ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐẶNG THỊ THÚY NHÀI
NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2009
4
MC LC
Chng 2. Thực trạng nguồn nhân lực Cho công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, Nông thôn vùng đồng bằng sông
hồng 36
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực vùng đồng bằng sông Hồng sau hơn
10 năm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn 36
2.1.1. Số l-ợng và cơ cấu nguồn nhân lực nông nghiệp, nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng 36
2.1.2. Chất l-ợng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn vùng
đồng bằng sông Hồng 39
2.1.3. Tình hình sử dụng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng 46
2.2. Đánh giá chung về khả năng đáp ứng và những tồn tại của nguồn
nhân lực vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của vùng 54
2.2.1. Khả năng cung ứng hiện tại của nguồn nhân lực vùng
đồng bằng sông Hồng cho quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của vùng 54
2.2.2. Những tồn tại trong việc phát triển nguồn nhân lực vùng
đồng bằng sông Hồng trong những năm qua 55
2.3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tồn tại trong quá trình phát
triển nguồn nhân lực trong những năm qua ở nông thôn đồng bằng
sông Hồng 57
2.3.1. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực nông thôn đồng bằng sông
Hồng 57
2.3.2. Đời sống kinh tế và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, văn
hoá, tinh thần của ng-ời dân nông thôn 65
2.3.3. Đầu t- của nhà n-ớc, hệ thống chính sách 69
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn được đặt ở vị trí rất quan trọng.
Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX đã khẳng định: “Coi công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Tuy nhiên, sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn chỉ có thể thành công khi chúng ra có được
nguồn nhân lực có chất lượng. Bởi vì, ngày nay lợi thế so sánh của sự phát triển
nhanh đang chuyển dần từ yếu tố giàu tài nguyên, tiền vốn, giá nhân công rẻ
sang lợi thế về trình độ trí tuệ cao của con người. Nguồn nhân lực trở thành
nguồn tài sản quý giá, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của mọi
quốc gia, vùng lãnh thổ. Điều này được minh chứng qua mô hình tăng trưởng
kinh tế của Nhật, Singapore và một số nước khác cũng như từ thực tế của Việt
Nam qua những năm đổi mới.
Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất nước, với 11
tỉnh và thành phố, bao gồm Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây,
Thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Thành phố
Hải Phòng. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống, có tiềm năng lớn để
phát triển một nền nông nghiệp, thuỷ sản hàng hoá đa dạng, năng suất, chất
lượng cao. Tuy nhiên ngoài số lượng, thì chất lượng nguồn nhân lực trong nông
nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Hồng đang ở trình độ thấp (về cả thể lực, trí
lực, tâm lực), chế độ quản lý và sử dụng còn tồn tại nhiều bất cập, chưa tương
xứng với yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp của
vùng. 2
Để có thể thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn trong vùng cần có giải pháp thiết thực phát triển nguồn nhân
xã hội hoá dạy nghề cho lao động nông thôn. Đề tài cấp bộ của Nguyễn Hữu
Dũng (2003) cũng bàn về sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, phân tích
mặt mạnh, yếu của lực lượng lao động nông thôn, của thị trường lao động nông
thôn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông
nghiệp, nông thôn đối với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn.
Gần đây là luận án tiến sĩ của Đào Quang Vinh với đề tài hết sức tổng
quát về sự phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn. Tác giả đã luận giải mối quan hệ, tác động qua lại giữa công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và phát triển nguồn nhân lực,
từ đó đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn đến 2010 và những năm tiếp theo. Các giải pháp
bao gồm:
(1) Xây dựng khung thể chế cho phát triển nguồn nhân lực;
(2) Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo khu vực nông thôn;
(3) Nâng cao thể lực nguồn nhân lực nông thôn;
(4) Phát triển thị trường lao động nông thôn.
Có thể nói, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến
những khía cạnh khác nhau của vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và những công trình đó hoặc là xem xét một các tổng
quát vấn đề trên trong phạm vi cả nước hoặc ở những địa phương khác. Tuy
nhiên, những nội dung cụ thể của nguồn nhân lực và việc phát triển nguồn nhân
lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng
sông Hồng thì chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. 4
Đề tài luận văn sẽ tiếp thu và kế thừa những kết quả nghiên cứu của các
công trình trước đây, cố gắng hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó
đưa ra những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá,
đến trẻ em chưa đến tuổi lao động, người quá tuổi lao động vẫn tiếp tục làm
việc.
“Đồng bằng sông Hồng” được hiểu là 11 tỉnh theo phân vùng kinh tế của
Tổng cục Thống kê, trước khi điều chỉnh địa giới Hà Nội. Thời gian nghiên cứu
là từ 1996 đến 2020.
Yêu cầu đối với nguồn nhân lực từ phía công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn của vùng chủ yếu xét trên phương diện yêu cầu về trình
độ của dân cư ở nông thôn trong vùng để có thể đảm đương quá trình chuyển
nông nghiệp lên nền sản xuất hiện đại, phù hợp kinh tế thị trường. Nguồn nhân
lực được xem xét chủ yếu từ phía cung lao động cho phù hợp với cầu lao động
của thị trường lao động ở nông thôn.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này tác giả dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong các văn kiện, tài liệu của Đảng. Đồng thời, đề tài sử dụng có chọn lọc
các số liệu thống kê và một số thành tựu khoa học đã được công bố trong các
sách báo, tạp chí.
Ngoài phương pháp luận chung là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
trong luận văn có sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
và sử dụng các số liệu điều tra có sẵn.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã làm rõ hơn những yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn đối với nguồn nhân lực. 6
- Luận văn đã phân tích thực trạng, chỉ ra được khả năng đáp ứng và những
tồn tại của nguồn nhân lực vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay cho quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của vùng.
1.1. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Nguồn nhân lực
1.1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, nguồn nhân lực được hiểu và sử
dụng khá khác nhau. Theo quan điểm của Liên hợp quốc thì nguồn nhân lực là
tất cả những kiến thức, các kỹ năng, năng lực và sức sáng tạo có liên quan đến
sự phát triển của quốc gia. Ở đây, nguồn nhân lực được hiểu là tào bộ các yếu tố
liên quan đến con người được sử dụng vào quá trình phát triển.
Ngân hàng thế giới cho rằng, nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực, kỹ
năng nghề nghiệp, do các cá nhân sở hữu. Cách hiểu này bao hàm cả những
yếu tố liên quan đến con người không và chưa được sử dụng vào quá trình phát
triển của quốc gia.
Theo Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) thì nguồn
nhân lực là tổng thể năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy
động vào quá trình sản xuất. Với quan niệm này, nguồn nhân lực được quan
niệm khá hẹp.
Tiến sĩ Lê Thị Ngân cho rằng, nguồn nhân lực được quan niệm là tổng thể
sức lao động của xã hội đang và sẽ được vận dụng cho quá trình sản xuất xã
hội
Phân tích, sàng lọc kỹ các quan niệm khác nhau có thể thấy, khái niệm
nguồn nhân lực thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là “số dân và chất lượng con
người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm 8
chất” [17, tr.328], là tổng thể tiềm năng của con người, của một quốc gia, vùng
lãnh thổ, địa phương hay một công ty có khả năng huy động được vào quá trình
phát triển kinh tế xã hội [12, tr.12].
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là nguồn lao động, bao gồm những người
mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin
và ý chí, là khả năng vận động của trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy
trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt
động thực tiễn, dể biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Do đó, sức mạnh trí tuệ
chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực của con người được phát triển. Nói
cách khác, “trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản, nhưng chính sức
khoẻ là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó” [19, tr.16].
Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực không thể không xét đến yếu tố nhân
cách, thẩm mĩ, quan điểm sống. Đó là sự thể hiện nét văn hoá của người lao
động, được kết tinh từ một loạt các giá trị: đạo đức, tác phong, tính tự chủ và
năng động, kỉ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc, khả năng hợp tác,
làm việc theo nhóm, khả năng hội nhập với môi trường đa văn hoá, đa sắc tộc và
các tri thức khác về giá trị của cuộc sống. Trong mối quan hệ với các yếu tố
khác cấu thành nguồn nhân lực, trình độ phát triển nhân cách, đạo đức đóng vai
trò quan trọng, vì nó đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt hơn các chức
năng xã hội và nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn.
Lẽ tất nhiên, như Hồ Chí Minh đã nói: “có đức mà không có tài, làm việc
gì cũng khó, nhưng có tài mà không có đức là người vô dụng”. Bởi vậy, sẽ
không đầy đủ khi nói đến chất lượng nguồn nhân lực mà không đề cập đến sự
kết hợp hài hoà giữa ba yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực, vì nó là điều kiện tạo
nên sức mạnh trong mỗi con người, cộng đồng và cũng là để hướng người lao
động đến sự phát triển toàn diện. 10
Nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung được phân bố và hoạt động
trong khu vực nông nghiệp, nông thôn và cho nông nghiệp, nông thôn. Hơn nữa,
nguồn nhân lực này phải hỗ trợ và tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trên thực tế, có thể có một bộ phận nguồn nhân
trang trại và 95,4% chủ hộ. Như vậy, phần lớn lao động trong nông, lâm nghiệp
và thuỷ sản là các lao động thủ công, theo kinh nghiệm. Đây là trở ngại lớn cho
việc đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
- Nguồn nhân lực ở nông thôn thường được sử dụng đa dạng ngành nghề
nhưng hiệu quả không cao, thu nhập đem lại thấp. Theo số liệu của Tổng điều
tra nông nghiệp, nông thôn năm 2006 của Tổng cục Thống kê số người trong độ
tuổi lao động có tham gia hoạt động nông nghiệp năm 2006: lao động chuyên
nông nghiệp chiếm 58,2%, lao động nông nghiệp kiêm ngành nghề khác chiếm
27,6% và lao động phi nông nghiệp có hoạt động phụ nông nghiệp chiếm
14,2%. Do tính chất đa dạng ngành nghề như vậy nên lao động nông nghiệp vừa
khó đào tạo, vừa rất thiếu kỹ năng lao động chuyên sâu thành thạo.
Tình trạng thiếu việc làm khá nghiêm trọng, hiện mới có 85% lao động có
việc làm, tỷ lệ thời gian chưa sử dụng là hơn 23% (tương đương 7 triệu người)
[46, tr.75-76]. Do áp lực việc làm và thu nhập nên lao động ở nông thôn thường
dễ chấp nhận làm các công việc đơn giản, thu nhập thấp, nhất là các công việc
có thể làm trong thời kỳ nông nhàn.
Mức thu nhập của lao động ở nông thôn thường thấp hơn lao động ở
thành thị ngoài nguyên nhân năng suất lao động của dân cư ở nông thôn thấp (sử
dụng công cụ thủ công, kỹ năng đơn giản, vận động bằng sức người là chính)
còn do ngành nông nghiệp có giá trị gia tăng thấp và thường chịu sức ép giảm
giá trên thị trường. 12
- Nguồn nhân lực ở nông thôn thường chịu ảnh hưởng của văn hóa làng,
xã, của các tập tục, thói quen sống vừa nặng tình nghĩa, lề thói, vừa bảo thủ, trì
trệ, ngại thay đổi, không quen với cường độ lao động và kỷ luật công nghiệp.
Mặc dù đã chuyển sang sản xuất hàng hóa và thực hiện công nghiệp hóa nông
nghiệp trong nhiều năm, nhưng xã hội nông thôn vẫn sống trong môi trường văn
hóa làng xã cũ. Nhiều thói quen sống cũ rất chậm được thay đổi như thói quen
lớn. Người nông dân vào thành phố chỉ là sinh kế tạm bợ. Khi không còn có thể
bám víu vào thu nhập khác, đa phần bộ phận di cư này quay lại nghề nông.
Chính vì thế, người nông dân di cư tạm thời ra thành phố không có ý định
chuyển nhượng đất nông nghiệp cho người khác. Hậu quả là đất đai nông nghiệp
rất khó tích tụ.
Những đặc điểm nói trên cho thấy rằng, phát triển nguồn nhân lực cho
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn mang tính đặc thù riêng.
1.1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn
Nguồn nhân lực có vai trò quyết định đối với thành công của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong bốn nguồn lực để
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tài nguyên, vốn, lao động và thể chế,
chính sách thì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu, thể hiện qua các
khía cạnh sau:
- Dưới góc độ kinh tế, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực
bao gồm thể lực, trí lực và kĩ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu. Nghĩa
là, con người ở đây được xem xét như một nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn
quan trọng nhất cho sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong
tương lai hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế.
Nguồn vốn này là tập hợp những kĩ năng, kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và
tính sáng tạo của con người có được thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức 14
khoẻ và kinh nghiệm tích luỹ được nhờ tham gia vào quá trình lao động sản
xuất.
- Nguồn nhân lực không chỉ là động lực, mục tiêu mà còn là yếu tố có ảnh
hưởng đến chính sách và thể chế công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, dù là quá trình tiến hóa khách quan,
nhưng không mang mục đích tự thân. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
gia. Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đã bước sang kỉ nguyên phát triển kinh tế
lấy tri thức làm động lực, vai trò của nguồn nhân lựu càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết.
- Nguồn nhân lực là yếu tố có khả năng tái sinh mạnh mẽ. Khác với một
số loại tài nguyên thiên nhiên và vốn, nguồn nhân lực không bị hao mòn qua quá
trình thực hiện công nghiệp hóa. Người lao động này già đi có thế hệ khác thay
thé với kỹ năng và tri thức hoàn hảo hơn. Hơn nữa, một số thành quả do nguồn
nhân lực tạo ra có giá trị sử dụng vính hằng theo thời gian như tri thức khoa học,
phát minh, sáng chế Vì thế, nếu biết đầu tư đúng mức cho nguồn nhân lực thì
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn không chỉ đạt được thành
công mỹ mãn trong ngắn hạn mà còn tạo điều kiện cho nông nghiệp, nông thôn
phát triển bền vững. Đây là căn cứ để Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VIII xây dựng chính sách “lấy việc phát huy nguồn lực con người
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực
1.1.2.1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có những cách định nghĩa
khác nhau về khái niệm phát triển nguồn nhân lực.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) cho
rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn
luôn phù hợp với sự phát triển của đất nước. Cách hiểu nàylà gắn phát triển 16
nguồn nhân lực với phát triển sản xuất và chỉ giới hạn trong phạm vi phát triển
kĩ năng lao động và đáp ứng yêu cầu việc làm.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng phải hiểu phát triển nguồn nhân
lực theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả
vấn đề đào tạo nói chung (trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kĩ thuật) mà còn
là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có
người. Phát triển nguồn nhân lực nhìn nhận dưới góc độ là yếu tố của sản xuất,
một nguồn lực của xã hội, mục đích là tăng sự đóng góp có hiệu quả của nó cho
quá trình tái sản xuất để phát triển kinh tế xã hội. Còn phát triển con người được
nhìn nhận dưới góc độ con người là một chủ thể tự nhiên và xã hội, vì thế, phát
triển con người là trung tâm của sự phát triển, mục đích là hướng tới sự phát
triển toàn diện của con người. Có nghĩa là phát triển con người không chỉ xem
xét dưới góc độ là nguồn lực đóng góp cho sự phát triển xã hội mà còn là sự
thoả mãn các nhu cầu để con người sớm có điều kiện phát triển toàn diện.
1.1.2.2. Nội dung phát triển nguồn nhân lực
Từ khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trên đây thì
nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực bao gồm:
- Phát triển nguồn nhân lực về mặt số lượng.
- Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
* Phát triển nguồn nhân lực về mặt số lượng.
Nguồn nhân lực của một quốc gia, một vùng lãnh thổ về mặt số lượng thể
hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi. Theo đó, nguồn nhân lực được
gọi là đông về số lượng khi quy mô dân số lớn, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động
cao. Tất nhiên, ở góc độ phát triển, chúng ta không thể không xét đến tỉ lệ gia
tăng dân số hàng năm. Nghĩa là về mặt số lượng, nguồn nhân lực chịu ảnh 18
hưởng trực tiếp của quy mô dân số tại thời điểm gốc và chính sách phát triển dân
số của các quốc gia và vùng lãnh thổ.
* Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng.
Thực chất của phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng là sự phát triển
trên cả 3 mặt: trí lực, thể lực và tâm lực của người lao động.
Phát triển trí lực là phát triển năng lực trí tuệ. Đó là quá trình nâng cao
trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sức sáng tạo và kĩ năng, kĩ xảo
* Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là nguồn tài sản - tài sản nhân lực. Do vậy, phát triển
nguồn nhân lực sẽ không được coi là toàn diện nếu không quan tâm nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn tài sản này.
Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực được đánh giá bằng mức độ toàn dụng
nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và thời gian được sử dụng. Do vậy,
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực đồng nhất với nâng cao hệ số sử dụng
số lượng nhân lực; nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực, hay giá trị tăng thêm
được tạo ra từ việc sử dụng nhân lực và nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao
động.
Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là một quá trình chịu ảnh
hưởng trực tiếp từ tình hình cung cầu trên thị trường lao động, chất lượng nguồn
nhân lực và chính sách lao động, việc làm, tiền lương của nhà nước. Cụ thể, đó là
tốc độ giải quyết việc làm và tình trạng thất nghiệp, chính sách thu hút, bố trí, sử
dụng và đặc biệt là chế độ đãi ngộ đối với người lao động. Theo đó, hiệu quả sử
dụng nguồn nhân lực sẽ đồng biến với tốc độ giải quyết việc làm, nghịch biến với
tỉ lệ thất nghiệp và phụ thuộc vào chính sách thu hút, bố trí, sử dụng và chế độ đãi
ngộ. Nếu những chính sách này hợp lý sẽ kích thích được tinh thần làm việc, khả
năng sáng tạo của người lao động, trên cơ sở đó hiệu quả sẽ được nâng cao. 20
1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và yêu cầu
đối với nguồn nhân lực
1.2.1. Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn bao gồm 2 quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông thôn.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển nền nông
nghiệp truyền thống thành nền nông nghiệp hiện đại. Quá trình này thực chất là:
nghiệp, văn minh lúa nước. Chính vì vậy, việc kết hợp chặt chẽ quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn mang những đặc điểm sau:
Một là, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở đảm bảo an toàn
lương thực quốc gia. Trước hết, để chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp phải
hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn để có điều kiện ứng
dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến cho những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh
tế cao, tính hàng hóa cao; chuyên canh để có nông sản hàng hóa nhiều về số
lượng, tốt về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến, tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông sản, bao gồm cả lâm sản và thuỷ, hải
sản, ưu tiên phát triển các cây trồng và vật nuôi có quy mô xuất khẩu tương đối
lớn và thị trường ổn định, đặc biệt coi trọng các sản phẩm quý hiếm quốc gia có
lợi thế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải hướng tới nâng tỷ trọng và tốc
độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn góp
phần phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng giảm lao động thuần nông,
tăng lao động trong những ngành phi nông nghiệp trên cơ sở phát triển các
ngành nghề, làng truyền thống và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công
nghiệp chế biến, công nghiệp nông thôn sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất