
Theo K.Marx, cạnh tranh là “sự ganh đua đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu
được lợi nhuận siêu ngạch”. [14]
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus cho rằng cạnh tranh
(Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành
khách hàng hoặc thị trường. [14]
Michael Porter cũng có nhiều nghiên cứu về cạnh tranh ở nhiều cấp độ từ cạnh
tranh doanh nghiệp, ngành cho đến cạnh tranh quốc gia. Theo ông, cạnh tranh được
xác định là nguồn gốc của tiến bộ kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào và là nền tảng cho
những công dân có năng suất cao và đời sống dư dả. [8]
Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong từ điển Hán việt giải thích: "Cạnh tranh là ganh
đua hơn thua". [14]
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu cạnh tranh xảy ra với các điều kiện sau:
Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh, đó là các chủ thể có cùng các
mục đích, mục tiêu; Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh
tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân
thủ.
1.1.2 Năng lực cạnh tranh:
Liên quan đến quá trình cạnh tranh, các nhà hoạch định chính sách, chính phủ
quốc gia, các doanh nhân và cả các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến yếu tố năng lực
cạnh tranh (NLCT). Từ khái niệm cạnh tranh có thể hiểu rộng ra NLCT là sự thể hiện
7
thực lực và lợi thế của doanh nghiệp, địa phương hay một quốc gia so với đối thủ cạnh
tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày
càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm
tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu
được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị
trường. Như vậy, để cạnh tranh thành công, các quốc gia, địa phương, hay DN phải
xác định rõ trong môi trường cạnh tranh xác định thì đâu là những yếu tố cấu thành
có sự hạn chế về các nguồn lực của địa phương (tài nguyên, đất đai,…).
Cạnh tranh giữa các tỉnh trong một quốc gia có mức độ mềm dẻo và linh hoạt
hơn so với cạnh tranh giữa các quốc gia với nhau. Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh
nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương đó sẵn
có hoặc tự tạo ra như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú hoặc chất lượng
con người, cơ sở hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư, đan xen với sự ganh đua có tính
chất hợp tác, liên kết cùng phát triển dựa trên lợi thế có sẵn của nhau. Vì thế, việc liên
kết hợp tác giữa các địa phương nhằm xoá bỏ giới hạn địa giới hành chính và phân
chia các nguồn lực nhằm bổ sung và hỗ trợ cho nhau để tăng cường năng lực cạnh
tranh của các tỉnh trở nên rất quan trọng.
Thực chất năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng các tỉnh ganh đua nhằm thu
hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối
quan
hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia.
Như vậy, vai trò của
chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư nhằm phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Vai trò ấy được xác định trên các mặt sau: (1) Định
hướng phát triển thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, chính sách
phát triển kinh tế; (2) Tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các DN hoạt động và
cạnh tranh lành mạnh; (3) Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng
thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính công; (4) Kiểm tra giám sát các hoạt
động kinh tế theo pháp luật, chính sách đã đề ra [10].
Để cạnh tranh thành công, các địa phương phải xác định rõ trong môi trường
cạnh tranh xác định thì đâu là những yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh; và để
cạnh tranh thành công, thì các năng lực cốt lõi chúng ta đã, đang có và cần xây dựng là
gì. Thực sự, nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất (hay nguồn lực mềm) đều rất
quan trọng trong việc hình thành và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Các địa
phương sẽ có cách nhìn nhận và cách làm khác nhau trong việc tạo dựng năng lực
cạnh tranh cho địa phương mình, tùy theo cách nhìn nhận của chính quyền địa phương
đó về các nguồn lực trên.
động, (9) Thiết chế pháp lý. Chỉ số này được xây dựng dựa trên 3 bước: (1) thu thập
dữ liệu bằng phiếu điều tra doanh nghiệp và dữ liệu từ các nguồn khác, (2) tính toán 9
chỉ số thành phần và chuẩn hóa theo thang điểm 10, (3) tính trọng số cho chỉ số PCI
trung bình của 9 chỉ số thành phần trên thang điểm 100, những trọng số này được làm
tròn tới 5% gần nhất để phân thành ba loại cơ bản được nêu trong bảng 1.1.
10
Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần
Chỉ số
Trọng số
thực tế (%)
Trọng số
làm tròn (%)
Loại
trọng số
1
Gia nhập thị trường
9,61
10
Trung bình
2
Tiếp cận đất đai
2,37
5
Thấp
3
Tính minh bạch
19,77
20
Cao
Nguồn: Báo cáo Nghiên Cứu Chính Sách-VCCI, [10].
Mỗi chỉ số thành phần PCI được tính toán trọng số tương ứng với mức độ đóng
góp thực sự của từng chỉ số đối với việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Từ năm
2009 về sau VCCI sử dụng phương pháp tính trọng số mới bằng cách cũng chọn ra ba
biến kết quả quan trọng thể hiện sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp
tư nhân trên 1000 dân, mức đầu tư trên đầu người, lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp).
Các biến số này được hồi quy theo từng chỉ số thành phần, trong đó loại trừ tác động
của các nhân tố cấu trúc (mật độ dân số, diện tích, khoảng cách từ Hà Nội hoặc TP. Hồ
Chí Minh theo km), cơ sở hạ tầng (đo bằng tỉ lệ đường được rải nhựa trong tỉnh) và sử
dụng thêm các biến giả cho 7 vùng ở Việt Nam để tính ra trọng số cho mỗi chỉ số
thành phần. Chỉ số Tính minh bạch và Đào tạo lao động được VCCI đánh giá với
trọng số cao, nghĩa là hai chỉ số này có tầm quan trọng lớn nhất để tạo thành năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh.
1.1.5 Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và marketing địa phƣơng:
Theo Philip Kotler, Marketing địa phương là một kế hoạch tổng hợp đồng bộ giới
thiệu về một địa phương với những đặc điểm nổi bật, các ưu thế hiện có và viễn cảnh
phát triển lâu dài của địa phương đó nhằm thu hút các nhà đầu tư, kinh doanh, những
người du lịch, những cư dân đến địa phương đó tìm cơ hội đầu tư kinh doanh hay thỏa
mãn các nhu cần tiêu dùng của mình, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của
địa phương.
Marketing địa phương khác marketing sản phẩm ở chỗ địa phương được tiếp thị
thông qua hình ảnh từ các phương tiện thông tin, truyền thông, giao tiếp truyền khẩu
của con người và qua các sản phẩm, hàng hóa của địa phương đó; tổ chức các hoạt
11
động tại địa phương nhằm lôi kéo các khách hàng đến với địa phương đó; bằng sự kiện
lịch sử, con người hay sự kiện thời sự của quá khứ, hiện tại, hay tương lai mà thu hút
sự quan tâm đến địa phương mình.
Marketing địa phương liên quan đến ba nhóm chính gồm:
- Nhóm hoạch định bao gồm các nhà marketing địa phương.
+ Kế hoạch và chương trình khuyến
khích.
+ Phát triển chuyên biệt
+ Chất lượng cuộc sống
+ Năng lực của lực lượng lao động và
chuyên môn.
+ Văn hóa
+ Quan hệ giữa con người
+ Phong cách quản trị
+ Sự năng động và linh động
+ Tính chuyên nghiệp khi tiếp xúc với thị
trường.
+ Tinh thần sáng tạo trong kinh doanh
Nguồn: Philip Kotler et al - Chương trình giảng dạy Fullbright, xem [2]
Như vậy, có thể thấy marketing địa phương là các chương trình hoạt động do
chính quyền địa phương thực hiện nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh tỉnh để thu hút
đầu tư nhằm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó. Dựa trên các năng lực cạnh
tranh cốt lõi của địa phương mình mà chính quyền địa phương có các chiến lược
marketing phù hợp.
1.2 Thuộc tính địa phƣơng và sự hài lòng của doanh nghiệp:
1.2.1 Thuộc tính địa phƣơng:
Các doanh nghiệp ngày càng chuyên nghiệp hơn trong việc tìm kiếm và lựa chọn
địa phương thích hợp cho việc đầu tư, kinh doanh của họ. Điều họ quan tâm ở một địa
phương là thị trường lao động, so sánh điều kiện và chi phí hoạt động, so sánh thuế,
nghiên cứu bất động sản, đánh giá các hình thức khuyến khích, đàm phán và quản lý
dự án tái lập địa điểm kinh doanh.
Một địa phương có thể duy trì và tăng cường nền tảng kinh tế bằng bốn cách.
Trước hết, địa phương đó phải duy trì những hoạt động kinh doanh hiện tại hay ít nhất
là hoạt động kinh doanh mong muốn. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn
hiện nay khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp rời bỏ hay đe dọa rời bỏ địa phương
doanh của mình tại một địa phương [6].
Dựa theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang
(2005), các thuộc tính địa phương cơ bản có thể được phân loại theo ba nhóm như sau:
- Nhóm thuộc tính cơ sở hạ tầng: duy trì và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
tương thích với môi trường thiên nhiên (điện, cấp thoát nước, giao thông vận tải, thông
tin liên lạc, đền bù và giải phóng mặt bằng).
14
- Nhóm thuộc tính chế độ chính sách và dịch vụ kinh doanh: cung cấp các dịch
vụ có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng doanh nghiệp (dịch vụ hành
chính pháp lý, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế và hải
quan, hỗ trợ của chính quyền địa phương.
- Nhóm thuộc tính môi trường sống và kinh doanh: tạo ra môi trường làm việc có
chất lượng cao (chất lượng lao động, nguồn cung lao động, hệ thống vui chơi giải trí,
chi phí sinh hoạt).
1.2.2 Sự hài lòng của doanh nghiệp:
1.2.2.1 Doanh nghiệp:
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một
doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một
giá trị nhất định.
Luật doanh nghiệp Việt Nam định nghĩa doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư
cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế
theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong
phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các
loại luật và chính sách thực thi.
M.Francois Peroux cho rằng doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại
đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác
nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản
phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản
phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.