MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI
VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƢỚC 6
1.1 KHÁI LUẬN VỀ TOÀN CẦU HÓA 6
1.1.1 Khái niệm và các giai đoạn phát triển của toàn cầu hóa 6
1.1.1.1 Khái niệm 6
1.1.1.2 Các giai đoạn phát triển của toàn cầu hóa 8
1.1.2 Cơ sở khách quan của toàn cầu hóa 12
1.1.2.1 Sự phát triển của khoa học và công nghệ 12
1.1.2.2 Sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia 14
1.1.2.3 Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường 16
1.1.2.4 Quá trình giải điều tiết ở các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật 17
1.1.3 Đặc trƣng của toàn cầu hóa 19
1.1.3.1 Toàn cầu hóa gắn liền với sự ra đời của thời đại
kinh tế mới - kinh tế tri thức 19
1.1.3.2 Mức độ liên kết thị trường thế giới 23
1.1.3.3 Toàn cầu hóa trong sự tác động của các nhân tố mới 27
1.2 VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH 35
TOÀN CẦU HÓA 35
1.2.1 Vai trò của nhà nƣớc trong kinh tế thị trƣờng 35
1.2.1.1 Bảo đảm tính hiệu quả 35
1.2.1.2 Bảo đảm tính công bằng 35
1.2.1.3 Ổn định kinh tế vĩ mô 41
1.2.2 Tác động của toàn cầu hóa đối với
vai trò kinh tế của nhà nƣớc 42
1.2.3 Vai trò kinh tế của nhà nƣớc tại các nƣớc đang phát triển 49
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƢỚC
làm công tác hội nhập còn hạn chế 98
2.3.2.4 Thiếu chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế 99
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
HUY VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA
VIỆT NAM 102
3.1 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VỀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 103
3.2 GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 106
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với quá trình
hội nhập 106
3.2.2 Cải cách bộ máy hành chính Nhà nƣớc, nâng cao năng lực của
đội ngũ cán bộ công chức 109
3.2.3 Đẩy mạnh cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nƣớc, tạo điều
kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế hoạt động và
phát triển, đặc biệt là thành phần kinh tế tƣ nhân 111
3.2.4 Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt hệ thống thông tin
viễn thông 115
3.2.5 Cải thiện môi trƣờng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 115
3.2.6 Phát triển, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế 116
3.2.7 Hoàn thiện hệ thống tài chính - ngân hàng 118
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
25
Hình 1.6
Sự tham gia ngày càng tích cực vào các tổ chức xã hội dân sự
1981 - 1997
34
Hình 2.1
Cơ cấu xuất khẩu hàng hoá theo châu lục năm 2003
81
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới đã cho thấy nhà nước
luôn có vai trò quan trọng trong phát triển nói chung và trong kinh tế thị
trường nói riêng. Trong một nền kinh tế thị trường, nhà nước với tư cách là
người quản lý nền kinh tế quốc dân, làm nhiệm vụ dẫn dắt và tạo ra môi
trường để thị trường vận hành. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của thị
trường đến đâu một phần lớn phụ thuộc vào năng lực của bộ máy nhà nước.
Nếu nhà nước không mạnh, nghĩa là không có khả năng tạo ra được một môi
trường pháp lý nói riêng và môi trường kinh tế nói chung, thông thoáng, lành
mạnh, không vạch ra được chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn, cũng như
không có khả năng thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả các chiến
lược, chính sách và luật pháp đó, thì nền kinh tế không thể nào vận hành và
Nam cần phải: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần
phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự
chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của dân tộc, an ninh quốc
gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”. Quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam đã thu được những thành tựu quan trọng bước
đầu, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, tạo môi trường thuận
lợi hơn để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều vấn
đề yếu kém cần khắc phục. Do đó, hơn lúc nào hết, trong điều kiện Việt Nam
đang trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập
kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu quá trình toàn cầu hoá và những tác động của
nó đối với vai trò kinh tế của nhà nước nói chung, để từ đó rút ra những bài
học, đề ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò kinh tế của Nhà nước Việt
Nam nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta là một vấn
đề có ý nghĩa cao cả về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài „Vai trò kinh tế của nhà
nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam’
cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu 3
Vai trò nhà nước trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế là một vấn đề được đề cập đến trong khá nhiều các công trình nghiên cứu
về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung như:
- Susana Borras (2003), The Innovation Policy of the European
Union, from government to governance, Edward Elgar,
Cheltenham, UK.
- Bộ Ngoại giao, Vụ hợp tác Kinh tế Đa phương (2002), Việt Nam hội
nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - Vấn đề và giải pháp,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
đối với các quốc gia trên thế giới nói chung, và các nước đang phát triển nói
riêng, trong đó có Việt Nam. Vai trò kinh tế của nhà nước trong bối cảnh toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được đề cập đến rải rác trong các công
trình này, tuy nhiên có rất ít công trình tập trung đi sâu nghiên cứu một cách
có hệ thống vai trò kinh tế của nhà nước trong quá trình toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế, và đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn
đề này một cách đầy đủ đối với trường hợp của Việt Nam.
Chính vì vậy, công trình nghiên cứu “Vai trò kinh tế của nhà nước
trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam“ sẽ cố
gắng đi sâu giải quyết vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích vai trò kinh tế của nhà nước nói chung trong quá
trình toàn cầu hóa, luận văn sẽ phân tích và đánh giá thực trạng vai trò kinh tế
của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, để từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò kinh tế của Nhà nước ta trong quá
trình tham gia vào toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Vai trò kinh tế của nhà nước Việt Nam trong
quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vai trò kinh tế của nhà
nước trong bối cảnh toàn cầu hóa kể từ thập niên 1980, và vai trò kinh tế của
Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi Việt Nam
thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế từ
năm 1991 đến nay. 5
5. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra của luận văn, dựa trên nền
tảng phương pháp luận chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
xu hướng toàn cầu mang tính chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện đại. Do tầm
quan trọng, tính bao trùm, cũng như tác động của nó, xu hướng toàn cầu hoá
đang được coi là vấn đề trung tâm cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, các
nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về
toàn cầu hóa. Hiện nay, còn có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đã định nghĩa toàn cầu hóa như là “sự phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng lên của các quốc gia trên toàn thế
giới, thông qua việc gia tăng khối lượng và sự đa dạng của các trao đổi xuyên
biên giới về các hàng hóa và dịch vụ, cũng như thông qua các luồng vốn quốc
tế tự do hơn, và sự phổ biến về công nghệ ngày càng nhanh chóng và rộng
khắp”. 32
Trong bài phát biểu tại Đại học Bắc Carolina (Hoa Kỳ) ngày 30 tháng 9
năm 1997, chủ tịch quỹ Ford, bà Susan V. Berresford, cho rằng “Thuật ngữ
“toàn cầu hóa” phản ánh một mức độ ảnh hưởng lẫn nhau toàn diện hơn so
với trong quá khứ, cho thấy một số khác biệt với thuận ngữ “quốc tế hoá”. Nó
ngụ ý tầm quan trọng ngày càng giảm của các đường biên giới quốc gia và sự
tăng cường những đặc tính lan toả ra ngoài biên giới bắt nguồn từ một nước
hoặc một khu vực nhất định”.
Báo cáo Phát triển Con người 1999 của UNDP cho rằng: “Toàn cầu hóa
không phải là cái gì mới, song kỷ nguyên hiện nay có những nét đặc thù.
Không gian đang thu nhỏ, thời gian đang rút ngắn và những đường biên giới 7
biến mất dần đang kết nối đời sống của dân chúng với nhau một cách sâu sắc
hơn, mạnh mẽ hơn, và nhanh chóng hơn bao giờ hết”. [21, 1]
Các nhà phân tích của Ban thư ký Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
lại cho rằng “toàn cầu hóa là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả
lĩnh vực kinh tế xã hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối”. [40, 13]
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuộc UNCTAD, “Toàn cầu hóa
những địa điểm xa xôi theo một cách mà những sự kiện xảy ra ở nơi này được
định hình bởi những sự kiện đang xảy ra ở nơi khác cách đó nhiều dặm và
ngược lại”. [23, 16]
Từ những khái niệm khác nhau về toàn cầu hoá trên đây, có thể rút ra
một định nghĩa khái quát về toàn cầu hóa như sau:
Toàn cầu hoá có thể được hiểu là một quá trình, trong đó các quốc
gia trên thế giới liên kết, hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc
trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, quân sự, đến văn hóa, xã hội,
v.v. Đường biên giới giữa các quốc gia mờ đi, các bức tường ngăn cách dần
bị xoá bỏ. Sự phân công lao động và hợp tác sản xuất vượt ra khỏi giới hạn
các quốc gia, sự vận động của các dòng vốn và các hoạt động xuất khẩu tư
bản diễn ra với tốc độ nhanh chóng, với quy mô khổng lồ. Các yếu tố sản
xuất và lực lượng lao động di chuyển dễ dàng, thuận tiện giữa các quốc
gia, tạo nên một tốc độ vận động, tốc độ biến đổi nhanh nhạy của các quá
trình, hình thành một hệ thống kinh tế thống nhất toàn cầu, với qui mô
toàn thế giới, đạt tới trình độ và chất lượng mới, cao hơn.
1.1.1.2 Các giai đoạn phát triển của toàn cầu hóa
Xu hướng toàn cầu hóa là một quá trình đã trải qua những giai đoạn
phát triển thăng trầm khác nhau và được các nhà nghiên cứu đương đại phân
chia thành ba làn sóng. Tuy nhiên, hai làn sóng đầu tiên (1870-1914 và 1945-
1980) thường được đề cập đến với thuật ngữ “quốc tế hóa”. Chỉ đến làn sóng
toàn cầu hóa thứ ba, tức là từ những năm 1980 đến nay, thuật ngữ “toàn cầu
hóa” mới được sự dụng rộng rãi, để chỉ một làn sóng toàn cầu hóa có sự khác
biệt về chất so với hai làn sóng trước đó.
Việc sản xuất hàng hóa sơ chế đòi hỏi nhiều nhân lực vì vậy trên
toàn thế giới đã diễn ra những luồng di cư lớn từ Châu Âu đến Bắc Mỹ và
Ôtxtrâylia, từ Trung Quốc, Ấn Độ tới các nước thưa thớt dân cư hơn như
Xrilanca, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam v.v. Tổng các luồng di chuyển
lao động trong làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên xấp xỉ bằng 10% dân số thế
giới 12, 38.
Việc sản xuất các hàng hóa sơ chế để xuất khẩu không chỉ cần tới lao
động mà còn cần một lượng vốn lớn. Đến năm 1913, dòng vốn quốc tế hàng
năm đã chiếm 5% GDP của các nước xuất khẩu tư bản, điển hình là Anh,
Pháp và Đức 34, 74. Tới năm 1914, vốn nước ngoài của các nước đang phát
triển đã đạt xấp xỉ 32% thu nhập của các nước này 12, 38. Anh là nước xuất
khẩu tư bản lớn nhất, từ năm 1870 đến năm 1914, xuất khẩu tư bản của Anh
tăng 5 lần. Các nguồn đầu tư vốn của Anh ở nước ngoài đạt trung bình 4,6%
GDP trong những năm 1870-1913, chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nước
xuất khẩu tư bản lớn đương thời.
Giai đoạn 1914 - 1945, làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất bị chấm dứt do
hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc đại suy thoái (1929-1933). Chính phủ
của các nước đã phản ứng với tình trạng suy thoái bằng cách áp đặt Chủ nghĩa
quốc gia như một cố gắng vô vọng để định hướng nhu cầu vào thị trường
trong nước. Trong thời kỳ này, GDP tăng bình quân 2%/năm, trong khi đó,
mức tăng thương mại chỉ đạt 0,6%/năm 39, 39. Tới năm 1950, tỷ lệ xuất
khẩu trên thu nhập thế giới giảm xuống chỉ còn khoảng 5%, gần như trở lại
con số vào năm 1870. Trên thị trường vốn, hầu hết các nước thu nhập cao áp
đặt các biện pháp kiểm soát nhằm ngăn chặn xuất khẩu vốn. Năm 1950, lượng
vốn nước ngoài của các nước đang phát triển giảm xuống chỉ còn bằng 4%
thu nhập, thấp hơn nhiều so với chỉ số này vào năm 1870. Sự trở lại của Chủ
nghĩa quốc gia cũng đi liền với các biện pháp hạn chế ngặt nghèo đối với 11
quan và thương mại (GATT), tiền thân của tổ chức Thương mại Thế giới 12
(WTO) sau này. Ngoài ra, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới
(WB) và một loạt ngân hàng phát triển khu vực cũng được thành lập nhằm hỗ
trợ cho hệ thống tài chính tiền tệ thế giới mới.
Làn sóng toàn cầu hóa thứ ba bắt đầu từ những năm 1980, và đang
ngày càng trở thành một xu thế tất yếu, với sự phát triển mạnh mẽ hơn bao
giờ hết. Nó đang cuốn tất cả các nước, kể cả những nước chậm phát triển nhất
vào quỹ đạo của mình. Làn sóng toàn cầu hóa thứ ba được thúc đẩy bởi những
cơ sở khách quan và có những đặc trưng riêng, khác biệt về chất so với các
làn sóng toàn cầu hóa trước đó.
1.1.2 Cơ sở khách quan của toàn cầu hóa
1.1.2.1 Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Một vài thập kỷ vừa qua, thế giới đã chứng kiến những bước nhảy vọt
trong sự phát triển của khoa học và công nghệ, với những tiến bộ nhanh
chóng hơn và căn bản hơn. Điều này đang làm hạ thấp chi phí sản xuất hàng
hóa, dịch vụ với một tốc độ chưa từng thấy trước đây. Dẫn đầu trong những
biến đổi này là những thành tựu to lớn trong lĩnh vực công nghệ sinh học,
công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ vật liệu v.v. Đây là những lực
đẩy mạnh mẽ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa.
Những công nghệ này đều có những bước nhảy vọt căn bản trong quá
trình đổi mới - chúng không chỉ là những cách thức tốt hơn để thực hiện cái
cũ mà còn là những cách thức hoàn toàn mới để thực hiện những cái mà trước
đây không thể hình dung được 21, 63.
Về công nghệ sinh học, việc khám phá ra cấu trúc ADN, hiểu biết được
mật mã của sự sống là một bước ngoặt trong lịch sử sinh học. Công nghệ sinh
học đang phá vỡ những giới hạn của tự nhiên, tạo ra những cơ thể mới, những
một dặm giảm xuống một nửa vào giai đoạn 1960 - 1990 21, 31. Khả năng
đi lại dễ dàng, Internet và truyền thông đại chúng đã kích thích theo cấp số
nhân việc trao đổi các ý tưởng và thông tin, và việc con người ngày nay tham
gia nhiều hơn bao giờ hết vào những hiệp hội, đã mở rộng đường biên giới
quốc gia - từ các hệ thống không chính thức tới các tổ chức chính thức.
Chi phí vận tải, liên lạc giảm làm cho khả năng bán hàng đi các thị
trường xa càng tăng lên, thương mại toàn cầu càng có khả năng phát triển.
Quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất giữa các quốc gia
và châu lục càng trở nên sâu sắc hơn. Ngày nay, phân công lao động quốc tế đã 14
đạt tới trình độ không chỉ chuyên môn hóa sản phẩm hoàn chỉnh mà là chuyên
môn hóa cả chi tiết sản phẩm cho từng quốc gia. Một sản phẩm hoàn chỉnh (như
máy bay Boing, ô tô, máy tính v.v.) có thể là kết quả hoạt động của hàng trăm,
thậm chí hàng nghìn xí nghiệp đặt ở khắp nơi trên thế giới, mà không phụ thuộc
vào vị trí của nguồn nguyên liệu. Các quan hệ sản xuất, thương mại có tính toàn
cầu đã kéo theo các dòng tiền tệ, vốn, dịch vụ v.v. vận động trên phạm vi toàn
cầu. Công nghệ thông tin đã làm cho các dòng vận động này càng trở nên nhanh
chóng, dễ dàng, thuận tiện. Thương mại điện tử xuất hiện với kim ngạch ngày
càng tăng và đang trở thành một loại hình buôn bán toàn cầu đầy triển vọng. Một
số chuyên gia của WTO dự đoán trong hai mươi năm tới sẽ có khoảng 300 triệu
người sử dụng mạng Internet để thực hiện các giao dịch kinh doanh và khối
lượng giá trị của ngành thương mại điện tử này sẽ tăng lên khoảng 300 tỷ USD
vào thời điểm đó 1, 167.
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ cũng tạo ra nhiều loại vật liệu
mới như chất dẻo đặc biệt, vật liệu tổng hợp, sợi quang học, gốm sứ cứng v.v.
thay thế ngày càng nhiều những nguyên liệu truyền thống đang bị cạn kiệt
trong thiên nhiên. Bên cạnh đó, nhiều nguồn năng lượng mới được phát hiện
và đưa vào sử dụng ngày càng phổ biến trong sản xuất và đời sống, như
khẩu của các nước đang phát triển, thực chất là đẩy mạnh tiến trình hội nhập
của các nền kinh tế này vào nền kinh tế thế giới nói chung. Năm 2004, xuất
khẩu của các chi nhánh công ty xuyên quốc gia ở nước ngoài trên toàn thế
giới đạt 3.690 tỷ USD 36, 14. Có thể lấy ví dụ từ nền kinh tế Trung Quốc -
nước nhận FDI lớn nhất trong số các nước đang phát triển trên toàn thế giới
(tổng lượng vốn FDI vào Trung Quốc đạt 61 tỷ USD năm 2004 36, 84): Từ
năm 1991 đến 2001, tỷ phần của các chi nhánh công ty xuyên quốc gia trong
tổng lượng xuất khẩu của Trung Quốc tăng từ 17% lên 50% 35. Trong lĩnh
vực xuất khẩu công nghệ cao (tỷ phần của lĩnh vực này trong thương mại tăng
từ 3% lên 22% trong giai đoạn 1985 - 2000), các chi nhánh nước ngoài chiếm
tới 96% xuất khẩu của Trung Quốc vào năm 2000, về các thiết bị xử lý dữ
liệu tự động, các công ty này chiếm 85% xuất khẩu, và về lĩnh vực xuất khẩu
điện thoại di động, chúng chiếm giữ 96% xuất khẩu của Trung Quốc vào năm
2000 35, 162-163. 16
Cùng với việc thúc đẩy hoạt động thương mại khu vực và toàn cầu, các
công ty xuyên quốc gia còn thực hiện và thúc đẩy quá trình tự do hóa đầu tư.
Năm 2005, tổng FDI trên thế giới là 648 tỷ USD, trong đó mức FDI qua kênh
các công ty xuyên quốc gia chiếm một tỷ lệ lớn, riêng ở các nước đang phát
triển đã thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 233 tỷ USD 36, 3,
7. Việc gia tăng mạnh mẽ FDI vào các nền kinh tế, đặc biệt là với các nước
đang phát triển, có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
theo hướng hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Cơ cấu đầu tư cũng có sự thay
đổi, bao gồm cả đầu tư vào những lĩnh vực có trình độ công nghệ cao, đầu tư
cả trong sản xuất sản phẩm hữu hình và vô hình. Điều này có tác động lớn
đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của các quốc gia đang phát
triển và thúc đẩy các nước này nâng dần mức độ tự do hóa đầu tư.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, vốn đang ngày càng bị tập trung
lượng sản xuất làm cho quy mô sản xuất không bị bó hẹp trong phạm vi của
từng quốc gia mà mang tầm quốc tế, thúc đẩy quá trình phân công lao động
quốc tế, gắn các quốc gia vào sự ràng buộc của hệ thống sản xuất và tiêu thụ
trên phạm vi thế giới. Sự cùng tồn tại cơ chế thị trường trong các nền kinh tế
có nghĩa là cùng tồn tại cơ chế và phương thức phân bổ các nguồn lực từ sức
lao động, đến tư liệu sản xuất v.v. Điều này rõ ràng là có ý nghĩa cho thúc đẩy
mở rộng đầu tư, giao dịch thương mại và tiếp nhận nguồn lao động v.v. Kinh
tế thị trường càng phát triển cũng có nghĩa là độ mở cửa nền kinh tế càng cao,
đồng thời kéo theo sự hình thành, phát triển của nhiều thị trường với những
công cụ và phương thức giao dịch mới, điều này cũng là cơ sở cho sự gia tăng
quá trình toàn cầu hóa.
Như vậy, bản chất của kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mở,
coi trọng hiệu quả, dựa trên phân công lao động và chuyên môn hóa ngày
càng sâu sắc, nhằm phát huy tối đa lợi thế của mỗi đơn vị kinh tế cũng như cả
nền kinh tế. Điều này thúc đẩy mạnh mẽ sự liên kết giữa các quốc gia trên
phạm vi toàn thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải mở rộng quan hệ giao lưu
với các nước khác về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, không bị giới hạn bởi
các đường biên giới lãnh thổ quốc gia và ranh giới dân tộc, chủng tộc, tôn
giáo. Chính vì vậy, sự hình thành và hội nhập của các nền kinh tế thị trường
vào hệ thống kinh tế thế giới là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết
định, tạo cơ sở kinh tế cho quá trình toàn cầu hoá, đẩy mạnh các quan hệ hợp
tác và cạnh tranh về nhiều mặt giữa các chủ thể của nền kinh tế thế giới. 18
1.1.2.4 Quá trình giải điều tiết ở các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật
Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, song tốc độ của toàn cầu hóa phụ
thuộc rất nhiều vào chính sách của các quốc gia. Các chính sách này có phù
hợp với xu thế chung của tiến trình tự do hóa hay không, có tích cực tham gia
vào quá trình phá bỏ các rào cản hạn chế dòng luân chuyển của các yếu tố sản
phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế thông qua thực
hiện phân công lao động quốc tế dựa trên những thế mạnh của từng nền kinh
tế dân tộc.
Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự bành
trướng của các công ty xuyên quốc gia, sự phát triển của kinh tế thị trường cùng với
sự giải điều tiết và chính sách mở cửa của các quốc gia trên thế giới chính là những
cơ sở khách quan dẫn tới và đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa cũng như xác định rõ
những đặc trưng của quá trình hội nhập toàn cầu.
1.1.3 Đặc trƣng của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng mới. Nó đã có một quá
trình lịch sử phát triển lâu dài của mình. Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa
hiện nay có những đặc trưng riêng, những nét khác biệt về chất so với toàn
cầu hóa ở các thời kỳ trước trong lịch sử. Toàn cầu hóa trong kỷ nguyên này
diễn ra trên nền tảng các công cụ mới, với sự xuất hiện của những nhân vật
mới, những thị trường mới, giá trị mới và vận động dựa trên khuôn khổ
những quy tắc điều chỉnh mới.
1.1.3.1 Toàn cầu hóa gắn liền với sự ra đời của thời đại kinh tế mới -
kinh tế tri thức
Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, kỹ
thuật, nền kinh tế thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, đã và đang có
những bước chuyển biến sâu sắc về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt
động. Nền kinh tế thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới, một
phương thức sản xuất mới dựa trên sự phát triển mới về chất của lực lượng
sản xuất - Kinh tế tri thức. Xu hướng phát triển kinh tế tri thức đang giữ vị trí
hàng đầu của quá trình tương tác trên toàn cầu, tạo ra những đặc trưng cơ bản
của quá trình toàn cầu hóa ngày nay.
Kinh tế tri thức là một nền kinh tế lấy tri thức làm cơ sở, trong đó sự
sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự
phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong nền
chất lượng khác hẳn. Trong khi đó, cách đây 100 năm, để làm việc này, loài
người cần hơn ba lần thời gian đó. Càng lùi vào quá khứ thì quãng thời gian
nhân đôi tri thức càng lớn, đo bằng thế kỷ và thiên niên kỷ. 21
Cùng với tốc độ sản sinh tri thức, sự phát triển của công nghệ thông tin
có tác động làm cho các tri thức mới, đặc biệt là thành tựu khoa học - công
nghệ, được phổ biến và ứng dụng hết sức nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu.
Quy trình từ khoa học - công nghệ đến sản xuất ngày càng được rút ngắn, do
vậy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới công nghệ, thay đổi chủng loại
hàng hóa, sản phẩm cũng như nhiều ngành sản xuất. Vòng đời của một sản
phẩm, một công nghệ bị rút ngắn; quá trình từ khi ra đời, phát triển rồi tiêu
vong của một lĩnh vực sản xuất, hay một công nghệ chỉ trong mấy năm, thậm
chí là mấy tháng. Chính vì vậy, sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên là động
lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự phát triển. Cùng với sự ra đời của các sản phẩm
mới, giá cả sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ cao, đang trong xu
hướng giảm dần. Dường như có một quy luật: Các sản phẩm càng hiện đại thì
tốc độ biến đổi giá cả càng cao.
Hình 1.2: Giá truy cập Internet và số thuê bao Internet
Số thuê bao trên 1000 dân và giá cả tính theo đồng USD ngang giá sức mua (USD PPP)
Nguồn: OECD: Consumers in the online marketplace, OECD Workshop on the guide lines:
One year latter, Berlin, 13-14 March 2001
Tốc độ biến đổi cực kỳ nhanh chóng trong việc sản sinh, ứng dụng và
phổ biến tri thức đã dẫn đến hệ quả là tốc độ thay đổi sản phẩm, thay đổi
tương quan về sức cạnh tranh, tốc độ di chuyển vốn, tốc độ tiếp cận và xử lý
thông tin, tốc độ biến đổi của các quá trình kinh tế xã hội v.v. được đẩy lên rất