1. !"#$%&#$'()*'+(%,!-.!*.',)*'+(/
// 0 %1!2*!-.!#$'()*'+(
• Bảo hộ lao động là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề hệ thống các văn bản pháp
luật, các biện pháp về tổ chức kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ để cải tiến
điều kiện lao động nhằm:
+ Bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người trong lao động.
+ Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
+ Bảo vệ môi trường lao động nói riêng và môi trường sinh thái nói chung.
+ Góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.
- Nói 1 cách ngắn gọn hơn: Bảo hộ lao động là hệ thống các giải pháp về pháp luật, khoa
học kỹ thuật, kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của con người trong quá
trình lao động sản xuất.
- Từ khái niệm trên có thể thấy rõ tính pháp lý, tính khoa học, tính quần chúng của công tác
bảo hộ lao động luôn gắn bó mật thiết với nhau và nội dung của công tác bảo hộ lao động
nhất thiết phải thể hiện đầy đủ các tính chất trên.
%1
Bảo hộ lao động gồm có bốn phần : Pháp luật bảo hộ lao động ; Vệ sinh lao động,
Kỹ thuật an toàn và Kỹ thuật phòng chống cháy.
− Pháp luật bảo hộ lao động là một phần của Bộ luật lao động bao gồm những qui
định về các chế độ chính sách bảo vệ con người con người trong lao động sản xuất như:
thời gian làm việc và nghỉ ngơi, bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho người lao động, chế độ
đối với lao động nữ, tiêu chuẩn quy phạm về kỹ thuật an toàn lao động và vệ sinh lao
động…
− Vệ sinh lao động là phần nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường và điều kiện lao
động sản xuất đến sức khoẻ con người, đề xuất và thực hiện các biện pháp cải thiện điều
kiện làm việc bảo vệ sức khoẻ người lao động, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp,.
− Kỹ thuật an toàn là phần nghiên cứu, phân tích nguyên nhân tai nạn lao động, đề
xuất và áp dụng các biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn lao động.
− Kỹ thuật phòng chống cháy là phần nghiên cứu phân tích các nguyên nhân phát sinh
Tính pháp luật. Tất cả những chế độ, chính sách, quy phạm, tiêu chuẩn của Nhà
nước về bảo hộ lao động đã ban hành đều mang tính pháp luật. Pháp luật về bảo hộ lao
động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất, nó là cơ sở pháp
lý bắt buộc cá tổ chức Nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế và mọi người tham
gia lao động phải co trách nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện.
Tính khoa học kỹ thuật. Mọi hoạt động trong công tác bảo hộ lao động từ điều tra,
khảo sát điều kiện lao động, phân tích đánh giá các yếu tố nguy hiểm, độc hại và ảnh
hưởng của chúng đến an toàn và vệ sinh lao động cho đến việc đề xuất và thực hiện các giải
pháp phòng ngừa, xử lý khắc phục đều phải vận dụng các kiến thức về lý thuyết và thực
tiễn trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật chuyên ngành hoặc tổng hợp nhiều chuyên ngành.
Ví dụ : muốn chống tiếng ồn phải có kiến thức về âm học ; muốn nghiên cứu các biện pháp
an toàn khi sử dung cần trục phải am hiểu về cơ học, sức bền vật liệu ; muốn cải thiện điều
kiện lao động nặng nhọc và vệ sinh trong một số ngành nghề phải giải quyết nhiều vấn đề
tổng hợp phức tạp liên quan đến kiến thức khoa học nhiều lĩnh vực : thông gió, chiếu sáng,
cơ khí hoá, tâm sinh lý lao động…
Tính quần chúng. tính quần chúng thể hiện trên hai mặt : một là bảo hộ lao động có
liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Họ là những người vận hành, sử dụng các
dụng cụ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu nên phát hiện được những thiếu sót trong công
tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp ngăn ngừa, góp ý xây dựng hoàn
thiện các tiêu chuẩn quy phạm và vệ sinh lao động.
Mặt khác, dù cho các chế độ chính sách, tiêu chuẩn quy phạm về bảo hộ lao động có
đầy đủ và hoàn chỉnh đến đâu, nhưng mọi người (lãnh đạo, quản lý, người sử dụng lao
động và người lao động) chưa thấy rõ lợi ích thiết thực, chưa tự giác chấp hành thì công tác
bảo hộ lao động cũng không thể đạt được kết quả mong muốn
3/9:;<<:=*.*>)*'+-/
2.1. %&?<.5!+&9)*'+(/
&9)*'+(
Trong quá trình lao động dể tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, con
người phải làm việc trong những điều kiện nhất định, gọi là điều kiện lao động. Điều kiện
lao động nói chung bao gồm và được đánh giá trên hai mặt : một là quá trình lao động và
mài, cưa dĩa; gãy thang, cột chống, lan can, san dàn giáo…
- Thiếu các thiết bị an toàn như : thiết bị khống chế quá tải, khống chế chiều cao
nâng tải, khống chế góc nâng cần của cần trục; van an toàn trong thiết bị chịu áp lực; cầu
chì role tự ngắt trong thiết bị điện; thiết bị che chắn các bộ phận truyền động như đai
chuyền, cưa đĩa, đá mài…
- Thiếu các thiết bị phòng ngừa : áp kế ; hệ thống tínhiệu, báo hiệu…
* Vi phạm qui trình, quy phạm kỹ thuật an toàn
Vi phạm trình tự tháo dỡ cột chống ván khuôn các kết cấu bêtông cốt thép
- Đào hố hào sâu, khai thác vỉa mỏ theo kiểu hàm ếch.
- Làm việc trên cao nơi chênh vênh nguy hiểm không đeo dây an toàn.
- Sử dụng phương tiện vận chuyển vật liệu để chở người.
- Sử dụng thiết bị điện không đúng điện áp làm việc ở môi trường nguy hiểm về điện
v.v
* Thao tác làm việc không đúng (vi phạm quy tắc an toàn)
- Hãm phanh đột ngột khi nâng hạ vật cẩu ; vừa quay tay cần vừa nâng hạ vật cẩu
khi vận hành cần trục.
- Điều chỉnh kết cấu lắp ghép khi đã tháo móc cẩu
- Dùng que sắt để cậy nắp thùng xăng hoặc moi nhồi thuốc nổ trong lỗ khoan mìn.
- Lấy tay làm cữ khi cưa cắt.
2.2.2. Nguyên nhân tổ chức là nguyên nhân liên quan đến những thiếu sót về mặt tổ chức
thực hiện.
* Bố trí mặt bằng, không gian sản xuất không hợp lý
- Diện tích làm việc chật hẹp, cản trở cho thao tác, hoạt động, đi lại.
- Bố trí máy móc, thíêt bị, dụng cụ, nguyên vật liệu sai nguyên tắc.
- Bố trí đường đi lại, giao thông vận chuyển không hợp lý, ví dụ nhiều chỗ giao cắt
nhau.
* Tuyển dụng, sử dụng công nhân không đáp ứng với yêu cầu
- Về tuổi tác, sức khỏe, ngành nghề và trình dộ chuyên môn.
- Chưa được huấn luyện và kiểm tra về an toàn lao động.
* Thiếu kiểm tra giám sát thường xuyên để phát hiện và xử lý vi phạm về an toàn lao
* Vi phạm kỷ luật lao động, nội quy an toàn và những điều nghiêm cấm
- Đùa nghịch trong khi làm việc.
- Xâm phạm các vùng nguy hiểm.
- Hành vi vi phạm những công việc, máy móc thiết bị ngoài nhiệm vụ của mình.
- Không sử dụng hoặc sử dụng không đúng các phương tiện bảo vệ cá nhân.
Tóm lại khi tiến hành phân tích nguyên nhân tai nạn lao động có thể căn cứ vào sự
phân loại các nguyên nhân nêu trên để xác định. Thường thường một vụ tai nạn xảy ra có
thể do nhiều nguyên nhân dẫn tới, nên cần đi sâu phân tích để xác định được nguyên nhân
nào là chủ yếu, trực tiếp gây ra, trên cơ sở này mới có thể đề ra được các biện pháp chính
xác, cụ thể nhằm ngăn chặn, loại trừ nguyên nhân để hạn chế tai nạn.
3/@ABCD4E/
3//!:F9.G9:H <:!I.J".='K$L9I.
- Các bộ phận và cơ cấu máy công cụ: các bộ phận, cơ cấu chuyển động (quay, hay
tịnh tiến), các trục truyền động, khớp nối, đồ gá,
- Các mảnh vỡ, mảnh văng của các dụng cụ, vật liệu gia công: mảnh dụng cụ cắt gọt,
mảnh đá mài, phôi liệu, chi tiết,
- Điện giật. Phụ thuộc các yếu tố như cường độ, điện áp, đường đi của dòng điện qua
cơ thể người, thời gian tác động, đặc điểm sinh lý cơ thể người,
- Các yếu tố nhiệt. Kim loại nóng chảy, vật liệu được gia nhiệt, thiết bị nung, khí
nóng, hơi nước nóng, có thể gây bỏng, cháy rộp da,
- Các chất độc công nghiệp.
- Các chất lỏng hoạt tính. Các axit và chất kiềm ăn mòn,
- Bụi công nghiệp. Có thể gây cháy nổ, gây ẩm ngắn mạch điện, gây tổn thương cơ
học, bệnh nghề nghiệp,
- Những yếu tố nguy hiểm khác: làm việc trên cao không đeo dây an toàn, vật rơi từ
trên cao xuống, trơn trượt vấp ngã,
3/3/9:;<<:=*.*>.='LJM!"5/
9:;<N.9O.
- Máy móc trang thiết bị sản xuất, công nghệ sản xuất có chứa đựng những yếu tố
nguy hiểm (tạo các khu vực nguy hiểm, tồn tại bụi khí độc, hỗn hợp nổ, tiếng ồn, rung
T*!-9(
Hiện nay gia công nguội được tiến hành chủ yếu là thủ công, chỉ một phần gia công
trên các máy tự động và bán tự động.
Những nguyên nhân chủ yếu có thể gây ra tai nạn trong gia công nguội:
- Các dụng cụ cầm tay (như cưa sắt, dũa, đục, ) dễ gây va đập vào người lao động.
- Các máy đơn giản (máy ép cỡ nhỏ, máy khoan bàn, đá mài máy, ) có kết cấu
không đảm bảo bền, thiếu đồng bộ, thiếu các cơ cấu an toàn,
- Do người lao động dùng ẩu các dụng cụ cầm tay đã hư như búa long cán, chìa vặn
không đúng cỡ, miệng chìa vặn đã bị biến dạng không còn song song nhau,
- Gá kẹp chi tiết trên bàn cặp (êtô) không cẩn thận, không đúng kỹ thuật, bố trí bàn
nguội không đúng kỹ thuật, giữa hai bàn cặp đối diện không có lưới bảo vệ.
- Đá mài được gá lắp vào máy không cân, không có kính chắn bảo vệ, hoặc tư thế
đứng mài chi tiết không né tránh được phương quay của đá mài, mài các vật có khối lượng
lớn lại tỳ mạnh,
- Việc gò tôn mỏng đi kèm các động tác cắt. dập trước khi đem gò tai nạn lao động
thường xảy ra dưới dạng chân tay bị cứa đứt. Khi thao tác các máy đột, dập, nếu vô ý có
thể bị dập tay hoặc đứt vài ngón tay hoặc bị nghiền cả bàn tay, có thể bị suy nhược thể lực,
giảm khả năng nghe, đau đầu, choáng,
- Tư thế đứng cưa, dũa, đục, trong khi làm nguội nói chung không đúng cách dẫn
tới bệnh vẹo cột sống.
T*!-!U.V.
Trong các máy gia công cắt gọt thì máy tiện chiếm tỷlệ cao (40%), được sử dụng
khá phổ biến.
- Máy vận hành tốc độ cao, phoi ra nhiều và liên tục, quấn thành dây dài và văng ra
chung quanh. Phoi nhiệt độ cao, phoi vụn có thểbắn vào người đứng đối diện gây tai nạn.
- Khi vận hành các máy chuyển động quay, các cơ cấu truyền động như bánh răng,
dây curoa, các nữcông nhân phải cuộn tóc gọn hoặc cắt tóc ngắn để khỏi bị cuốn vào
máy.
- Khi khoan có thể bị trượt, mũi khoan lắp không chặt có thể bịvăng ra, bàn gá kẹp
không chặt có thể làm rơi vật gia công, gây tai nạn.
lửa trên các dây dẫn, van khí, dễ gây cháy, sinh ra nổ bình hoặc sinh hoả
hoạn.
XZ[\*!-?)]!
Vật rèn trong gia công ở nhiệt độ cao (có thể trên 1000).
o Tai nạn có thể xảy ra do nhiệt độ cao, do dụng cụ và phôi rèn, các vảy sắt
nóng, , bắn vào.
o Khi kết thúc gia công, vật rèn vẫn còn nóng khoảng 700, vô ý sờ tay, chạm
vào có thể bị bỏng.
o Dụng cụ rèn (búa, kìm, ) không đảm bảo, như cán búa tra không chặt có thể
văng ra khi quai búa, kìm lấy vật rèn ra khỏi lò kẹp không chắc hay giữ
không chặt, làm rơi vật nóng, có thể gây tai nạn.
X-.)9:
o Dễ bị bỏng do tiếp xúc với vật đang ở nhiệt độ cao.
o Dễbị nhiễm độc do môi trường nhiệt luyện: xyanua natri NaCN,
xyanuakali KCN, các chất thường dùng khi thấm carbon và nitơ.
X- >+
Trong mạ điện dùng các chất điện phân, môi trường hoá chất có nhiều chất độc hại
như oxyt crôm (CrO3), xút (NaOH), axit, ; phân xưởng có nhiều trang bị điện (thiết bị
nguồn, bể điện phân, )
o Ảnh hưởng cùa các dung dịch điện phân có thể gây bỏng da, huỷ hoại da,
o Môi trường không khí bị nhiễm những chất hơi độc hai.
o Cần chú ý an toàn điện khi khai thác sử dụng các trang bị điện phân có dòng lớn.
^/_
^//`9.%&'*V!)*'+(
Ta7*
- ILO: “Ecgônômi là sự áp dụng khoa học sinh học người kết hợp với khoa học công
nghệ vào người và môi trường của họ để có được sự thoả mãn tối đa cho người lao động
đồng thời tăng năng suất lao động”.
- Kỹ thuật học các yếu tố con người.
- Thích hợp với công việc con người.
Môi trường lao động là tối ưu hóa các tác động tương hỗ:
- Tác động tương hỗ giữa người điều khiển và thiết bị, máy móc.
- Tác động tương hỗ giữa người điều khiển và chỗ làm việc.
- Tác động tương hỗ giữa người điều khiển và môi trường lao động.
^/e/!:F9.G+.;9!9f%&'*V!)*'+(
- An toàn vận hành.
- Tư thế và không gian làm việc hợp lý.
- Các điều kiện nhìn rõ ban ngày và ban đêm.
- Chịu đựng về thể lực.
- Đảm bảo vệ sinh, an toàn khi chịu các yếu tố có hại.
- Những yêu cầu về thẩm mỹ.
- Những yêu cầu về an toàn và vệ sinh lao động
^/g/4(.KGh$%&'*V!)*'+(/
class="bi x0 y64 w2 h7"
,eijkDl
/.',LJM/
//41!+5!0%,?J"??!2*%!KU?LF?m1!10?1.n0%O..J09:;%O.)90
,'0+o!#.),9:;%O.)9mp!:0P.
* Khoảng cách an toàn là khoảng không gian tối thiểu giữa người lao động và máy ,
thiết bị ( hoặc giữa máy , thiết bị này với máy , thiết bị khác ) để không bị tác động xấu của
các yếu tố nguy hiểm ,có hại .
Tùy theo quá trình công nghệ , đặc điểm của từng loại thiết bị mà xác định các khoảng cách
an toàn khác nhau . Việc xác định khoảng cách an toàn cần xác định cụ thể dựa theo nguyên
tắc chung về khoảng cách an toàn trong các tiêu chuẩn : TCVN 7014-2002 , TCVN 6721-
2000 , TCVN 6720200… dưới đây là 1 số quy định về khoảng cách an toàn :
- Khoảng cách an toàn giữa các máy , thiết bị không được nhô hơn 1m . Trường hợp máy ,
thiết bị có bộ phận truyền động ( động cơ , máy nén khí , máy li tâm …) hoặc thiết bị có
quá trình sản xuất nhiều nguy hiểm ( như lò , nồi hơi …) khoảng cách giữa các máy , thiết
bị phải nâng lên 2m . Đối với máy có thiết bị chuyển động đi lại khứ hồi ( máy bào , máy
phay giường ) cần có khoảng không gian đủ lớn để vị trí lùi xa nhất của máy cách tường
con người, pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã tác động trực tiếp đến hành vi xử sự của các chủ
thể. Đây là biện pháp đem lại hiểu quả cao nhất, thông qua đó hoạt động quản lý chất thải nguy hại
được thể chế hóa bằng pháp luật.
Biện pháp kinh tế: Đó là việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích hoặc bắt buộc các chủ thể thực
hiện những hoạt động có lợi cho hoạt động quản lý chất thải. Biện pháp này thực hiện thông qua
hình thức thu phí chất thải đổi với các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm hạn chế lượng chất thải có
thể phát sinh ngay tại nguồn. Áp dụng thuế cao đối với những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm
môi trường hoặc sức khỏe con người ở mức độ cao. Đó còn là những biện pháp hỗ trợ vốn, miễn
giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị công nghệ thân thiện môi trường, Biện pháp
kinh tế rất cần thiết và có hiệu quả phòng ngừa cao vì nó tác động trực tiếp tới nguồn thu nhập, lợi
nhuận của doanh nghiệp. Biện pháp khoa học công nghệ: Vận dụng các thiết bị khoa học công
nghệ tiên tiến vào việc quản lý chất thải. Biện pháp này giúp hạn chế được lượng chất thải, đồng
thời xử lý được khối lượng lớn và triệt để chất thải.
Biện pháp chính trị: Đảng đưa ra vấn đề môi trường và quản lý chất thải trong cương lĩnh của
mình, từ đó thể chế hóa thành pháp luật. Biện pháp này có tác dụng định hướng và có tính bao quát
cao. Các quy định của pháp luật ngày càng rõ ràng và cụ thể đã làm cho người dân hiểu pháp luật,
nâng cao ý thức của họ. Người dân sẽ tự giác thực hiện những hành vi có ích cho môi trường.
* Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Đồng thời với những thành quả do sự phát triển kinh tế đem lại, cũng xuất hiện những nguy cơ gây
ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng mà sự đe doạ từ việc phát thải các chất thải nguy hại có ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng là một trong những vấn đề đáng lo ngại nhất. Nhận thức rõ
được điều đó, chúng ta đã sớm nhận ra các yêu cầu về việc xây dựng và hoàn thiện các quy định
của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra là không làm kìm
hãm sự phát triển kinh tế, đồng thời ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa những tác hại do chất thải nguy
hại gây ra cho môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Luật bảo vệ môi trường 2005 và Quy chế quản
lý chất thải nguy hại đã được ban hành nhưng việc quản lý chất chải nguy hại vẫnkhông ít khó
khăn, trở ngại mà những nguyên nhân, những tồn tại chủ yếu xuất phát từ 2 vấn đề sau.
Thứ nhất, thực trạng các văn bản pháp luật Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại của chúng ta
hiện nay vẫn còn chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, thiếu tính đồng bộ, tổng thể; thiếu những văn bản
chi tit hng dn vic thc hin quy ch qun lý cht thi nguy hi; cỏc a phng ỏp dng cha
cỏc lue cỏt got khi gia cụng gõy ra, trỏnh ụn, rung.
- Cỏc mỏy, thiet bi khi sn xuat gõy rung dụng lún cỏn bo trớ xa cỏc mỏy chớnh xỏc, cú cỏch ly
chong lan truyen rung dụng. Nen mỏy phi dự dụ cỳng vựng v thõn mỏy phi cú hoac trang bi thờm co
cau phong long
- Cỏc mỏy nguy hiem cụ thộ gõy tai nan lao dụng (nhu mỏy mi 2 dỏ) cỏn bụ tri ụ gúc xuụng de
han che cỏc nguy hiem cú thộ xõy ra.
- Cỏc mỏy cú chuyen dụng di lai khỳ hoi nhu mỏy bo giuúng, mỏy phay giuúng cỏn bụ tri dỷ khoõng khụng gian
de vi trớ lỳi xa nhỏt cỳa bn mỏy phi cỏch tuụng toi thiởu 0,5m, cỏch mộp duụng võn chuyen ti thiu
/e/9:;.U!%&.=V)]!%O!9:H/
Nhựng chụ lm viờc thuụng tien hnh viờc nõng, võn chuyờn cỏc võt nõng trờn 20kg, cỏn trang bi thiet bi
nõng v cỏn thuc hien nhựng nguyờn tỏc sau:
- Khụng bụ tri chụ lm viờc, duụng di lai ụ vi tri phia duụi noi thiet bi nõng thuụng xuyờn hoat
dụng, nộu buục phi bụ tri thi phi cụ chuụng cõnh bo, bien bo an ton, hoac cụ nguụi cõnh giụi
- Mỏy, thiet bi nõng phi dỏy dự thiet bi an ton, tin cõy: phanh ham, co cau han che hnh trỡnh,
co cau de phong quỏ ti, co cau chong tuụt cỏp
- Thiet bi nõng phi dm bo cỏc thụng so co bn: cú sỳc nõng phự hop, toc dụ di chuyen lờn
xuong, di chuyen ngang hop l phự hop vúi dieu kien sn XUấL
- Dm bo che dụ lm viec cựa mỏy nõng: theo thời gian, theo mực dụ cht ti, dm bo an ton
v tuoi tho cựa thiet bi phự hop vúi dieu kien sn xut.
- Duy tri nghiốm ngọt che do bo duũng, kiem tra v xin cap giỏy phộp sỹ dung theo quy dinh.
/g/b `9*.=V0+&9.='%!.=*#a%,Kwm1!!)'>?J".
#$'%!</
Trang bi phung tien bo vờ cỏ nhõn l bien phỏp k thuõt bo sung, nhung cú vai trũ rat quan trong (dac
biờt trong diộu kiờn thiet bi, cụng nghờ lac hõu).
Cỏc loai phuong tien bo vờ cỏ nhõn:
- Phuong tien bo vờ mõt:
+ Trang bi bo vờ mõt khụi bi ton thuong do võt rỏn bn phõi.
+ Trang bi bo vờ mõt khụi bi ton thuong bũi cỏc tia nõng lilửng khi hn.
- Phuong tien bo vờ cụ quan hụ hap: Loai trang bi ny nham phũng trỏnh cỏc loai hoi, khi dục,
cỏc loai bui, chang han nhu bỡnh thũ, bỡnh tu cỳ'u, mat na phong dục, khõu trang.
Để đảm bảo an toàn & vệ sinh lao động ( AT - VSLĐ), khi môi trường lao động có các yếu tố
nguy hiểm, có hại phải thực hiện các giải pháp kỹ thuật để loại trừ hoặc hạn chế tối đa tác hại của
chúng. Tuy nhiên do những lý do khác nhau, các yêu cầu trên chưa được thực hiện hoặc dù đã thưc
hiện nhưng vẫn có thể còn tồn tại hoặc tiềm ẩn những yếu tố có nguy cơ gây tai nạn hoặc ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ NLĐ. PTBVCN cần thiết phải được trang bị cho NLĐ trong trường hợp
này.
Các giải pháp được thực hiện để đảm bảo AT - VSLĐ trong sản xuất như xử lý điều kiện vi khí
hậu, chống bụi, chống hơi khí độc, chống ồn, chống rung động, ngăn ngừa các bức xạ có hại, che
chắn, ngặn chặn, cách ly trong đó PTBVCN là giải pháp sau cùng theo trình tự các bước thực
hiện.
3. ,'!bKwm1S
Khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện phải tiếp xúc với một hoặc một số yếu
tố nguy hiểm, độc hại nào đó chúng ta đều phải sử dụng PTBVCN. Các yếu tố nguy hiểm, có hại
đó có thể xuất hiện khi:
+ Tiếp xúc với yếu tố vật lý xấu (như nhiệt độ cao, nhiệt độ quá thấp, áp suất, tiếng ồn ,
rung chuyển, tia bức xạ … vượt qúa giới hạn cho phép ).
+ Tiếp xúc với hoá chất độc hại (ở dạng hơi, khí, hay dạng chất lỏng, rắn, bụi có thể thâm
nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, qua da, qua đường tiêu hoá gây hại cho cơ thể con người…)
+ Tiếp xúc vài yếu tố sinh vật ,vi trùng độc hại,môi trường VSLĐ xấu (như virút ,vi khuẩn
độc hại hoặc các yếu tố khác có thể gây bệnh truyền nhiễm, hôi thối, ýêu tố sinh học độc hại
khác…)
+ Khi NLĐ phải làm việc trong điều kiện vị trí. tư thế thao tác bất lợi (không gian chật chội,
làm việc trên cao, trong hầm lò, trên sông nước, trong rừng rậm gai góc…) hoặc các điều kiện nguy
hiểm, độc hại khác
Cần xác định đầy đủ yếu tố nguy hiểm và có hại trong mỗi công việc (theo phương pháp quan
sát, phỏng vấn NLĐ, khám sức khoẻ, đo đạc môi trường…) đánh giá mức độ nguy hại để đi đến
quyết định cần cấp phát những loại PTBVCN gì cho NLĐ, tính năng bảo vệ của mỗi PTBVCN cần
cấp phát ấy ra sao.
4. q>#$'%!2*S/
PTBVCN có khả năng ngăn ngừa tai nạn lao động khi yếu tố gây nguy hiểm có cường độ tác
- Phải mua sắm và cấp phát PTBVCN và cấp phát lại nếu PTBVCN bị mất, bị hỏng không
phải do lỗi của NLĐ. Danh mục cấp phát thực hiện theo Quyết định 955/1998/QĐ - BLĐTBXH do
Bộ Lao động – Thương binh - Xã hội ban hành.
Tuy nhiên với một nghề công việc nhưng có thể xuất hiện những yếu tố nguy hại khác (do
thiết bị, do công nghệ, do tình trạng nhà xưởng, nguyên liệu sử dụng, điều kiện thời tiết, địa lý
vùng lãnh thổ, do ô nhiễm của môi trường xung quanh …).Trong trường hợp này ngoài các
PTBVCN theo Quyết định 955, NSDLĐ phải cấp phát bổ sung những PTBVCN cần thiết khác cho
NLĐ ( căn cứ điều 101 Bộ Luật lao động ).
- Phải đưa ra thời hạn sử dụng PTBVCN phù hợp. Thời hạn này căn cứ tính chất công việc
và chất lượng của PTBVCN cấp phát, sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức Công đoàn cơ sở.
- Phải tổ chức huấn luyện, hướng dẫn NLĐ sử dụng thành thạo các PTBVCN trước khi cấp
phát và kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng. Nội dung huấn luyện NSDLĐ tối thiểu phải làm cho NLĐ
hiểu rõ : Khi nào phải mang PTBVCN? Cần sử dụng những PTBVCN nào trong khi làm việc ?
Thực hiện các thao tác khi mang , cởi bỏ, điều chỉnh như thế nào là đúng cách ? Phương pháp bảo
dưỡng , giữ gìn PTBVCN ra sao? Giới hạn sử dụng và khi nào cần loại bỏ PTBVCN. Các nội dung
huấn luyện phải được kiểm tra đánh giá, NLĐ nào khi huấn luyện chưa đạt yêu cầu phải huấn
luyện lại.
- PhảI cấp phát PTBVCN có công dụng bảo vệ phù hợp.Trước khi cấp phát phải kiểm tra lại
chất lượng , đồng thời phải định kỳ kiểm tra trong quá trình NLĐ sử dụng và ghi sổ theo dõi các
PTBVCN chuyên dùng có yêu cầu an toàn cao như găng cách điện, ủng cách điện , phương tiện lọc
hơi khí độc, dây an toàn, phao cứu sinh v.v…
- Phải bố trí nơi cất giữ, bảo quản hợp lý.không bình thường, thậm chí khó chịu. Mỗi đơn vị
phải có biện pháp tuyên truyền giáo dục kết hợp hình thức hành chính cần thiết
- NSDLĐ không được cấp phát tiền thay hiện vật hoặc giao tiền cho NLĐ tự mua sắm
PTBVCN.
PTBVCN có thực sự trở thành giải pháp hiệu quả bảo vệ sức khoẻ và an toàn trong lao động
phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện trách nhiệm nêu trên của NSDLĐ.
Để chủ động khi thực hiện, NSDLĐ cần xây dưng kế hoạch PTBVCN cho đơn vị mình.Trong
đó phải xác định các yếu tố nguy hiểm và độc hại trong từng công việc, xây dựng danh mục trang
cấp phù hợp, xác định yêu cầu chất lượng, kế hoạch mua sắm, huấn luyện, cấp phát, tổ chức quản
tăng lên đối với những người hay uống rượu. Nghiên cứu tác hại của dòng điện đối với cơ
thể cho đến nay vẫn chưa có một thuyết nào có thể giải thích một cách hoàn chỉnh về tác
động của dòng điện đối với cơ thể con người.
Một trong những yếu tố chính gây tai nạn cho người là dòng điện (phụ thuộc điện áp
mà người chạm phải) và đường đi của dòng điện qua cơ thể người vào đất.
Sự tổn thương do dòng điện gây nên có thể chia làm ba loại:
* Tổn thường do chạm phải vật dẫn điện có mang điện áp
* Tổn thương do chạm phải những bộ phận bằng kim loại hay vỏ thiết bị có mang
điện áp vì bị hỏng cách điện.
* Tổn thương do điện áp bước xuất hiện ở chổ bị hư hỏng cách điện hay chổ dòng
điện đi vào đất.
Dòng điện có thể tác động vào cơ thể người qua một mạch điện kín hoặc bằng tác
động bên ngoài như phóng điện hồ quang.
Tác hại và hậu quả của dòng điện gây nên phụ thộc vào độ lớn và loại dòng điện,
điện trở của người, đường đi của dòng điện qua cơ thể người, thời gian tác dụng và tình
trạng sức khỏe của người.
3/3/4Q!+($JM!2*+JR+!2*mr++F!".HJR/
Nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng đường đi của dòng điện qua cơ thể người có tầm
quan trọng lớn nhất là số phần trăm của dòng điện tổng qua cơ quan hô hấp và tim.
Qua thí nghiệm nhiều lần và có kết quả sau:
- Dòng điện đi từ tay sang tay sẽ có 3,3% của dòng điện tổng đi qua tim.
- Dòng điện đi từ tay phải qua chân sẽ có 6,7% của dòng điện tổng đi qua tim.
- Dòng điện đi từ chân qua chân sẽ có 0,4% của dòng điện tổng đi qua tim.
- Dòng điện đi từ tay trái qua chân sẽ có 3,7% của dòng điện tổng đi qua tim.
Từ kết quả thí nghiệm trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Đường đi của dòng điện có ý nghĩa quan trọng vì lượng dòng điện chạy qua tim
hay cơ quan hô hấp phụ thuộc vào cách tiếp xúc của người với nguồn điện.
- Dòng điện phân bố tương đối đều trên các cơ của lồng ngực.
- Dòng điện đi từ tay phải đến chân có phân lượng qua tim nhiều nhất.
- Dòng điện đi từ chân sang chân tuy nhỏ (tạo ra điện áp bước) không nguy hiểm
– điện trở của người.