A. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG M&A TẠI VIỆT NAM
I. Tổng quan về M&A tại Việt Nam.
a. Khái niệm M&A.
- M &A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Mergers and Acquisitions” có nghĩa là Mua
bán và Sáp nhập) là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ phận
doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó. Như
vậy, nguyên tắc cơ bản của M&A là phải tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông mà
việc duy trì tình trạng cũ không đạt được. Nói cách khác, M&A liên quan đến vấn đề
sở hữu và thực thi quyền sở hữu để làm thay đổi hoặc tạo ra những giá trị mới cho cổ
đông.
b. Hình thành và phát triển tại Việt Nam.
M&A dù mới mẻ ở Việt Nam song đang có những bước đi đáng kể.
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 không có khái niệm mua, bán doanh
nghiệp, chỉ có khái niệm hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp. quy định tại Điều 152 và
Điều 153:
1. Hợp Nhất: Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất)
có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất) bằng cách
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất,
đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất.
2. Sáp nhập: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập)
có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng
cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận
sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
c. Sự khác nhau giữa mua bán và xác nhập
- Mặc dù Mua bán và Sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế
phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ Mua bán và Sáp nhập vẫn có sự khác biệt
nhất định.
- Khi một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ
sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là Mua bán. Dưới khía cạnh pháp lý, công ty bị
mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu của bên mua
không bị ảnh hưởng. Theo nghĩa đen, Sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường
- Hội đồng quản trị công ty bị mua
lại không có tiếng nói và quyền
hạn gì trong việc tái tổ chức công
ty mới
- Sau sáp nhập thì công ty bị sáp nhập
thường mất đi
- Sau giao dịch công ty bị mua lại
có thể vẫn còn tồn tại.
II. Rủi ro M&A tại Việt Nam
1. Nhận dạng và phân tích rủi ro trong hoạt động M&A tại Việt Nam.
• Nhận dạng các rủi ro trong M&A.
- Rủi ro từ vấn đề bảo hiểm trong M&A.
- Rủi ro do thiếu thông tin về các doanh nghiệp tham gia hoạt động mua bán sát nhập
- Rủi ro từ định giá tại công ty khi tiên hành mua bán sát nhập.
Xác định mối hiểm họa, mối nguy hiểm,nguy cơ của từng nhóm rủi ro
Mối hiểm họa Mối nguy hiểm Nguy cơ rủi ro
1.Rủi ro từ
vấn đề bảo
hiểm trong
-Bên bán mua BH miễn
thường cao nhưng trích dự
phòng không đủ.
-Bên mua không
phát hiện được các
rủi ro tiềm tang.
-Bên mua phát sinh
thêm chi phí bảo
hiểm hàng năm
M&A -Nhân viên thiếu am hiểu
và không có kinh nghiệm
nghiệp tham
gia hoạt
động M&A
-Nguồn nhân lực Việt Nam
cho M&A còn thiếu.
-Kinh nghiệm, kiến thức về
M&A còn sơ sài.
-Bên trung gian hoạt đông
thiếu chuyên nghiệp, chưa
đủ năng lực
-Hạn chế về hệ thống luật,
nhân sự, nguồn công nghệ,
cơ sở dữ liệu và thông tin
-Thông tin không được
công khai và minh bạch
-Nguyên nhân từ
bên bán:
+Soạn thảo hợp
đồng sai sót, không
lường hết được các
rủi ro.
+Đưa ra các thông
tin có lợi cho mình
và thiếu sót.
+Bỏ qua thông tin
về các khoản nợ
không công khai.
-Nguyên nhân từ
bên mua:
+Đội ngũ nhân viên
phát sinh sau hoạt
động M&A như cp
bảo vệ môi trường,
….
lien kết với bên
bán.
+Nhân lực không
đủ trình độ để tìm
ra sai sót
+Thiếu kiến thức
về pháp lý
3.Rủi ro từ
định giá tại
công ty khi
tiến hành
mua bán sát
nhập
-Đối với các công ty tư
nhân, thường thiếu năng
lực trong đội ngũ Ban lãnh
đạo;
-Thông tin tài chính chưa
minh bạch và không hoàn
chỉnh;
-Việc định giá cao hoặc
định giá không dựa trên
phương pháp định giá;
-Các nhà đầu tư nước ngoài
thiếu sự hiểu biết về văn
hóa của doanh nghiệp địa
-Việc xác định giá
trị doanh nghiệp
mục tiêu của bên
mua không chính
xác
-Bản thân doanh
nghiệp bán không
biết giá trị công ty
mình.
-Tại Việt Nam việc
xác định giá hợp lý
để sỡ hữu cổ phần
trong doanh nghiệp
là một khó khăn
lớn.
-Doanh nghiệp có
thể bị mau với giá
rẻ
-Doanh nghiệp có
thể bị mất thương
hiệu.
-Các hợp đồng
M&A giá trị lớn
đều bị nước ngoài
chiếm mất.
-Rủi ro phải thay
đổi toan bộ doanh
nghiệp do không
hợp nhất sau khi
sáp nhập
xác được giá trị tài sản doanh nghiệp, nó là một điều khoản quan trọng trong bất kỳ
một hợp đồng nào, nếu định giá quá thấp doanh nghiệp sẽ bị thua thiệt, nếu định giá
quá cao doanh nghiệp đôi tác không công nhận, sẽ khó khăn trong việc đàm phán ký
kết hợp đồng. Tốt nhất doanh nghiệp cần phải định giá tài sản doanh nghiệp thông qua
các phương pháp định giá khoa học, căn cứ vào các nguồn thông tin bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp, chất lượng thông tin thu thập được sẽ quyết định đến kết quả tài
sản của doanh nghiệp.Định giá giúp doanh nghiệp quyết chiến lược và định hướng
kinh doanh trong tương lai, giúp hoàn thiện hệ thống sổ sách, giấy tờ, thủ tục cần thiết
nộp cho Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư phê duyệt…giúp phục vụ và bổ trợ cho các hoạt
động kinh doanh sau khi mua bán sát nhập dễ dàng , minh bạch, tránh tình trạng mâu
thuẫn, tranh chấp,hối tiếc sau khi đã bán công ty cho một công ty khác với mức giá
thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực của chúng.
- Định giá doanh nghiệp bao gồm: Định giá các tài sản hữu hình như( tranh thiết bị,
nhà cửa, nguyên nhiên vật liệu, con người….) các tài sản vô hinh( như thương hiệu,
văn hóa, nhãn hiệu, giấy phép nhượng quyền, phần mềm, giấy phép đăng kí, bằng
sáng chế hoặc các sản phẩm, bản quyền, chủ quyền làm phim, danh sách khách hàng,
thương hiệu, khách hàng hoặc mối quan hệ với các nhà cung cấp……).
- Định giá doanh nghiệp là một quá trình vô cùng phức tạp và khó khăn nhất là trong
môi trường kinh doanh hiện tại.Đinh giá doanh nghiệp cần tính đến vấn đề là làm thế
nào để định giá chính xác cả tài sản hữu hình và vô hình, trong đó việc định giá tài sản
hữu hình thông thường sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với định giá tài sản vô hình của
doanh nghiệp, vì tài sản vô hình là những tài sản không thể định lượng rõ ràng và
chính xác, tài sản vô hình luôn biến động, thay đối theo thời gian phụ thuộc lớn vào
đánh giá chủ quan và dựa vào những căn cứ khác nhau để định giá, tùy thuộc vào trình
độ, tầm nhìn của các bên tham gia.Về bản chất, việc tính toán định giá chỉ mang tính
tương đối, giá trị sẽ phụ thuộc nhiều vào mục đích, phương pháp và bối cảnh của việc
định giá.
- Có ba phương pháp định giá chính gồm:
+Dựa vào chi phí (cost approach): là phương pháp thẩm định giá dựa trên cơ sở chi
phí tạo ra một tài sản tương tự tài sản cần thẩm định giá để xác định giá trị thị trường
thiếu các nguồn thông tin không chính xác và đầy đủ, thiếu tính kịp thời.
-Thứ nhất: Định giá tài sản hữu hình của công ty được coi là dễ dàng hơn so với định
giá tài sản vô hình,để định giá được công ty cần dựa vào các nguồn thông tin như:
bảng báo cáo kinh doanh của doanh nghiệp về bảng cân đối kế toán, bảng kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp, bảng lưu chuyển tiền tệ, và bảng thuyết minh báo cáo tài
chính … đây là những thông tin nội bộ, là nguồn thông tin mà doanh nghiệp có thể thu
thập và kiểm soát một cách dễ dàng hơn.Nhưng thúc tế nguồn thông tin này chưa hẳn
là chính xác, đúng hoàn toàn. Nguyên nhân là do: Đây là nguồn thông tin thông báo ra
bên ngoài nên hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam sưả
chữa, thay đối, bổ sung, đánh cháo, và ghi chép thêm các thông tin không đúng sự thật
nhằm phục vụ lợi ích công ty và lợi ích cá nhân.Vì thế kể cả nguồn thông tin bên trong
doanh nghiệp cũng chứa đựng yếu tố rủi ro lớn khi định giá tài sản của doanh nghiệp.
-Thứ hai: Thiếu kiến thức, nghiệp vụ đánh giá chưa chuyên nghiệp, các thông tin
thống kê, thông tin báo đài, internet, hội chợ, công ty mới, tốc độ khôi phục nền kinh
tế …là một nguồn thông tin khổng lồ, sự biến động nhanh chóng khiến các doanh
nghiệp khó khăn hơn trong định giá.Thông thường nguyên nhân này là nguyên nhân
chủ yếu gây ra rủi ro trong việc xác nhập, mua bán.
+ Luật pháp Việt Nam quy định liên quan đến hoạt động này không chi tiết, còn nhiều
điểm chưa hợp lý, hệ thống luật pháp cũng thường xuyên thay đổi.
+ Thông tin thống kê tình hình kinh tế cả nước cũng được thống kê nhưng hầu hết là
không kịp thời và chinh xác.Nó phụ thuộc vào việc chọn mẫu, kỹ thuât, phương pháp
lấy mẫu, kích thước mẫu…do đó chất lượng nguồn thông tin có thể không đồng đều.
+ Số lượng và chất lượng các công ty tư vấn mua bán và sát nhập chưa nhiều, nhất là
dịch vụ định giá tài sản vô hình. Chất lượng các dịch vụ này trong thời gian gần đây
đã có nhiều cải thiên, một số công ty đã có uy tín trong ngành này tuy nhiên số lượng
là không nhiều.Thực tế, có nhiều công ty muốn mua và muốn bán nhưng lại thiếu
những kiến thức cơ bản về M&A, lo lắng sau khi thực hiện M&A không được như
mong muốn, không thể tìm được đối tác phù hợp… Mặt khác, với các giao dịch M&A
hiện nay, bên bán phía Việt Nam chưa quen với quy trình thẩm định, thông tin tài
chính thì chưa minh bạch và chưa hoàn chỉnh.
năng về tài chính để giúp doanh nghiệp cùng vượt qua thay vì việc bán đứt công ty.
Chính vì thế nếu định giá sai doanh nghiệp sẽ gặp phải rủi ro mất toàn bộ công ty, hệ
thống phân phối, và sự yêu mến của khách hàng ngay từ đầu… quyết định thường
xuyên sai lầm của các công ty Việt Nam là đã bán công ty mình nhận một khoản tiến
và chuyển giao toàn bộ những giá trị và lỗ lực của công ty trước đó cho bên thứ hai
thường là các công ty nước ngoài. Do không đánh giá đúng tiềm năng phát triển của
doanh nghiệp và ngành hàng trong tương lai, sau khi bán doanh nghiệp cho đối tác
nước ngoài thì thị trường lại ổn định, phát triển.Nhiều chủ doanh nghiệp Việt Nam đã
vô cùng hối hận trước quyết định đó.
Điển hình là P/S là một công ty Việt Nam do gặp khó khăn trong hoạt động kinh
doanh, chủ sở hữu công ty đã bán công ty cho tập đoàn Ulinever Nutrifood của Hà
Lan.Sau khi tiếp quản công ty tập đoàn này đã tiến hành các hoạt động tác ngiệp, kinh
doanh có hiệu quả. Hiện tại P/S vẫn là một thương hiệu lớn và dẫn đầu tại Viêt Nam,
đem lại nguồn doanh thu khổng lồ cho Unlinever.
Anpha Nam: Alphanam định hướng là chỉ chuyên hoạt động đầu tư. Trong đó, tập
trung vào ba mảng bất động sản, sản xuất công nghiệp và lương thực. Công ty cũng
mua lại một số công ty của nhà nước cổ phần hóa, sau đó tái cấu trúc hoạt động. Tuy
nhiên, các công ty này đa số là làm ăn thua lỗ. Khi ho mua lại, càng mua nhiều, khoản
lỗ phải gộp lại trong báo cáo hợp nhất của công ty mẹ càng nhiều. Như thế, bản chất
không phải Alphanam thua lỗ, mà chỉ là báo cáo hợp nhất lỗ thôi.
Nhưng khi đưa ra báo cáo như vậy, cũng chưa lường trước được việc mình không
kiểm soát được thông tin, gây ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Hơn nữa, trong vòng 3 đến 5 năm tới, để tái cấu trúc lại hoạt động của các
công ty đã mua và cần có thời gian để đưa các công ty trở lại hoạt động hiệu quả,
Alphanam cần một khoảng không gian yên tĩnh hơn để tiến hành
Định giá doanh nghiệp nếu không bám sát vào thị trường, tình hình thực tế sẽ
rất dễ dẫn đến những quyết định sai lầm, và có thể gây hối tiếc trong tương lai.
- Định giá doanh nghiệp không cụ thể và liệt kê, thống nhất rõ ràng với đối tác có thể
dẫn đến tranh chấp kiện tụng. Có thể là do quên không tính trị giá của một tài sản nào
đó, tính nhầm số liệu, tính cộng dồn cả các tài sản khác không thuộc sở hữu của công
nghiệp sẽ phải chi trả sau khi giao dịch M&A được tiến hành. Đặc biệt là đối với
nhiều doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động có chuyên môn cao như y tế, tư vấn
luật, tư vấn thiết kế, tư vấn tài chính
Ở nước ta cũng có quy định bảo hiểm bắt buộc đối với các ngành nghề trên. Do vậy,
doanh nghiệp không thể hoạt động nếu không được bảo hiểm đầy đủ. Đặc biệt, những
chi phí này này cao hay thấp sẽ tùy thuộc vào lịch sử hoạt động của doanh nghiệp
trong những năm quá khứ. Ví dụ, một bệnh viện hoạt động không có khiếu nại về lỗi
của các bác sĩ trong quá khứ thì chi phí bảo hiểm có thể không lớn. Nhưng ngược lại,
nếu bệnh viện đó có vấn đề về tiêu cực, chi phí bảo hiểm hàng năm sẽ rất đáng kể và
chắc chắn phải bỏ ra vì không thể lường trước rủi ro đến từ các khiếu nại của bệnh
nhân
Rủi ro thứ hai, đó là việc Bên Bán là không tham gia bảo hiểm hoặc chỉ tham gia một
phần trước giao dịch M&A. Do vậy, không thể bảo vệ được doanh nghiệp trước những
khiếu nại đã hoặc chưa phát sinh…Như vậy nếu nhà đầu tư mua phải doanh nghiệp
này thì sẽ phải gánh thêm phần bảo hiểm mà Bên Bán không có. Về kỹ thuật trong bảo
hiểm, ở đây có một vấn đề tiềm tàng, đó là đôi khi doanh nghiệp đối tượng có thể có
một chương trình bảo hiểm đầy đủ nhưng nội dung của hợp đồng bảo hiểm lại hở và
có thể đem đến thiệt hại cho nhà đầu tư.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, thì việc một công ty lớn mua mức bảo hiểm miễn thường
cao là việc bình thường (Đây là mức mà doanh nghiệp mua bảo hiểm sẽ tự chịu khi
xảy ra sự cố. Công ty bảo hiểm chỉ trả bồi thường khi xảy ra sự cố tính từ mức miễn
thường này trở lên). Chính vì vậy mà mức miễn thường càng cao, phí bảo hiểm càng
thấp, vì trách nhiệm của nhà bảo hiểm sẽ thu hẹp lại. Do vậy đối với Bên Mua đây
cũng là một điểm cần lưu ý cao. Khi một doanh nghiệp mua bảo hiểm với mức miễn
thường cao (để được hưởng khoản giảm phí), thì cần trích lập dự phòng đủ cho trường
hợp sự cố xảy ra dưới mức miễn thường. Khi doanh nghiệp không lập được mức dự
phòng đủ lớn và nhà đầu tư không phát hiện được khi tiến hành giao dịch M&A sẽ
phải chịu nhiều rủi ro.
Rủi ro thứ ba đó là Bên Mua sẽ phải gánh chịu tránh nhiệm bảo hiểm của Bên Bán đã
phát sinh từ trước giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A). Khi đã hoàn thành một giao
và lỗi nhầm lẫn trong bản cáo bạch khi chào giá mở rộng ra công chúng lần đầu
(IPO).
3. Kiểm soát rủi ro trong hoạt động M&A ở Việt Nam
• Giải pháp về mặt pháp lý cho thị trường M&A Việt Nam.
Hiện nay các quy định về hoạt động M&A vẫn còn đang nằm rải rác ở các bộ luật,
nghị định, thông tư hay cam kết gia nhập WTO bên cạnh đó còn chưa có một cơ quan
thống nhất chịu trách nhiệm điều chỉnh hoạt động M&A chính điều này làm cho
những người tham gia hoạt động M&A rất khó tìm hiểu kỹ càng những vấn đề pháp lý
hoạt động M&A, đến khi thực hiện thì phải chạy nhiều nơi, đi nhiều chỗ để xin phép
cấp giấy. Xuất phát từ nhược điểm này ta cần phải có một bộ luật riêng điều chỉnh cho
hoạt động M&A tại Việt Nam và thống nhất chỉ có duy nhất một cơ quan quản lý, xét
duyệt, kiểm tra các hồ sơ khi thực hiện M&A.
• Giải pháp phòng ngừa rủi ro thiếu thông tin.
Để có những thông tin càn thiết cho quá trình M&A thì việc tiến hành quá trình nghiên
cứu, xem xét toàn bộ hoạt động và nội tình của doanh nghiệp mục tiêu, đưa ra một bức
tranh đầy đủ nhất, chi tiết nhất về doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng. muốn thực
hiện đươcj quá trình này một cách hoàn hảo doanh nghiệp phải thực hiện quá trình
điều tra chi tiết (DD). Hoạt động điều tra chi tiết gồm ba hình thức chính đó là: thẩm
định chi tiết thương mại(CDD), thẩm định chi tiết về tài chính(FDD) và thẩm định chi
tiết về pháp lý(LDD).
Điều tra chi tiết(DD) là quá trình nghiên cứu, xem xét toàn bộ hoạt động và nội tình
của doanh nghiệp mục tiêu, đưa ra một bức tranh đầy đủ nhất, chi tiết nhất về doanh
nghiệp đó. Quá trình DD được thực hiện bởi các chuyên gia với những kinh nghiệm
chuyên sâu trong từng lĩnh vực.
Quá trình này sẽ cung cấp những số liệu chính xác nhất về hoạt động, hiệu quả của
doanh nghiệp, để bên mua xác định giá trị của doanh nghiệp, nhận diện rủi ro hiển
hiện hoặc tiềm ẩn.
Về khía cạnh thương mại, có điều tra chi tiết về thương mại( CDD). CDD khảo sát thị
trường, vị thế cạnh tranh và triển vọng của doanh nghiệp trên thị trường. CDD cũng
chỉ ra những tác động ngoại vi đến hoạt động của doanh nghiệp. Khi tiến hành CDD,
Quá trình định giá là một phần quan trọng trong hoạt động M&A, vì thế việc đưa ra
các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác định giá là rất cần thiết, bên cạnh những
phương pháp định giá thường gặp như: phương pháp giá trị tài sản thuần, phương
pháp bội số P/E, định giá cổ phiếu dựa trên doanh thu. Trong đó chúng ta cần quan
tâm đến các giá trị tài sản vô hình như định giá tài sản trí tuệ, định giá tài sản thương
hiệu. Vì vậy mà Việt Nam cần phải có những kế hoạch nhằm nâng cao trình độ đội
ngũ thẩm định viên. Đồng thời nghiên cức các công cụ hỗ trợ cho các phương pháp
thẩm định giá đang được sử dụng.
4. Tài trợ rủi ro trong M&A tại Việt Nam
a.
Xây
dựng,
hoàn
thiện
khung
pháp
lý
về
M&A
phát sinh hậu sáp nhập Hiện nay, các văn bản pháp lý thực sự để điều chỉnh hoạt
động mua bán, sáp nhập ở Việt Nam còn rất ít,
hầu hết còn rất chung chung, mơ
hồ. Nên, muốn có một thị trường mua bán, sáp
nhập phát triển, Nhà nước cần tạo
điều kiện giúp các doanh nghiệp có thể thực hiện
thành công giao dịch này.Hiện
nay, các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán, sáp nhập ở
Việt Nam
được quy định trong nhiều văn bản khác nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật
Doanh
nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Chuẩn mực kế toán… tuy nhiên các
quy
định đó vẫn còn đang nằm rải rác ở các bộ luật, nghị định, thông tư hay các
cam
kết gia nhập WTO và chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức của hoạt
động M&A, tức là mới chỉ giải quyết được các vấn đề về việc “thay tên, đổi họ’’
cho doanh nghiệp. Duy chỉ có chuẩn mực kế toán số 11 ban hành kèm theo Quyết
định số 100/QĐ-BTC ngày 28-12-2005 hướng dẫn thực hiện hợp nhất kinh doanh
trong giao dịch mua bán doanh nghiệp là được quy định khá cụ thể và rõ ràng. Mặc
dù vậy, văn bản này cũng chỉ mới hướng dẫn cụ thể cách thức xử lý kế toán khi tiến
hành giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chưa có một cơ quan
thống nhất chịu trách nhiệm điều chỉnh hoạt động M&A. Chính điều này đã làm cho
nghị định 139/2007/NĐ-CP và cam kết WTO lại quy định mức sở hữu này lên tới
99%.
Thứ hai, cần phải làm rõ ràng những vấn đề sau:
Thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Nếu như doanh
nghiệp
100% vốn nước ngoài nhưng mang "quốc tịch" Việt Nam vẫn được xem là
doanh
nghiệp Việt Nam. Vậy, nếu một doanh nghiệp chỉ có 1% vốn đầu tư nước
ngoài
thì có được xem là doanh nghiệp Việt Nam hay đó là doanh nghiệp có vốn
đầu tư
nước ngoài, và đây là một cách để các nhà đầu tư nước ngoài lách luật góp
vốn và
trốn thuế.
Cần phải làm rõ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được xem là
nhà đầu
tư nước ngoài hay không? Chính sự không rõ ràng của vấn đề này thời
gian qua
mà các nhà đầu tư nước ngoài đã lách các qui định về quyền sở hữu trong
các
doanh nghiệp Việt Nam.
Cần phải xác lập rõ ràng quy định sở hữu của Nhà nước trong từng lĩnh vực.
các vụ mua lại và sáp nhập, từ đó giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp.
Nhà
nước cũng cần hỗ trợ và đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức trung gian này.
Thứ hai, Bộ tài chính và Ủy ban chứng khoán Nhà nước cần xây dựng
kênh
kiểm soát thông tin, tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh nói chung,
hoạt
động mua bán, sáp nhập nói riêng. Bởi vì, trong hoạt động M&A, thông tin về
giá
cả, thương hiệu, thị trường, thị phần, quản trị, con người là rất cần thiết cho cả
bên mua lẫn bên bán. Nếu thông tin không được kiểm soát, không minh bạch sẽ gây
ra nhiều thiệt hại cho cả bên mua, bên bán, đồng thời ảnh hưởng nhiều đến các thị
trường khác như hàng hóa, chứng khoán, ngân hàng. Cũng như các thị trường khác,
thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp hoạt động có tính dây chuyền, nếu
một thương vụ M&A lớn diễn ra không thành công hoặc có yếu tố lừa dối thì hậu
quả cho nền kinh tế là rất lớn vì có thể giá cổ phiểu, trái phiếu, hoạt động kinh
doanh, đầu tư của doanh nghiệp đó nói riêng và các doanh nghiệp liên quan bị ảnh
hưởng theo. Từ đó, kéo theo hệ lụy cho cả nền kinh tế nếu một trong hai công ty sáp
nhập là một Tập đoàn lớn cỡ như các Tổng công ty của Nhà nước. Hơn nữa, hoạt
động M&A hàm chứa rất nhiều yếu tố rủi ro, tình trạng độc quyền có thể tạo ra khi
mà các thương vụ lớn trong một ngành được tiến hành, do đó, rất cần sự kiểm soát
thông tin chặt chẽ của Nhà nước thông qua các công cụ pháp lý hướng dẫn các qui
định cụ thể rõ ràng và minh bạch để có thể phát huy được các mặt tích cực và hạn
chế tối đa mặt trái này, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội, nền kinh tế,
người tiêu dùng.
Thứ ba, Nhà nước cần ra soát các quy định trong Luật Doanh nghiệp,
tháng 5 năm 2006, có nhiều vấn đề cần chỉnh sửa:
Mục 1, nên nêu thêm nguyên tắc khuyến khích đầu tư theo hình thức góp
vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Hiện tại theo quy
định của
pháp luật: Cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn thuế thu
nhập doanh nghiệp là
những cơ sở mới được thành lập và được cấp giấy
phép kinh doanh kể từ ngày Luật
Thuế thu nhập có hiệu lực thi hành
(Nghị định 164/2003/ND-CP). Những cơ sở
thành lập trước đây nay sáp
nhập, chia tách không thuộc đối tượng được xét miễn,
giảm thuế như cơ sở
sản xuất mới thành lập.
Mục 2, hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài là đương nhiên, không cần
thiết phải nhắc lại. Nhưng cần phải chỉ ra các cam kết về các tỷ lệ mua,
hình thức
đầu tư và lộ trình quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên.
Thứ bảy, Theo Luật cạnh tranh năm 2004 và Luật Doanh nghiệp năm
2005, việc kiểm soát các hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các
doanh nghiệp có sự tham gia của các cơ quan là:
- Cơ quan quản lý cạnh tranh có chức năng kiểm soát tập trung kinh tế. Hội đồng
cạnh tranh xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát tập
nhất,
mua lại hoặc liên doanh cả về phương diện thực tế lẫn pháp lý. Do đó, để phát
hiện
sự vi phạm, đòi hỏi các cơ quan đăng ký kinh doanh phải kiểm soát được tình
hình
tập trung kinh tế trong địa bàn mình quản lý bằng các số liệu thống kê và cần
phải
công khai các số liệu này.
Thứ tám, về hình thức, M&A thực chất là hoạt động giành quyền kiểm
soát
doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp (gọi chung là doanh nghiệp) thông qua
việc
sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp. Mục đích của M&A là giành
quyền kiểm soát doanh nghiệp ở mức độ nhất định chứ không đơn thuần chỉ là sở
hữu một phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ, lẻ.
Vì vậy, khi một nhà đầu tư đạt được mức sở hữu phần vốn góp, cổ phần của doanh
nghiệp đủ để tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì khi
đó mới có thể coi đây là hoạt động M&A. Ngược lại, khi nhà đầu tư sở hữu phần
vốn góp, cổ phần không đủ để quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp
thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tư thông thường. Với cách hiểu như vậy, pháp
luật Việt Nam cần có một số các quy định về hình thức thực hiện M&A như sau:
• Hình thức thứ nhất: Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp là hình thức
thông qua
việc góp vốn điều lệ công ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng
vào công ty nhận sáp nhập. Công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại, công ty
nhận sáp
nhập vẫn tồn tại và kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty
bị sáp
nhập.
• Hình thức thứ năm: Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều công
ty cùng
loại (công ty bị hợp nhất) kết hợp thành một công ty mới (công ty hợp
nhất).
Các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại và hình thành mới một công ty trên
cơ sở
kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của các công ty bị hợp nhất.
• Hình thức thứ sáu: Chia, tách doanh nghiệp là hình thức M&A đặc thù
bởi việc
kiểm soát doanh nghiệp đạt được thông qua việc làm giảm quy mô doanh
nghiệp
và do vậy việc kiểm soát doanh nghiệp chỉ thực hiện đối với từng phần
doanh
nghiệp nhất định. Chủ thể chính của hoạt động chia tách doanh nghiệp là các
thành
viên hoặc cổ đông hiện tại của công ty. Chia, tách doanh nghiệp được áp
Để hoạt động M&A được hiệu quả đôi khi bên bán phải cung cấp cho bên mua
những thông tin mật hoặc là những chiến lược hoạt động kinh doanh, thông tin
khách hàng…, nếu sau đó cả hai không đi đến một thỏa thuận M&A thì rủi ro công
ty bán bị rò rỉ thông tin là rất lớn, do đó pháp luật cần có những biện pháp để can
thiệp vấn đề này.
1.2 Xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp
Đối với việc định giá tài sản vô hình
Một trong các tài sản quan trọng nhất, đóng góp rất lớn vào tổng giá trị doanh
nghiệp, đó là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại Việt Nam các chuẩn
mực để xác định hợp lý giá trị này còn rất sơ khai, chưa có phương pháp định giá
nào xác định đúng giá trị thực của tài sản vô hình, từ đó làm thất thoát khá lớn giá
trị của doanh nghiệp. Đặc biệt là khi các công ty đa quốc gia tiến hành mua lại các
thương hiệu Việt trong công cuộc thâm nhập thị trường, thông thường doanh
nghiệp Việt Nam sẽ bị thua thiệt ở khoản này vì không định giá đúng giá trị của
doanh nghiệp mình. Do đó, Nhà nước cần ban hành khung pháp lý với các tiêu
chuẩn cụ thể giống như các nước phát triển đã và đang làm hiện nay.
Đối với khung pháp lý điều chỉnh công tác định giá
Tuy hoạt động định giá doanh nghiệp đã có Thông tư hướng dẫn xác định
giá doanh nghiệp của Bộ Tài Chính, tuy nhiên nội dung trong Thông tư nhìn chung
là chưa phù hợp và còn nhiều thiếu sót về phạm vi ứng dụng, phương pháp xác định
giá trị doanh nghiệp cũng như việc xác định những yếu tố đầu vào cần thiết để có
thể xác định giá trị doanh nghiệp một cách hợp lý. Do đó, chúng tôi thiết nghĩ cần
thiết phải sửa đổi, bổ sung theo đúng bản chất khoa học của công tác định giá để có
thể ứng dụng một cách linh động hơn trong việc xác định giá trị doanh nghiệp.
- Xây dựng trung tâm dữ liệu về các chỉ số tài chính cho tất cả các
ngành nghề và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của kinh tế Việt Nam
Trong quá trình định giá, chúng tôi nhận thấy rằng: Các kỹ thuật định giá giá
trị
doanh nghiệp không phải là vấn đề lớn nhất để đạt được kết quả định giá hợp lý,
trường
chứng
khoán
Thời gian gần đây, thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở mức rất thấp,
có
nhiều chứng khoán đã có thị giá thấp hơn giá trị sổ sách, cùng lúc đó Việt Nam hiện
chưa có cơ chế cụ thể để giám sát việc mua gom cổ phiếu trên thị trường.
Chính
vì vậy không tránh khỏi nguy cơ một số nhà đầu tư nước ngoài tận dụng thời
điểm
thị trường đang ở mức thấp, cũng như việc các nhà đầu tư trong nước bán tháo
cổ
phiếu để âm thầm tiến hành thu gom. Nếu làm được điều này, các nhà đầu tư
nước ngoài sẽ hiển nhiên trở thành các cổ đông mới của các công ty trong nước với
giá mua cổ phiếu rất hời và tiết kiệm khoản chi phí thâm nhập thị trường không
phải là nhỏ. Đặc biệt, nếu thu gom được tỷ lệ lớn cổ phiếu, họ sẽ trở thành đại cổ
đông, có quyền điều hành và tác động đến các chính sách hoạt động của doanh
nghiệp. Chính vì vậy, để ngăn ngừa và hạn chế điều này, UBCK Nhà nước nên có
nghề sản xuất nhằm củng cố hơn vị thế của mình tại thị trường trong nước và vươn
ra thị trường quốc tế. Từ đó, thực tế khách quan sẽ tạo ra các Tập đoàn kinh tế lớn,
có khả năng thâu tóm và chi phối độc quyền đối với sự phát triển của ngành, tác
động không tốt đến nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh hội nhập. Vì vậy, Nhà nước
cần chú ý, một mặt khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành các thương vụ mua
bán và sáp nhập, nhưng mặt khác, cũng cần phải ban hành các quy định pháp luật
để kiểm soát mức độ độc quyền, chống nguy cơ lũng đoạn thị trường của công ty
sau khi sáp nhập thông qua “Phép thử acid” hay còn gọi là chỉ số HHI (Hefindahl
–Hirshman Index), thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng chỉ số này
cho
phù hợp tại thị trường Việt Nam. Ở Mỹ, nhiệm vụ này được bảo đảm tiến hành
bởi
2 cơ quan chức năng: Hội đồng thương mại liên bang (FTC), Uỷ ban chứng
khoán
và tỷ giá (SEC), với nội dung được quy định cụ thể trong các luật: Luật
nhà nước
(State Law), Luật chống độc quyền liên bang (Federal Anti-trust
Laws) và Luật
chứng khoán liên bang (Federal Securities Laws). Chính vì vậy,
chúng tôi khuyến
nghị nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp luật có liên
quan để định hướng
cho thị trường phát triển ổn định và nên được điều hành bởi
cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động
M&A nói riêng, Việt Nam cần quốc tế hoá các chuẩn mực kế toán của mình. Điều
này sẽ giúp cho các bên thuận tiện hơn rất nhiều trong việc chuyển đổi các chuẩn
mực kế toán và cũng giúp xử lý chính xác hơn các khoản mục tài chính trong các
báo cáo tài chính, làm cơ sở cho công tác định giá diễn ra thuận lợi, dễ dàng và hiệu
quả hơn. Đối với việc trích lập các quỹ dự phòng trong doanh nghiệp và cách xử lý
cũng như việc sử dụng các quỹ này, hiện tại Luật kế toán Việt Nam chưa có các
quy định cụ thể, nên đã tạo điều kiện cho một số công ty lợi dụng trích lập dự
phòng rất lớn nhằm làm giảm giá trị của doanh nghiệp…
Việc xử lý các vấn đề kế toán trong các thương vụ M&A rất phức tạp vì nó
liên quan đến lợi ích của 2 bên tham gia và của cả Nhà nước (thuế chuyển nhượng
tài sản ) nhưng hiện nay, chưa có văn bản nào quy định vấn đề này một cách đầy
đủ và chi tiết, đây là thiếu sót rất lớn trong việc hoàn thiện cơ chế của các thương
vụ M&A.
B. Liên hệ thực tiễn mua bán phở 24
I. Giới thiệu phở 24.
1. Khái quát về phở 24
- Phở 24 là chuỗi nhà hang phở Việt thuộc tập đoàn Nam An Group, tập đoàn thực
phẩm lỡn nhất cả nước. Ngoài phở 24 ra, Nam An còn sở hữu và điều hành nhiều
thương hiệu khác như là An Viên, Maxim’s Nam An, Thanh Niên, Tân Nam An, Viva
Saigon, Goody, Goody-Plus, Bamizon, Ibox Café,…
- Cửa hàng Phở 24 đầu tiên đc mở vào tháng 6 năm 2003, tại đường Nguyễn Thiệp,
đối diện khách sạn Sheraton Sài Gòn. Vào tháng 9 năm 2009, Phở 24 đã mở đc 71
phố Hồ Chí Minh
2. Mua bán phở 24.
- Công ty Việt Thái Quốc Tế, đơn vị sở hữu thương hiệu đình đám tại Việt Nam
Highlands Coffee đã mua 100% cổ phần Phở 24 từ ông chủ Lý Quý Trung với giá 20
triệu USD trong tháng 11/2011
-Công ty Việt Thái Quốc Tế là của ông Davaid Thái, sau khi sở hữu 100% cổ phần
thương hiệu Phở 24, đã bán 50% cổ phần cho Jollibee (Philippines). Giao dịch có giá
trị 25 triệu USD thông qua Jollibee Worldwide - thành viên Tập đoàn Jollibee.
- Điều đáng nói, ông Trung khởi nghiệp xây dựng Phở 24 chỉ với vỏn vẹn 1 tỷ đồng.
Dù ngạc nhiên nhưng hầu hết các chuyên gia đều đánh giá ông Trung đã có quyết
định đúng đắn vì Phở 24 đã có dấu hiệu đi xuống trước thời điểm bị thâu tóm. Lúc
đó, các cửa hàng trong nước đuối sức, mặc dù cách phục vụ cũng như chất lượng
món ăn vẫn được bảo đảm. Bên cạnh đó, Phở 24 bộc lộ rõ nhưng yếu điểm của hệ
thống nhượng quyền. Khi gia tăng quy mô hoạt động, thách thức trong quản trị chất
lượng cũng tăng theo. Hình thức này đòi hỏi phải kiểm tra liên tục và nếu bên nhận
nhượng quyền không đáp ứng được các tiêu chuẩn kiểm soát bắt buộc của bên
nhượng quyền thì phải kết thúc hợp đồng, nếu không muốn đánh mất hình ảnh
thương hiệu.
- Tài chính là vấn đề lớn nhất khiến ông Trung quyết định bán Phở 24 sau 11 tháng
đàm phán và cân nhắc. Theo ông Trung, để nâng cấp hệ thống cửa hàng, đẩy mạnh
quảng bá cũng như đầu tư vào nhiều dự án tại thị trường quốc tế, công ty cần rất
nhiều tiền. Trong khi đó, ông Trung luôn có quan điểm tránh vay vốn ngân hàng. Vốn
thiếu, Phở 24 lại “rơi” vào đúng thời điểm sắp thoái vốn của Quỹ đầu tư VinaCapital.
Theo thông lệ, các quỹ đầu tư thường thoái vốn tại công ty liên kết sau 5 năm rót
vốn.
- Tập đoàn JolliBee của ông Tony Tan Caktion là thương hiệu ăn nhanh nổi tiếng của
Philiphines. Chỉ trong vòng hai thập kỷ, Tony Tan từ một ông chủ cửa hàng bán kem
đã vươn lên trở thành một tỷ phú với hơn 2.500 cửa hàng đồ ăn nhanh ở khắp mọi
nơi trên thế giới. Sớm nhận thấy “mỏ vàng” đồ ăn nhanh, ông Tony Tan thành lập
JolliBee. Hai mươi năm sau, JolliBee có thể giúp ông kiếm được hàng trăm triệu
nước ngoài ồ ạt đổ vào.
- Không thành lập và có sự hoạt động của các hiệp hội với việc bổ sung các
chương trình quản lý thương hiệu quốc gia mà trong đó, cốt lõi để hiệp hội khẳng định
được vai trò của mình là phải hoạt động có chuẩn mực quy định vì uy tín của các tài
sản quốc gia, sau nữa là vì lợi ích chung của các DN trong hiệp hội. Đó là hệ quy
chiếu để hiệp hội không được phép hoạt động vì lợi ích của một vài cá nhân; từ đó,
các DN hội viên sẽ nhận thức được không tham gia hội họ sẽ bị thiệt thòi. Như vậy
mới thu được DN tham gia trong hiệp hội và thực thi đúng các quy định kinh doanh
của ngành đặc thù.
- Không có một Quỹ hỗ trợ thương hiệu. Hoặc có định hướng bổ sung vai trò của
Công ty Quản lý vốn Nhà nước – SCIC có thể tham gia hỗ trợ các DN gặp khó khăn
trong phát triển các tài sản mềm, các thương hiệu quốc gia.
• Mối nguy hiểm của việc mua bán phở 24
- Khách quan:
Biến động giá cổ phiếu của phở 24 khi tiến hành mua bán sáp nhập
Thị trường thực phẩm khủng hoảng
- Chủ quan:
Không biết được những vấn đề phát sinh sau khi thực hiện mua bán, sáp nhập như
những khoản nợ không được công khai, những khoản nợ tiềm tàng chưa phát sinh,
những vấn đề vi phạm hợp đồng, pháp luật, bảo vệ môi trường mà bên mua
không được cung cấp đầy đủ thông tin.
Định giá giao dịch không đúng, sai lệch với giá trị thực.
• Nguy cơ rủi ro
- Đối với doanh nhân Lý Qúy Trung:
Danh tiếng của ông sẽ tổn thất những phát ngôn của ông sau này sẽ ít giá trị trọng
lượng và tất nhiên khi chuyển sang ngành nghề kinh doanh mới sẽ ít thành công hơn
đơn giản vì những người ủng hộ sẽ ít đi và mức độ ủng hộ cũng không như trước vì họ
ngĩ “trước sau gì ông lại cũng bán thôi”
Trước khi bán Phở 24 ông đã từng tuyên bố “Phở 24 là đứa con tinh thần của ông và
ông sẽ phát triển nó thành một thương hiệu việt nổi tiến quốc tế”
trên tất cả các thị trường do thiếu khả năng quản lý về chất lượng,chi phí vì vậy mà
công ty bị xuống dốc trong những năm gần đây, cụ thể như: nhiều khách hàng khi đến
ăn tại các cửa hàng thì thấy rằng giá phở tăng nhanh( năm 2003 là 24.000 đồng/bát.
Năm 2012 là 39.000đồng/bát) chất lượng phục vụ tại các cửa hàng không được quản
lý tốt như trước. Thêm vào đó là việc công ty khó khăn trong tài chính để duy trì hệ
thống kênh phân phối hiện tại, không thể huy động thêm các nguồn tài chính từ các
nhà đầu tư truyền thống.Vì thế cuối năm 2013 công ty quyết định bán 100% cổ phần
công ty cho công ty Hinglands coffee với giá 20 triệu USD. Highland coffee được biết
đến là một công ty chuyên phân phối,thành lập các cửa hàng caffe lớn. Công ty này
được biến là có hệ thống quản lý rất khác so với phở 24 Điều này khiến thương hiệu
phở 24 gặp rất nhiều rủi ro như:
+ Rủi ro do định giá sai tài sản công ty công ty có thể đánh giá thấp dòng tiền trong
tương lai mà thương hiệu phở 24 mang lại. Rủi ro này gặp phải là do thiếu thông tin,
các kiến thức, kinh nghiệp trong định giá và các quyết định liên quan đến việc ký kết
và thực hiện hợp đồng mua bán. Công ty do không có đủ thông tin trong thời gian ký
kết hợp đồng sẽ có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng khó khăn, thời gian đàm phán
kép dài, vi phạm luật pháp hoặc bị đối tác lừa, đưa ra các điều khoản không rõ ràng,
không có thật. Chịu một khoản phí bồi thường do vi phạm hợp đồng Vì thế tổn thất
trực tiếp trong hoạt động này là: Công ty có thể mất một khoản thu nhập do định giá
thấp hơn giá thực tế mà thị trường, tiền phí do công ty vi phạm hợp đồng do thiếu
thông tin,mất công ty, mất tập khách hàng hiện tại…Các rủi ro kéo theo từ rủi ro trực
tiếp trên là: Thương hiệu có thể bị sa sút và không được quản lý tốt, có thể thương
hiệu phở 24 sẽ không thể phát triển và bền vững như trước. Các tranh chấp liên quan
đến thương hiệu phở 24 trên các thị trường, chanh chấp kiện tụng liên về việc định giá
sai tài sản của công ty,xuất hiện bên thứ 3 kiện công ty do công ty đã liệt kê tài sản
mà công ty thuê hoạt đông, hay thuê tài chinh của bên thứ 3, nó có thể do công ty bất
cẩn hay có tình… Các yếu tố rủi ro này vô cùng phong phú, nó mang tính khách quan,
nhiều khi doanh nghiệp không thể phán đoán trước trong điều kiện thông tin thiếu( số
lượng thông tin thì lớn, nhưng lượng thông tin thực sự cần thì lại thiếu), hệ thống luật
pháp tại Việt Nam còn nhiều bất cập, các điều khoản luật phức tạp và trùng lặp…rất