ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỖ THỊ HỒNG PHƢƠNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TẠ ĐỨC KHÁNH Đà Lạt – 2012 2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc 63
2.3.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 66
2.3.3. Nguyên nhân 71
Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn
tỉnh Lâm Đồng 77
3.1 Mục tiêu, định hƣớng quản lý thuế TNCN 77
3.1.1 Mục tiêu chung 77
3.1.2 Định hƣớng quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 77
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh
Lâm Đồng 79
3.2.1 Giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực 79
3.2.2 Các giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ 83
3.2.3 Giải pháp về công tác thanh tra, kiểm tra 96
3.2.4 Giải pháp về mặt pháp lý 98
3.3 Kiến nghị 103
3.3.1 Kiến nghị với Tổng cục thuế 103
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 104
3.3.3 Kiến nghị Thành uỷ, HĐND, UBND 104
3.3.4 Kiến nghị với các cơ quan liên quan 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Thành phố
11
UBND
Uỷ ban nhân dân
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 2.1
Tổng hợp trình độ cán bộ của Cục Thuế
tỉnh Lâm Đồng
Trang 39
Bảng 2.2
Kết quả cấp MST TNCN của Cục Thuế
tỉnh Lâm Đồng
Trang 45
Bảng 2.3
Bảng tổng hợp kết quả thu NSNN từ năm
2008 – 2011 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng:
Trang 48
Bảng 2.4
Số thu chi tiết các khoản thu nhập chịu
thuế TNCN tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng từ
năm 2009 đến 2011
Trang 49
Bảng 2.5
Kết quả kiểm tra về thuế TNCN các năm
thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và động viên nguồn thu cho ngân sách.
Thuế TNCN đƣợc tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách
rất lớn. Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cƣ
mà ngƣời dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có
thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Thuế TNCN
luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân
đầu ngƣời.
Thực hiện công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của
thuế nói chung, cùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế
TNCN đã thực hiện đƣợc việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã
hội.
Thuế TNCN cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Loại
thuế này điều tiết trực tiếp TNCN nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết
kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm từ đó
cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất.
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận
đƣợc từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng
những kẽ hở của pháp luật mà Nhà nƣớc không kiểm soát đƣợc nhƣ tham ô,
nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài
sản của Nhà nƣớc và công dân Những hành vi này ảnh hƣởng rất xấu đến
đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện
2
pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện
pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN.
Trong giai đoạn hiện nay, xã hội đang không ngừng vận động và phát
triển, vấn đề thu nhập ngày càng trở nên phức tạp, liên quan đến mọi mặt đời
sống của đại bộ phận dân cƣ. Tình trạng bất bình đẳng về thu nhập gia tăng
thể hiện ở hệ số phản ánh bất bình đẳng ở Việt Nam hiện nay đã tăng hơn 3
Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh.
3- Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý thuế TNCN, tổng hợp một số kinh
nghiệm quản lý thuế TNCN ở một số quốc gia trên thế giới để rút ra những
kinh nghiệm trong quản lý thuế TNCN cho Việt Nam;
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng nhằm làm rõ những kết quả đã đạt đƣợc và nêu lên những
hạn chế còn tồn tại.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý
thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
4- Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là quản lý thuế TNCN từ góc độ lý thuyết và
thực tế.
- Phạm vi nghiên cứu: giới hạn nghiên cứu thực tế và số liệu thu thập
từ công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong 3 năm
2009, 2010 và 2011.
5- Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu: thống kê, đối chiếu, phân
tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát ngƣời nộp thuế, kết hợp lý luận với thực tiễn
để xác định và giải quyết những vấn đề đặt ra. Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn, đi từ cái chung tới cái riêng, từ chi tiết đến tổng hợp, có sử dụng
các tài liệu, số liệu, biểu đồ để phân tích một cách khách quan, toàn diện
nhằm nghiên cứu, thực hiện đề tài.
6- Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài này có ý nghĩa thực tiễn về mặt nghiên cứu và nâng cao nguồn
thu NSNN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nhƣ sau:
- Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn thu thuế TNCN trong thời gian
qua. Từ đó, thấy đƣợc những thành tựu đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế, tồn
tại cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn.
thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế.
Thuế là một hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nƣớc đã có
từ lâu đời. Khi Nhà nƣớc ra đời, thuế trở thành công cụ để Nhà nƣớc có đƣợc
nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nƣớc. Trải qua quá trình phát
triển lâu dài và cho đến nay, Nhà nƣớc đều sử dụng thuế để điều tiết các
khoản thu nhập và huy động nguồn thu cho nhà nƣớc. Nhà nƣớc dùng quyền
lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cƣ và các tổ chức kinh tế
đóng góp cho Nhà nƣớc. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã khẳng định,
một trong những quyền lực công của Nhà nƣớc là thu thuế
Qua đó, cho thấy thuế là một khoản thu của NSNN mang tính bắt
buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và đƣợc pháp luật quy định đối với
các tổ chức kinh tế xã hội cũng nhƣ mọi thành viên trong xã hội.
Căn cứ theo tính chất điều tiết thì thuế đƣợc chia thành hai loại là thuế
trực thu và thuế gián thu. Trong các loại thuế trực thu, thuế TNCN ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu đối với NSNN.
6
Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trƣờng đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc
huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội, đƣợc coi là
loại thuế đặt biệt vì có lƣu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải
nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ.
Vậy ta có khái niệm về thuế TNCN nhƣ sau: “Thuế TNCN là một loại
thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm,
từng tháng hoặc từng lần phát sinh nhập”.
Nhƣ vậy, thuế TNCN đã đƣợc xếp loại dựa theo tính chất điều tiết,
đồng thời đã đƣa ra đối tƣợng tính thuế. Tuy nhiên đối tƣợng tính thuế không
phải là mọi khoản thu nhập mà nó đƣợc quy định riêng trong chính sách thuế
TNCN của mỗi quốc gia.
Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các
loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu nhƣ không ảnh hƣởng,
biến đổi đến cơ cấu kinh tế.
1.1.1.2 Vai trò thuế TNCN
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò
chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác
không có đƣợc.
a/ Đối với nền kinh tế - xã hội
- Tạo lập nguồn tài chính cho NSNN
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng; trong đó thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu
thành hệ thống thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo
nguồn thu cho NSNN. Thuế TNCN đƣợc tính với diện rộng, khả năng tạo
nguồn thu cho ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp
vào thu nhập của dân cƣ mà bất kỳ ai cũng đều mong muốn và cố gắng có thu
nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Thuế TNCN
luôn có sự gia tăng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu ngƣời.
8
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Nhà nƣớc sẽ sử dụng tiền thuế thu đƣợc đầu tƣ vào xây dựng cơ sở hạ
tầng, các công trình phúc lợi từ thành thị đến nông thôn, miền núi; trợ cấp cho
ngƣời nghèo, những ngƣời gặp phải hoàn cảnh khó khăn… Do vậy thực hiện
công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung
nhƣng đƣợc thể hiện rõ nét hơn ở thuế TNCN. Đã đƣa cá nhân kinh doanh
(trƣớc thuộc diện chịu thuế TNDN) vào diện nộp thuế TNCN, đảm bảo tính
công bằng trong điều tiết thu nhập, cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu
nhập từ bất kỳ nguồn nào cũng đều đƣợc đối xử nhƣ nhau, tức là đều chịu
thuế TNCN;
thuế xuất nhập khẩu), khi tiêu thụ cùng một lƣợng hàng hóa, mọi ngƣời không
phân biệt giàu nghèo đều phải chịu thuế nhƣ nhau. Các loại thuế này đều có
nhƣợc điểm là có tính lũy thoái và ảnh hƣởng đến ngƣời nghèo nhiều hơn
ngƣời giàu. Nhƣ vậy thuế gián thu chƣa đảm bảo tính công bằng theo chiều
dọc. Nếu tính thuế TNCN theo phƣơng pháp lũy tiến từng phần sẽ góp phần
chỉ tác động đến ngƣời có thu nhập cao khắc phục đƣợc nhƣợc điểm này.
- Góp phần hạn chế sự thất thu thuế TNDN
Trong DN thƣờng tồn tại cả thuế TNDN và thuế TNCN, giữa hai loại
thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Trong trƣờng hợp
DN kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân hạch toán
vào chi phí hợp lý để làm giảm thu nhập tính thuế của DN nhằm mục đích
trốn thuế TNDN thì các cá nhân nhận đƣợc những khoản trả nói trên sẽ phải
nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập nhận đƣợc kê khai tăng thêm đó.
Thuế TNCN cò n gó p phầ n khắ c phụ c sƣ̣ thấ t thu thuế thu nhậ p doanh nghiệ p
khi có sƣ̣ thông đồ ng giƣ̃ a cá c doanh nghiệ p hay doanh nghiệ p vớ i cá c thể
nhân góp phần khắc phục sự thất thu thuế TNDN khi có sự thông đồng giữa
DN với cá nhân.
10
Tóm lại, thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn
nhiều hạn chế: luật thuế còn nhiều kẻ hở, trình độ quản lý thuế còn yếu kém
nên những vai trò này vẫn chƣa thực sự đƣợc phát huy ở những nƣớc đang
phát triển.
1.1.2 Nội dung cơ bản của thuế TNCN
1.1.2.1 Đối tượng nộp thuế
Một đặc điểm của thuế TNCN là đối tƣợng chịu thuế cũng đồng thời
là ĐTNT. Xác định ĐTNT là một trong những nội dung quan trọng của thuế
TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp.
kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập tùy theo đặc thù của mỗi nƣớc
dành cho 2 loại đối tƣợng là cá nhân cƣ trú và cá nhân không cƣ trú.
Đối với cá nhân cƣ trú: Kỳ tính thuế theo năm thƣờng áp dụng đối với
thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lƣơng, tiền công; Kỳ tính thuế theo
từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với các loại thu nhập khác nhƣ từ đầu
tƣ vốn; thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn, trừ thu nhập từ chuyển nhƣợng
chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhƣợng bất động sản; thu nhập từ nhƣợng
quyền thƣơng mại; thu nhập từ thừa kế; thu nhập từ quà tặng;….
Đối với cá nhân không cƣ trú: kỳ tính thuế đƣợc tính theo từng lần
phát sinh thu nhập áp dụng đối với tất cả thu nhập chịu thuế.
1.1.2.4 Căn cứ tính thuế TNCN
Căn cứ tính thuế TNCN phải nộp là thu nhập tính thuế và thuế suất.
a. Thu nhập tính thuế:
Các nƣớc trên thế giới hiện nay cũng áp dụng việc chiết giảm gia cảnh
đối với các cá nhân cƣ trú, khi xác định thu nhập tính thuế. Tùy vào quan điểm
của mỗi nƣớc nhƣng các khoản giảm trừ thu nhập này thƣờng giảm trừ cho
chính ĐTNT và cho những ngƣời phụ thuộc mà NNT có trách nhiệm nuôi
dƣỡng. Ví dụ nhƣ ở Việt Nam, các khoản đƣợc trừ đi là: các khoản đóng góp
bảo hiểm thất nghiệp, các khoản giảm trừ gia cảnh (mức giảm trừ cho ĐTNT là
12
4 triệu đồng/tháng; mức giảm trừ cho mỗi ngƣời phụ thuộc mà NNT có trách
nhiệm nuôi dƣỡng là 1,6 triệu đồng/tháng), các khoản đóng góp vào quỹ từ
thiện, quỹ nhân đạo, qũy khuyến học. Còn với cá nhân không cƣ trú thƣờng
không quy định các khoản giảm trừ.
Riêng thu nhập tính thuế khác sẽ là phần giá trị nhận đƣợc vƣợt trên
một mức thu nhập ấn định tùy vào mỗi loại thu nhập cũng nhƣ tùy vào quy
định của mỗi nƣớc.
b. Biểu thuế suất
Quản lý thuế đƣợc xem nhƣ là một trong những nội dung quan trọng
của quản lý tài chính Nhà nƣớc. Tùy theo yêu cầu của Nhà nƣớc trong từng
giai đoạn cụ thể mà các quốc gia có thể đặt ra các mục tiêu khác nhau khi tiến
hành quản lý thuế. Tuy nhiên, nhìn chung quản lý thuế và cải cách quản lý
thuế TNCN thƣờng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất: quản lý thuế TNCN đảm bảo nguồn thu từ thuế phải đƣợc
tập trung một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời cho ngân sách quốc gia.
Đảm bảo nguồn thu từ thuế là mục tiêu quan trọng hàng đầu của công
tác quản lý thuế. Tuy nhiên, không có nghĩa là Nhà nƣớc cần tăng thu thuế
bằng mọi giá để đảm bảo nhu cầu của mình, và cải cách thuế cũng không có
nghĩa là đƣa ra các biện pháp để tăng thu thuế. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế,
một tỷ lệ thu thuế hợp lý và ổn định sẽ tăng tính cạnh tranh và kích thích nền
kinh tế phát triển hiệu quả, đồng thời, có thể đảm bảo nhu cầu chi tiêu của
Nhà nƣớc. Để đạt đƣợc mục tiên này, mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình
một hệ thống chính sách thuế khoa học, một tỷ lệ động viên hợp lý và đi kèm
với nó là các biện pháp quản lý hiệu quả và phù hợp với điều kiện tình hình
thực tế.
Thứ hai: quản lý thuế TNCN phải nhằm nâng cao tính hiệu qủa và tính
hiệu lực của quản lý nói chung.
14
Tính hiệu quả trong quản lý thuế cùng với việc xem xét về khía cạnh
“khoảng cách tuân thủ” còn phải xem xét đến khía cạnh chi phí quản lý thuế
đối với ĐTNT cũng nhƣ đối với cơ quan thuế. Chi phí quản lý thuế bao gồm
chi phí tuân thủ pháp luật về thuế và các chi phí thu và nộp thuế. Nâng cao
tính hiệu quả của quản lý thuế ở một khía cạnh nào đó chính là tiết kiệm chi
phí tuân thủ luật thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế và tối thiểu hóa chi
phí quản lý thu thuế của cơ quan thuế sao cho hoạt động thu nộp thuế đƣợc
tiến hành một cách trôi chảy nhất. Chi phí trực tiếp của cơ quan thuế bao gồm
quy định nó phải chuẩn mực. Vì vậy, khi tiến hành cải cách quản lý thuế cũng
đồng thời phải xây dựng một kênh thông tin để hoàn thiện hệ thống pháp luật
thuế, đảm bảo sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, quản lý thuế TNCN cần tuân
thủ theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Hệ thống thuế đƣợc kết hợp bởi nhiều
sắc thuế, các sắc thuế có mỗi quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau những lại
nhằm những mục tiêu nhất định. Quản lý thuế TNCN với những đặc trƣng
riêng, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu riêng nhƣng không ngoài những mục
tiêu chung của cả hệ thống thuế vì vậy, rất cần phải có sự quản lý theo nguyên
tắc tập trung dân chủ, một phần để thuận tiện cho công tác quản lý, một phần
để đảm bảo công bằng cho tất cả các ĐTNT. Cụ thể, việc cấp MST phải đƣợc
thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc; quy trình quản lý thuế TNCN
phải đƣợc thực hiện một cách thống nhất, có sự phối hợp chặt chẽ với việc
thực hiện các loại thuế khác và có sự tham gia của cả bộ máy quản lý; cách
thức xử lý các hành vi vi phạm cũng nhƣ việc khen thƣởng phải đƣợc công
khai, dân chủ… Thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ trong quản lý thuế
TNCN đƣợc coi là quan trọng nhất, là tiền đề để đạt đƣợc các mục tiêu đã đặt
ra.
16
Nguyên tắc công khai minh bạch: Thu thuế là một hoạt động tài chính
của Nhà nƣớc có tác động rất lớn đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tƣ
của ĐTNT. Vì vậy, công khai minh bạch trong quản lý thuế là một trong
những nguyên tắc hết sức quan trọng nhằm phát huy đƣợc vai trò kiểm tra,
kiểm soát của nhân dân, hạn chế đƣợc tiêu cực phát sinh trong ngành thuế và
các chủ thể nộp thuế. Quán triệt nguyên tắc này trong quản lý thu thuế có
nghĩa là tận dụng trí tuệ của nhân dân trong việc tham gia góp ý xây dựng
chính sách thuế, hỗ trợ các biện pháp thu thuế, đồng thời, tuyên truyền, phổ
thu. Từ những khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc của quản lý thuế nói chung,
những đặc trƣng cơ bản của thuế TNCN nói riêng, trong phạm vi giới hạn của
luận văn, nội dung quản lý thuế TNCN cần đƣợc xem xét với những nội dung
chủ yếu sau đây:
a. Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN
Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế là nội dung mang tính
điều kiện tiên quyết để đƣa các luật thuế vào đời sống kinh tế xã hội một cách
hiệu quả. Các nền kinh tế khác nhau sẽ có những mô hình về bộ máy tổ chức
quản lý thuế khác nhau, phù hợp với nguồn lực con ngƣời và vật chất mà Nhà
nƣớc dành cho việc quản lý thuế phù hợp với trình độ quản lý của mỗi quốc
gia trong từng giai đoạn nhất định.
Về tổ chức bộ máy quản lý: bộ máy quản lý thuế TNCN đƣợc tổ chức
thống nhất từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Vụ Quản lý thuế TNCN là cơ quan
quản lý thuế TNCN ở Trung ƣơng có trách nhiệm xây dựng hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật về thuế TNCN. Đề xuất, hƣớng dẫn quy trình, kỹ
năng, nghiệp vụ quản lý thuế TNCN; chỉ đạo, kiểm tra các đơn vị quản lý
thuế TNCN các cấp; tổng hợp, phân tích và phối hợp với các đơn vị chức
năng thực hiện các công tác triển khai thực hiện và quản lý thuế TNCN.
Phòng quản lý thuế TNCN các Cục thuế có trách nhiệm xây dựng kế hoạch
triển khai, thu thập, phân tích để quản lý các đối tƣợng trên địa bàn; phối hợp
với các đơn vị chức năng thực hiện các công tác triển khai, kiểm tra, thanh tra
18
thuế; báo cáo tình hình thực hiện với cơ quan cấp trên. Các đội quản lý thuế
TNCN cũng thực hiện các nhiệm vụ của một đơn vị quản lý thuế cấp dƣới,
với quy mô hẹp hơn, quản lý, bao quát các đối tƣợng trên địa bàn theo phân
cấp quản lý.
Vể tổ chức bộ máy xây dựng và triển khai thực hiện: Trong quá trình
quản lý, cơ quan thuế tổ chức bộ máy thành các bộ phận riêng rẽ để thực hiện
ra thu nhập chịu thuế và quản lý thu nhập chịu thuế.
Trong luật thuế TNCN luôn chỉ rõ đối tƣợng thuộc diện phải nộp thuế.
Luật thuế quy định nghĩa vụ khác nhau cho các nhóm đối tƣợng khác nhau.
ĐTNT ở đây đề cập đến là đối tƣợng có thu nhập trong một kỳ tính thuế nhất
định. Cơ sở để tính thu nhập chịu thuế của mỗi đối tƣợng có ý nghĩa quan
trọng về tính công bằng xã hội và có tính liên quan mật thiết với cơ cấu thuế
suất.
Liên quan đến việc quản lý ĐTNT đó là việc xác định rõ thu nhập
chịu thuế đƣợc xác định trên cơ sở thƣờng trú hay nguồn phát sinh thu nhập
để từ đó thiết kế việc quản lý ĐTNT cho phù hợp.
Phương pháp quản lý thu
Thuế TNCN thƣờng đƣợc quản lý theo hai phƣơng pháp là phƣơng
pháp khấu trừ tại nguồn và phƣơng pháp thu trực tiếp. Tƣơng ứng với mỗi
phƣơng pháp thì nội dung và trọng tâm quản lý cung có những điểm khác
nhau:
Phương pháp khấu trừ tại nguồn : đƣợc áp cho các khoản thu nhập
phát sinh có tính chất ổn định nhƣ thu nhập từ lƣơng, bất động sản…. Theo
phƣơng pháp này, ngƣời hoặc CQCT thu nhập phải tiến hành khấu trừ trƣớc
số thuế phải nộp của cá nhân để nộp cho cơ quan thuế, sau đó mới tiến hành
chi trả phần còn lại cho ngƣời đƣợc hƣởng. Cơ quan hoặc ngƣời đƣợc ủy
nhiệm khấu trừ có thể đƣợc trích lại một tỷ lệ thù lao nhất định và phải chịu
trách nhiệm trƣớc pháp luật về nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập trƣớc khi chi