ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S ĐINH QUANG TY
Hà Nội - 2012 MỤC LỤC
i
ii
1
2.1.3. Đánh giá khái quát về kinh tế thị trƣờng
Đà Nẵng 2001-2010 89
2.2. Vai trò nhà nƣớc trong phát triển kinh
tế thị trƣờng ở Đà Nẵng 99
2.2.1. , UBND
địa bàn thành phố 99
2.2.2. , UBND ng trong phát huy
mặt tích cực; hạn chế, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trƣờng 103
2.2.3. uỷ, UBND thành phố Đà Nẵng trong việc điều
tiết, giải quyết hài hòa các vấn đề kinh tế và các vấn đề xã hội trong quá trình
sử dụng kinh tế thị trƣờng 108
2.2.4. , huy động và sử dụng các nguồn lực
111
2.2.5.
116
2.2.6. T hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nƣớc địa phƣơng
118
2.3. Đánh giá chung về vai trò c
trƣờng ở Đà Nẵng 121
2.3.1. Thành tựu và nguyên nhân 121
2.3.2. Hạn chế 130
2.3.3. Những vấn đề lớn đang đặt ra 132
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ THỊ TRƢỜNG Ở ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 135 3.1. Bối cảnh mới và ảnh hƣởng đến vai trò Nhà nƣớc trong phát triển
kinh tế thị trƣờng ở Đà Nẵng 135
3.1.1. Bối cảnh quốc tế 135
Các từ viết tắt tiếng Việt
TT
VIẾT TẮT
1
CNXH
2
KH – CN
3
XHCN
4
UBND
Các từ viết tắt Tiếng Anh
TT
VIẾT TẮT 1
AFTA
ASEAN Free Trade
Area
Khu vực thƣơng mại tự do
ASEAN
2
PCI
Provincial
H
10
IMF
International Monetary
Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
15
USD
United States dollar
Đô la Mỹ
16
WTO
World Trade
Tổ chức Thƣơng mại thế Organization
giới
17
WB
World bank
Ngân hàng thế giới DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
NỘI DUNG
TRANG
.
173
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam, trƣớc h
quan trọng – Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam (12 – 1986). Kế thừa và phát triển tƣ tƣởng đổi mới của
Đại hội VI, ở các đại hội tiếp theo, đặc biệt là Đại hội lần thứ X (4-2006) và
lần thứ XI (01-2011), Đảng ta đã khẳng định rõ hơn một chủ trƣơng lớn,
mang tính nhất quán: Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong suốt thời kỳ
quá độ lên CNXH ở nƣớc ta.
nhiệm vụ đó, , Nhà nƣớc
vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế thị trƣờng ở
Việt Nam phát triển và theo đúng định hƣớng XHCN. Tuy nhiên, thực tiễn ở
giai đoạn 2001-2010 cho thấy: nền kinh tế nƣớc ta phát triển chƣa bền vững;
chất lƣợng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; tăng trƣởng kinh tế chủ yếu theo
chiều rộng dựa vào tăng đầu tƣ, khai thác tài nguyên; các cân đối vĩ mô chƣa
vững chắc; sự phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội có những biểu hiện
phức tạp và gay gắt hơn Những hạn chế đó, trong chừng mực đáng kể, là do
sự yếu kém của bộ máy quản lý ở cả Trung ƣơng và các tỉnh, thành phố.
Đà Nẵng - thành phố lớn nhất Miền Trung nƣớc ta và là
- Đỗ Đức Hiển (2000), Tăng cường vai trò N
-
–
.
- Trần Thị Thu Hƣờng (2001), Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với
việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phát triển nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam -
3
.
- TS.
. Tác
gi
- PGS.TS. Nguyễn Cúc, PGS.TS. Kim Văn Chính cũng đã bàn về nền
kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam trong cuốn sách Sở hữu nhà
nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam Lý luận chính trị, Hà Nội
- 2006). sở hữu nhà nước và doanh
nghiệp nhà nước, i trò của Nhà nƣớc
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
- GS.TS. Lê Hữu Nghĩa (2007), Tiếp tục đổi mới tư duy trong xây dựng và
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí
Cộng sản điện tử. Bài viết đã nêu lên quá trình hình thành và phát triển tƣ duy
về kinh tế thị trƣờng của Đảng ta; những nội dung cần thực hiện để tiếp tục
đổi mới tƣ duy lý luận về kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam.
- GS. Lê Xuân Tùng (2007), Những đột phá tư duy lý luận về kinh tế thị
trường ở nước ta, Tạp chí Cộng sản điện tử. Bài viết nêu lên sự hình thành và
phát triển tƣ duy lý luận về kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta là một quá trình lâu
nhiên, đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về vai
trò Nhà nƣớc trong phát triển kinh tế thị trƣờng ở Đà Nẵng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích: Phân tích, đánh giá vai trò của Nhà nƣớc trong phát triển kinh
tế thị trƣờng ở Đà Nẵng giai đoạn 2001 - 2010, chỉ ra những thành tựu, hạn
chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất quan điểm và các giải pháp cho giai đoạn
2011- 2020.
Nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá, góp phần làm rõ hơn một số vấn đề
trò của Nhà nƣớc trong phát triển kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam nói chung và
thành phố Đà Nẵng nói riêng.
- Phân tích thực trạng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
vai trò Nhà nƣớc trong phát triển kinh tế thị trƣờng ở Đà
Nẵng giai đoạn 2001 - 2010.
- Đề xuất và luận chứng các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
của Nhà nƣớc trong phát triển kinh tế thị trƣờng ở Đà Nẵng giai đoạn 2011 -
2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu : Vai trò nhà nƣớc trong phát triển kinh tế thị
trƣờng
.
Phạm vi nghiên cứu :
- Về nội dung: Nghiên cứu vai trò Nhà nƣớc nhằm phát triển kinh tế thị
trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Đà Nẵng.
6
- Về thời gian : 2001 - 2010 và đặt trong tầm nhìn
đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 1
VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
KINH NGHIỆM
1.1
1.1.1. Khái niệm và đặc trƣng chủ yếu của kinh tế thị trƣờng
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời là lịch sử phát triển không ngừng
của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là quá
trình thay thế lẫn nhau của các phƣơng thức sản xuất xã hội.
Khi lực lƣợng sản xuất phát triển, sản phẩm thặng dƣ xuất hiện, quan hệ
trao đổi giữa các công xã, bộ tộc, bộ lạc bắt đầu hình thành; sản xuất hàng hóa
bắt đầu từ đó. Nhƣng sản xuất hàng hóa ở thời kỳ đó hết sức sơ khai, mang
tính ngẫu nhiên. Cùng với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, quan hệ hàng
hóa - tiền tệ ngày càng phát triển cả về quy mô lẫn trình độ, khi kinh tế hàng
hóa phát triển đến một trình độ - mà ở đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và
“đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trƣờng thì kinh tế thị trƣờng xuất
hiện. Nhƣ vậy, xét về mặt lịch sử, kinh tế thị trƣờng là sản phẩm tất yếu của
sản xuất hàng hóa, của sự phát triển lực lƣợng sản xuất xã hội.
Trong phƣơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và phƣơng thức sản xuất
phong kiến, mặc dù lực lƣợng sản xuất từng bƣớc phát triển nhƣng vẫn chƣa
thể có kinh tế thị trƣờng vì mục đích của sản xuất vẫn
là để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của ngƣời sản xuất; sản xuất mang tính khép
kín. Đến chủ nghĩa tƣ bản, mục đích của sản xuất là cho “ngƣời khác”, cho xã
hội; hoạt động sản xuất mang tính “mở” trên phạm vi địa phƣơng, quốc gia,
nên kinh tế thị trƣờng
và ngày càng phát triển. Do đó, sự hình thành, phát triển kinh tế thị trƣờng
gắn liền với quá trình xã hội hóa sản xuất - xã hội hóa cả lực lƣợng sản xuất
và quan hệ sản xuất.
Sự phát triển của kinh tế thị trƣờng đã trải qua kinh tế
thị trƣờng tự do và đến kinh tế thị trƣờng hiện đại.
biến, tiền tệ sẽ trở thành mục tiêu của hoạt động kinh tế. Các chủ thể kinh tế
sẽ tập trung các hoạt động của mình vào lĩnh vực thu đƣợc nhiều giá
một vài loại sản phẩm, thậm chí chỉ sản xuất ra chi tiết
9
sản phẩm. Điều đó có nghĩa là phân công lao động xã hội sẽ ngày càng phát
triển. Vì thế, mặc dù phân công lao động xã hội là điều kiện hình thành kinh
tế thị trƣờng, nhƣng khi hoạt động, kinh tế thị trƣờng lại tác động là nhân
tố thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển. Phân công lao động xã hội
càng phát triển, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế càng cao.
Tiền tệ còn có chức năng là phƣơng tiện cất trữ của cải. Do đó, trong nền
kinh tế thị trƣờng, của cải thƣờng tiền tệ. Hình
thức cất trữ này có nhiều ƣu điểm so với việc cất trữ các giá trị sử dụng. Vì
thế, khi đồng tiền đƣợc sử dụng phổ biến, các chủ thể kinh tế có điều kiện
thuận lợi hơn để cất trữ của cải và tạo động lực cho hoạt động này. Trong nền
kinh tế thị trƣờng, việc nhƣợng quyền sử dụng đồng tiền của mình cho ngƣời
khác có thể nhận đƣợc thu nhập. Càng tiết kiệm tiêu dùng trong hiện tại, càng
có cơ hội để nâng cao thu nhập trong tƣơng lai. Điều đó tạo động lực tiết kiệm
tiêu dùng, tăng đầu tƣ trong nền kinh tế.
Khi tiền thành mục tiêu của các hoạt động
kinh tế thì bất cứ nhu cầu nào cũng có thể đƣợc thỏa mãn thông qua thị
trƣờng.
Thứ hai, các nguồn lực được phân bổ
thông qua sự tác động của các quy luật thị trường
Trong nền kinh tế tự nhiên, nhìn chung ngƣời sở hữu các nguồn lực
thƣờng cũng là ngƣời sử dụng các nguồn lực đó. Chẳng hạn, ngƣời nông dân
gia trƣởng sử dụng ruộng đất, trâu bò, cày bừa nhằm thỏa mãn các nhu cầu
trong gia đình mình. Điều này đƣợc lặp đi, lặp lại qua nhiều thế hệ. Nhƣ thế,
việc phân bổ lại các nguồn lực ít khi đƣợc thực hiện và việc nâng cao hiệu
hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất càng đa dạng. Điều đó đem lại nhiều lợi ích
cho nền kinh tế. Đó là cho phép khai thác những tiềm năng đa dạng của nền
kinh tế; tạo quan hệ cạnh tranh, thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lƣợng
sản xuất, ngƣời tiêu dùng đƣợc quan tâm
Sự đa dạng của các hình thức sở hữu tạo điều kiện phát huy mọi tiềm
năng, nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội; thúc đẩy tính chủ động sáng
tạo, linh hoạt của các chủ thể kinh tế, đó là sự phản ứng nhanh nhạy, kịp thời
nắm bắt nhu cầu của thị trƣờng, thƣờng xuyên cải tiến phƣơng pháp quản lý,
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng
động và có hiệu quả hơn.
11
Thứ năm, kinh tế thị trường là nền kinh tế mở
Trong nền kinh tế thị trƣờng, sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng,
của xã hội. Việc đáp ứng các nhu cầu đó càng tốt bao nhiêu, ngƣời sản xuất
càng có lợi bấy nhiêu. Do đó, bản chất của kinh tế thị trƣờng là mở cửa, trên
phạm vi địa phƣơng, phạm vi quốc g .
Hàng hóa, vốn, sức lao động, công nghệ ngày càng đƣợc tự do lƣu thông
trong mỗi nƣớc, với nƣớc ngoài, trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu.
Khi phân tích về xu hƣớng quốc tế hóa đời sống kinh tế do sự phát triển đại
công nghiệp sinh ra, Các Mác đã chỉ rõ: “Những ngành công nghiệp dân tộc
cũ đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt. Những ngành công nghiệp
dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, tức là những ngành
công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên
liệu đƣa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất và những sản phẩm làm ra
không những đƣợc tiêu thụ ngay trong xứ mà còn đƣợc tiêu thụ ở tất cả các
nơi trên trái đất nữa”. [ 5, tr.17].
Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thúc đẩy xu hƣớng quốc tế hóa
đời sống kinh tế lên trình độ cao hơn, hình thành xu hƣớng toàn cầu hóa kinh
1.1.2. Những đặc trƣng chủ yếu của mô hình kinh tế thị trƣờng
Việt Nam
Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa có
những tính chất chung của nền kinh tế thị trƣờng nhƣ: quan hệ giữa các chủ
thể mang hình thái tiền tệ, các nguồn lực đƣợc phân bổ khách quan thông qua
các tác động của các quy luật thị trƣờng, lợi nhuận trở thành động lực bên
trong chi phối hoạt động của các doanh nghiệp …., vừa có những đặc
riêng nhƣ sau:
Thứ nhất, về mục tiêu phát triển
Xuất phát từ mô hình CNXH của C.Mác và Ph.Ănghen, xuất phát từ
thực tiễn của cuộc đấu tranh của nhân dân ta mấy chục năm qua dƣới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và xuất phát từ cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc trƣớc đây và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay của nhân dân ta thì
mục tiêu của phát triển kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta đƣợc xác định: Chủ nghĩa
xã hội phải dựa trên trình độ xã hội hóa cao của lực lƣợng sản xuất và quan hệ
13
sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng đƣợc nâng
cao, là “ dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Thứ hai, đặc trưng về lực lượng sản xuất
Mỗi xã hội đều dựa trên một trình độ phát triển lực lƣợng sản xuất nhất
định mà lực lƣợng sản xuất là nhân tố quyết định sự chiến thắng của trật tự xã
hội mới. Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trƣờng từ một nền kinh tế nghèo
nàn, lạc hậu, cơ chế quản lý kinh tế hành
chính, bao cấp, lại phải trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài, ác liệt nên
trình độ của lực lƣợng sản xuất rất thấp kém. Không những vậy, lực lƣợng sản
xuất của chúng ta cũng đa dạng và ở nhiều trình độ khác nhau vì sự lạc hậu
của nền kinh tế, nhƣng bên cạnh đó trong thực tế sự phát triển lực lƣợng sản
xuất bao giờ cũng có sự đan xen giữa các loại trình độ khác nhau và tính đa
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất, từ đó phát
huy đƣợc nội lực, tạo ra sự phát triển nhanh nền kinh tế. Nhờ vậy, nền kinh tế
nƣớc ta đã có những chuyển biến rõ rệt, những năm gần đây luôn đạt ở mức
cao trê -
7,26% 9, tr.91 .
Thứ tư, hương thức vận hành và quản lý nền kinh tế
Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN trƣớc hết là nền kinh tế thị
trƣờng nên phải vận hành theo cơ chế thị trƣờng. Điều đó sẽ cho phép tận
dụng những ƣu việt của kinh tế thị trƣờng.
ự can thiệp của nhà nƣớc để
hạn chế khắc phục các khuyết tật này là rất cần thiết. Nhƣng sự can thiệp của
nhà nƣớc cũng phải xuất phát từ quy luật khách quan, phải tƣơng hợp với thị
trƣờng. Hội nhập kinh tế là tất yếu nhƣng hội nhập không chỉ có cơ hội mà
còn có không ít thách thức. Nhà nƣớc phải làm tất cả những gì có thể để tận
dụng cơ hội, vƣợt qua thách thức. Ở nƣớc ta, vai trò quản lý và điều tiết nền
kinh tế của Nhà nƣớc XHCN dƣới sự lãnh đạo của Đảng
bảo đảm chắc chắn định hƣớng XHCN của nền kinh tế, đồng thời đây
cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nền k tƣ bản chủ nghĩa và
nền kinh tế XHCN. Nhà nƣớc quản lý, điều tiết nền
kinh tế thị trƣờng chủ yếu bằng pháp luật và quy hoạch, kế hoạch, sử dụng
15
các công cụ kinh tế, các cơ chế chính sách để tác động gián tiếp đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh của chủ thể kinh tế, đảm bảo mục đích của nền
kinh tế, sự vận động của chế độ sở hữu và phân phối theo định hƣớng XHCN,
bảo đảm quyền lợi chính đáng của mỗi ngƣời, trong đó đặc biệt quan tâm đến
lợi ích ngƣời lao động.
Thứ năm, đặc trưng về phân phối
Cơ chế thị trƣờng phân phối thu nhập theo quy mô và hiệu quả sử dụng
các nguồn lực cũng không nhỏ.
Thứ bảy, Đặc trưng về văn hóa
Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN Việt Nam mang đậm bản sắc
văn hóa của dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã hun đúc nên bản sắc văn hóa của
dân tộc Việt Nam, trƣớc hết đó là truyền thống coi trọng đạo lý, coi trọng chữ
tín, đặc biệt là trong kinh tế thị trƣờ càng
đƣợc ngƣời Việt Nam coi trọng. Không chỉ có vậy, ngƣời Việt Nam còn có
truyền thống thƣơng ngƣời nhƣ thể thƣơng thân, lá lành đùm lá rách, trong
quá trình phát triển kinh tế, vấn đề công bằng xã hội đƣợc chú ý ngay trong
từng bƣớc và trong toàn bộ tiến trình phát triển không chỉ xuất phát từ đòi hỏi
của việc thực hiện định hƣớng XHCN, mà còn xuất phát từ truyền thống của
dân tộc. Việc coi nhẹ hoạt động buôn bán, tƣ tƣởng cào bằng, bình quân chủ
nghĩa, thiếu tinh thần kỷ luật, thức chấp hành pháp luật kém… là những hạn
chế cần đƣợc xóa bỏ.
Những đặc trƣng trên đây cho thấy, mô hình kinh tế thị trƣờng định
hƣớng XHCN Việt Nam vừa có cái chung nhƣ nhiều mô hình khác, đồng thời
có không ít cái đặc thù. Xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN
Việt Nam phải chú ý cả cái chung và cái đặc thù.
1.2.
1.2.1. Tính tất yếu phải có sự can thiệp của nhà nƣớc vào nền kinh tế
thị tr
Hoạt động nào của con ngƣời cũng theo những cộng đồng nhất định và
hoạt động kinh tế cũng vậy. Ngày nay, kinh tế thị trƣờng là xu thế toàn cầu,
các nƣớc đang mở rộng, hoàn thiện thị trƣờng và thị trƣờng là một động lực
cho sự tăng trƣởng kinh tế các nƣớc; nhƣng đồng thời với nó thì vai trò của
nhà nƣớc trong ngày càng trở nên quan trọng và
17
18
Với nƣớc ta: Quá trình phát triển từ khi giải phóng
đến nay đã cho thấy nƣớc ta tất yếu phải phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của
Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm đó đƣợc
Đại hội VI (12– 1986) và đƣợc
IX tiếp tục khẳng định rõ hơn
về chủ trƣơng phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam : “ Thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng
XHCN”, và nhấn mạnh phải : “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng
định hƣớng XHCN” và chỉ ra vai trò quan trọng của Nhà nƣớc trong việc
quản lý để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng và phát triển nền kinh tế thị
trƣờng: “ Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nƣớc, phát triển đồng
bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trƣờng cơ bản theo cơ chế
cạnh tranh lành mạnh…” [ 8, tr.77-87]. Đây là mô hình kinh tế tổng quát
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nƣớc ta. Nhƣ vậy nền kinh tế thị trƣờng của
nƣớc ta là nền kinh tế hàng hóa có nhiều thành
phần kinh tế , nó vừa là một thể thống nhất nhƣng
trong đó vai trò của thành phần kinh tế nhà nƣớc
chủ đạo. Kinh tế thị trƣờng vốn có xu hƣớng tự phát tƣ bản chủ nghĩa
nên nếu nhƣ nền kinh tế đó không có sự quản lý của nhà nƣớc thì các thành
phần kinh tế sẽ phát triển tự phát và có nguy cơ chệch hƣớng XHCN, đồng
thời sự quản lý của Nhà nƣớc con đảm bảo đƣợc định hƣớng XHCN cho sự
phát triển của kinh tế đất nƣớc, thực hiện đƣợc sự kết hợp giữa tăng trƣởng
kinh tế với tiến bộ và
bƣớc phát triển. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc của dân, do dân, vì
dân, vì vậy việc Nhà nƣớc quản lý nền kinh tế vì ngƣời lao động là tất yếu.
Đồng thời, hoạt động kế hoạch ở mức độ nhất định
là cần thiết. Kế hoạch của Nhà nƣớc chủ yếu mang tính định hƣớng vĩ mô, thị