Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất
lượng củ giống hoa lily Sorbonne tại thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hoa lily là loài hoa có nguồn gốc ôn đới, có vẻ đẹp sang trọng, được thị
hiếu người tiêu dùng rất ưa chuộng và hiện đang là những loại hoa có giá trị
kinh tế cao. Lily là loài hoa cắt cành cao cấp có vẻ đẹp sang trọng, độ bền cao,
hương thơm ngọt ngào, phong phú về màu sắc; không chỉ để trang trí mà còn
được sử dụng điều chế nước hoa, mỹ phẩm, kem chống lão hóa…
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp giai đoạn 2010-2020, việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện
tích đất đai đang là một yêu cầu bức thiết của sản xuất. Thực tế trong những
năm qua, ở hầu hết tất cả các địa phương trong cả nước đã có nhiều mô hình
chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao, trong đó phải kể đến là
những mô hình trồng hoa có giá trị cao.
Phú Thọ là một tỉnh trung du, có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó phát triển cây hoa lily có rất nhiều tiềm
năng. Tuy nhiên, giống hoa đều phải nhập khẩu từ nước ngoài, chi phí rất cao từ
14 – 15.000đ/củ và đôi khi không chủ động về nguồn giống. Do vậy việc nghiên
cứu sản xuất củ giống nhằm hạ giá thành sản xuất, chủ động cung ứng giống cho
thị trường là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất
lượng củ giống hoa lily Sorbonne tại thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ".
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất lượng củ giống
hoa lily, góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống củ hoa lily trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ.
3. Yêu cầu
Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ sau thu
chục vẩy hợp lại, có hình cầu dẹt, hình trứng, hình trứng dài, hình elip… Chất
đất, kỹ thuật trồng và tuổi của thân vẩy ảnh hưởng đến hình thái thân, không có
vỏ bao bọc. Mầu sắc thân vẩy tuỳ theo loài, giống khác nhau có mầu trắng,
vàng, đỏ cam, đỏ tím…Độ lớn của thân vẩy khác nhau do loài, giống. Loại nhỏ
chu vi 6 cm nặng 7 – 8g, loại to chu vi 24 – 25 cm nặng trên 100g, loại đặc biệt
chu vi 34 – 35 cm nặng 350g.
Độ lớn của thân vẩy tương quan chặt chẽ với số nụ hoa. Ví dụ giống lily
loại Thơm chu vi 10 – 13cm có 1- 2 nụ, chu vi 12 – 14cm có 2- 4 nụ, chu vi 14 –
16cm có trên 4 nụ.
Vốn có hình elip, hình kim xoè ra có đốt hoặc không có đốt, mầm vẩy to
ở ngoài, nhỏ ở trong là nơi dự trữ của thân vẩy. Trong đó nước chiếm 70%, chất
bột 23%, một ít lượng protein chất khoáng, chất béo. Bóc bỏ lớp thân vẩy thì tốc
độ nảy mầm của củ càng nhanh, nhưng giảm tốc độ hình thành và lớn của các cơ
quan, giảm số lá và hoa, hoa ra muộn hơn.
4
b/ Rễ
Rễ Lily gồm 2 phần: rễ thân và rễ gốc. Rễ thân còn gọi là rễ trên do
phần thân mọc dưới đất sinh ra có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh
dưỡng, tuổi thọ 1 năm. Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh ra từ gốc thân vẩy, có
nhiều nhánh to khoẻ, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng của lily, rễ
lily có tuổi thọ đến 2 năm.
c/ Lá
Lily nhiều lá mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xoè, hình thuỗn, hình
giải đầu hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn, xanh, lá to hay nhỏ tuỳ
thuộc vào giống, điều kiện trồng và thời gian xử lý. Lá có từ 1 – 7 gân, gân giữa
rõ ràng hơn, giữa lá lõm xuống, lá mầu xanh bóng mềm.
d/ Củ con và mầm hạt
Đại bộ phận Lily có củ con ở gần thân rễ có đường chu vi 0,5 – 3cm số
lượng tuỳ thuộc giống và điều kiện trồng. Giống lily Quyển Đan và các giống
tạp Giao mạch lá có mầm hạt hình cầu hoặc hình trứng. Khi chín có mầu tím tối,
nền cách nhau 3cm, độ sâu cắm bằng 1/3 đến chiều dài vẩy. Để kích thích ra rễ
có thể dùng NAA nồng độ 100 mg/l phun vào vẩy tỷ lệ ra rễ cao và củ ra rễ
nhanh cây sinh trưởng nhanh. Khi chăm sóc dùng bình phun nước vào vẩy làm
cho vẩy tiếp xúc tốt với đất nền, duy trì ở nhiệt độ 20 – 25
o
C, độ ẩm 30-35%,
sau đó tưới ít nước đề phòng vẩy bị thối. Sau 40 – 60 ngày ở vết thương của vẩy
sẽ ra củ con có rễ, mỗi vẩy có thể đẻ ra 1 – 4 củ con, khi mỗi củ con có đường
kính 0,3 – 1cm sẽ mọc ra 1 -5 rễ con, đợi khi củ con lớn có thể bứng cây con đi
chăm sóc.
b/ Tách củ
Thường thực hiện vào mùa xuân và mùa thu. Chọn củ không sâu bệnh chu
vi từ 8 – 10 cm ngâm trong dung dịch Foocmalin 1/80 lần trong 30 phút lấy ra
rửa sạch hong khô. Lily là cây ưa khí hậu mát và ẩm nên đất trồng phải chọn nơi
nhiệt độ trung bình tháng 7 không quá 22
o
C, đất tốt tơi xốp có điều kiện tưới
nước. Luống rộng từ 100 – 120cm, độ dài tuỳ ý. Khoảng cách hàng và cách cây
10x20cm, mỗi luống rạch 5-6 hàng sâu 12cm, rạch xong tưới đủ nước đợi nước
ngấm đi rồi đặt củ vào hàng cách nhau 10cm, sau đó lấp đất dày 8- 10cm. Chăm
sóc cây con sau khi cây mọc đều thì bón 1 ít đạm, có thể kết hợp bón FeSO
4
để
điều chỉnh độ chua. Mỗi ha bón 37kg (NH4)
2
HPO
4
, 74kg ure, 3,75kg SO
4
hoà
nhau 2 – 3cm, gieo hạt xong phủ 1 lớp đất mỏng. Hạt mới thu về thì nảy mầm
nhanh bảo quản càng lâu sức nảy mầm càng kém. Đặt chậu gieo hạt vào trong
nhà ấm, đậy kính hoặc nilon lên trên để giữ nhiệt. Khi nảy mầm trước hết mọc
ra lá mầm giống như cỏ sau đó ra lá rất nhanh, gieo hạt vào vụ xuân đến vụ thu
đã có một số lớn cây ra hoa. Nhân giống bằng hạt có nhiều ưu điểm, được nhiều
cây khoẻ không bị bệnh, có thể được những loại hình mới do tạp giao. Nhưng
đối với đa số Lily từ gieo hạt cho đến khi ra hoa phải mất từ 3 đến 4 năm nên
người ta ít sử dụng phương pháp này [4].
d/ Nhân giống bằng mầm hạt
Có một số Lily nách lá có thể sinh ra nhiều mầm hạt đen tím, mầm hạt
là do một số vẩy hợp lại nó có thể ra rễ, ra lá nếu hái xuống rồi trồng có thể
thành cây con.
1.1.4. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh
a/ Nhiệt độ
Lily là cây chịu rét khá chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích
hợp ban ngày là 20 – 25
o
C ban đêm là 12
o
C. Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng đến
sinh trưởng và phát dục của lily, quan trọng nhất là ảnh hưởng đến nẩy mầm của
hạt, đến phát dục của thân, đến sinh trưởng của lá. Xử lý củ giống dòng tạp giao
lily Thơm ở nhiệt độ 4 - 5
o
C trong 5 tuần, có thể kích thích lá vươn dài, đốt dài
và tỷ lệ sinh trưởng của cây ( 1,65 lá/ngày), nhưng làm cho thân nhỏ hơn, giảm
số lá và nụ, sau khi xử lý 18 tuần làm giảm rõ rệt tỷ lệ sinh trưởng và số lá. Từ
khi xuất hiện nụ cho đến khi ra hoa nhiệt độ chênh lệch ngày/đêm ảnh hưởng
đến sinh trưởng của thân, nếu nhiệt độ chênh lệch từ -16
o
trong nhà vườn tới 1000u/g sẽ giảm độ nụ bị bại dục và tăng được phẩm chất
hoa [1].
e/ Đất:
Lily có thể trồng trên mọi loại đất, nhưng tốt nhất là trồng trên đất nhiều
mùn, đất thịt pha cát tưới và thoát nước. Lily rất mẫn cảm với muối, đất nhiều
muối cây không hút được nước ảnh hưởng đến sinh trưởng, phân hoá hoa và ra
hoa. Đất kiềm hút sắt, magiê, nhôm không đủ dẫn tới thiếu sắc tố. Các giống
thuộc dòng tạp giao Á châu, lily Thơm yêu cầu pH = 6 – 7, các giống thuộc
dòng Phương Đông yêu cầu thấp hơn pH = 5,5 – 6,5. Đất thiếu canxi lily dễ bị
vàng lá, không ngọn lá.
f/ Phân bón:
Sau khi trồng lily 3 tuần là giai đoạn cần nhiều dinh dưỡng nhất, bởi lúc
này rễ non dễ bị ngộ độc muối. Lily cũng mẫn cảm với Flor dễ bị cháy lá vì vậy
không bón các loại phân có chứa Flor cao mà bón loại phân có hàm lượng Flor
thấp như CaHPO
4
[4].
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Ngày nay, sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và
trở thành một ngành thương mại cao. Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho
nền kinh tế các nước trồng hoa cây cảnh.
8
Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng
tăng lên. Trên thế giới hiện nay sản xuất hoa để xuất khẩu đang trở thành một
ngành mũi nhọn, hầu hết các nước trên thế giới đều có đủ các điều kiện để trở
thành một nước trồng hoa chuyên nghiệp. Các nước khác nhau ở những vùng
địa lý khác nhau có nhu cầu về hoa cũng khác nhau. Nhu cầu thưởng thức hoa
của các nước trên thế giới đều cùng mong muốn được sở hữu những bông hoa
đẹp, thơm, để được thời gian dài, mầu sắc phong phú. Tuy nhiên hoa là cây
trồng sống trong điều kiện tự nhiên có những loại hoa chỉ phù hợp với điều
thêm. Ngắm nhìn những bông hoa ta cảm thấy yêu đời hơn.
Bảng 1.2: Tình hình xuất khẩu hoa một số nước trên thế giới năm 2002
TT N ước % thị trường Loại hoa
1 Hà lan 64,8 Lily, hồng, layơn, đồng tiền, tuylip
2 Colombia 12,0 cúc, hồng, layơn, đồng tiền
3 Isarael 5,7 Cẩm chướng, hồng, Đồng tiền
4 Italya 5,0 hồng, cẩm chướng
5 Tây Ban Nha 1,9 Cẩm chướng, hồng
6 Thái Lan 1,6 Cẩm chướng, phong lan
7 Kenya 1,1 hồng, đồng tiền
8 Các nước khác 7,9 Cẩm chướng, cúc, hồng, layơn, đồng tiền…
(Nguồn: Nguyễn Xuân Linh,2002)
Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhất trên thế giới chiếm 64,8% thị
trường hoa thế giới. Đứng thứ 2 về xuất khẩu hoa là Colombia với 12% thị
trường hoa thế giới. Các loại hoa xuất khẩu chủ yếu cũng là cẩm chướng, layơn,
đồng tiền, hồng Hà Lan vừa nước nhập khẩu hoa về chủ yếu để xuất khẩu.[10]
Theo Roger và Alan, ba nước sản xuất hoa lớn chiếm khoảng 50% sản
lượng hoa của thế giới là Nhật Bản khoảng 3.731 tỷ USD; Hà Lan khoảng 3.558
tỷ USD; Mỹ khoảng 3.270 tỷ USD.[5]
Ngành sản xuất hoa hiện nay đang là ngành cho thu nhập cao nhất trong
nền sản xuất nông nghiệp. Từ trồng hoa cho thu nhập cao gấp 4 - 5 lần so với
trồng các cây trồng khác. Hiện nay, trên thế giới đang có xu thế chuyển những
diện tích đất trồng cây cho thu nhập thấp sang trồng hoa có giá trị kinh tế cao.
Bảng 1.3: Giá trị xuất khẩu hoa một số nước năm 2002
Nước
Giá trị xuất khẩu ( Triệu đôla ) Tỷ lệ thay đổi
năm 2002/2001
Tổng
số
Củ Cây
chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao. Ngoài ra, còn do kỹ thuật điều khiển hoa
phát triển nhanh có thể cho hoa quanh năm. Một nguyên nhân nữa là do có sự
đầu tư cơ giới hoá trong việc trồng và chăm sóc đã làm giảm giá thành, vì vậy
hiệu quả kinh tế từ việc trồng lily cao hơn hẳn trước đây.
Hiện nay Hà Lan mỗi năm trồng 18.000ha hoa lily, trong đó xuất khẩu
70%. Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là một trong
những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á (mỗi năm khoảng
500 triệu USD). Những năm gần đây Hàn Quốc là một trong những nước phát
triển nghề trồng hoa mạnh, lượng xuất khẩu hoa của Hàn Quốc lớn nhất khu vực
Đông Bắc Á. Theo thống kê năm 2002, Hàn Quốc có 15.000 ha trồng hoa với
1,2 vạn người tham gia, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lần năm
11
1989. Trong đó, lily là loại cây có hiệu quả kinh tế cao nhất trong các loại hoa ở
Hàn Quốc.[10]
Kenia là nước sản xuất hoa chủ yếu của châu Phi và là nước xuất khẩu
hoa tươi lớn nhất châu lục này. Hiện nay, nước này có tới 3 vạn nông trường
với hơn 2 triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa phăng, hoa lily, hoa hồng.
Mỗi năm nước này xuất khẩu sang châu Âu 65 triệu USD, trong đó riêng hoa
lily chiếm 35%.
Công nghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, trình độ
canh tác còn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản, năm 2001 nước này đã có
490ha trồng lily, trong đó xuất khẩu lily cắt cành đạt 7,4 triệu USD.
Hà Lan là nước có công nghệ tạo giống và trồng lily tiên tiến nhất hiện
nay. Mỗi năm Hà Lan tạo ra từ 15 - 20 giống mới, sản xuất 1,3 triệu củ giống
lily, cung cấp cho 35 nước khác nhau trên toàn thế giới.
Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước trồng lily lớn khác như: Italia,
Mỹ, Đức, Mêhycô, Côlômbia, Israel
1.2.1. Sản xuất và tiêu thụ hoa ở châu Á
Châu Á có 134.000 ha trồng hoa chiếm khoảng 60% diện tích trồng hoa
của thế giới nhưng diện tích trồng hoa thương mại nhỏ. Tỷ lệ thị trường hoa
Hàn Quốc là nước sản xuất hoa ở vùng Bắc Á, với các loại hoa nổi
tiếng: cúc, lily, và địa lan. Diện tích trồng trọt tăng nhanh từ 2249 ha (1985) lên
4.6.22 ha (2002) và thu lại lợi nhuận cao từ trồng hoa với 789 tỷ won (tương
đương 607 triệu USD).
Sản xuất hoa ở châu Á là một tiềm năng quan trọng thúc đẩy nghề trồng
hoa phát triển trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay sự phát triển hoa của các nước
Châu á gặp các điều kiện thuận lợi và hạn chế sau:
- Thuận lợi:
+ Có nguồn gen cây hoa phong phú, đa dạng
+ Khí hậu nhiệt đới, đất đai phù hợp với sinh trưởng và phát triển của
nhiều loài hoa
+ Lao động dồi dào, giá lao động thấp
+ Chính phủ đầu tư khuyến khích phát triển hoa
- Hạn chế:
+ Thiếu giống hoa đẹp, chất lượng cao
+ Chưa có kỹ thuật sản xuất hoa thương mại
+ Vốn đầu tư cao, vay vốn với lãi suất cao
+ Cơ sở hạ tầng cho sản xuất, bảo quản, vận chuyển còn thiếu
+ Thông tin về thị trường chưa đầy đủ
+ Thiếu vốn đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo cán bộ
+ Thuế cao, sự kiểm dịch khắt khe của các nước nhập khẩu
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tại Việt Nam
13
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha, trong đó diện tích
trồng hoa còn hạn chế chỉ chiếm khoảng 0,02 % diện tích trồng trọt. Diện tích
hoa tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống như: Ngọc Hà, Quảng An,
Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Gò Vấp,
Hoóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh), Đà Lạt với tổng diện tích trồng hoa
khoảng 3.500 ha.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2003 cả nước có 9.430 ha hoa
nước ngoài sản xuất hoa chủ yếu cho xuất khẩu. Hoa tiêu thụ trong nước chủng
loại đa dạng và cung cấp ra thị trường theo mùa vụ, chất lượng từ thấp đến cao,
giá cả vừa phải hiệu quả kinh tế không cao, sản xuất nhỏ lẻ thiếu ổn định. hiện
nay, Việt Nam đã xuất khẩu được các sản phẩm hoa cắt cành như hoa hồng,
phong lan, đồng tiền, layơn, lily… sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,
Nhật Bản, ….Tuy nhiên số lượng xuất khẩu không nhiều với doanh thu hơn 10
triệu USD/năm. Sở dĩ sản phẩm hoa cây cành Việt Nam khó thâm nhập vào thị
trường thế giới là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp
ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế.
Ở Việt Nam đã hình thành 3 vùng trồng hoa lớn sau:
- Vùng trồng hoa Đồng bằng sông Hồng: với khí hậu bốn mùa và nhiều
vùng khí hậu đặc thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa. Hoa được trồng
hầu hết ở các tỉnh trong đó tập trung ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải
Phòng, Nam Định, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Hoa ở vùng này chủ yếu phục vụ nhu
cầu trong nước và một phần xuất khẩu sang Trung Quốc
(cúc, hồng ). Hồng là loại hoa trồng phổ biến nhất chiếm 35%, hoa cúc chiếm
30%, hoa đồng tiền là 10%, các loại hoa khác 25%.
- Vùng trồng hoa Đà Lạt: Đà Lạt có điều kiện thời tiết khí hậu rất phù hợp
cho trồng các loại hoa, đây là nơi sản xuất các loại hoa cao cấp với chất lượng
tốt: lily, hồng, đồng tiền, lan Riêng phong lan, địa lan theo thống kê cho thấy
Việt nam có 125 chi, 800 loài lan mọc ở thiên nhiên nước ta. Họ lan đã trở thành
đối tượng cực kỳ phong phú, đặc sắc của hệ thực vật Việt Nam
(Võ Văn Chi - Trần Hợp - Trần Minh Tâm)[13].
- Vùng trồng hoa Đồng bằng sông Cửu Long: đây là vùng trồng hoa có
khí hậu ấm, nóng quanh năm nên thích hợp với nhiều loại hoa nhiệt đới: hoa lan,
đồng tiền Thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát triển hoa lan nhiệt đới nhanh
nhất trong cả nước, nhiều trang trại hoa lan được thành lập, kinh doanh và phát
triển mô hình theo trang trại hoa lan tại Thái lan.
Lâm Đồng được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước
với khả năng sản xuất hầu như quanh năm. Diện tích trồng hoa của Lâm Đồng
4 2004 9.500
5 2005 13.000
6 2010 16.000 (ước tính)
( Viện nghiên cứu rau-quả, 2006)
1.2.3. Phương hướng phát triển sản xuất và xuất khẩu hoa tươi đến năm
2015 của nước ta
16
a. Về ứng dụng công nghệ cao: đã được cải thiện đáng kể như thay đổi cơ
cấu giống, nuôi cấy mô, kỹ thuật canh tác, Bảo vệ thực vật tiên tiến, áp dụng
công nghệ nhà lưới có mái che sáng…Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra không
đồng đều giữa các vùng sản xuất vì có nhiều lí do ( khí hậu thời tiết, trình độ
thâm canh, khả năng đầu tư, khả năng tiếp cận kỹ thuật tiến bộ và thị trường),
Đà lạt có thể coi là địa bàn có tiến bộ nhanh nhất trong cả nước về phát triển sản
xuất hoa cắt cành.
b. Kỹ thuật sản xuất hoa: ở nhiều nơi vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và
phương pháp nhân giống cổ truyền như: gieo từ hạt, trồng từ củ, mầm nhánh. Các
phương pháp này dễ trồng, giá thành cây giống thấp nhưng chất lượng giống
không cao, dễ bị thoái hóa, làm giảm chất lượng hoa. Vì vậy tuy chủng loại hoa
của Việt Nam khá phong phú nhưng thiếu giống hoa đẹp, chất lượng cao.
c. Về qui mô và tổ chức sản xuất: hầu hết những cơ sở sản xuất hoa cắt
cành ở nước ta còn ở qui mô nông hộ nhỏ, tổ chức sản xuất đơn lẻ, với diện tích
trung bình từ 2000 - 3000 m
2
/hộ. Hộ sản xuất hoa cũng chỉ từ 1 - 2ha. Ở qui mô
sản xuất này không thể áp dụng những tiến bộ như nhà kính, nhà lưới, sân bãi,
mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo quản, vận chuyển lạnh…để đưa sản xuất trở
thành sản xuất công nghiệp. Từng hộ nông dân sản xuất đơn lẻ, thiếu hợp tác là
trở ngại lớn cho việc tạo nguồn hàng hóa lớn và đa dạng với chất lượng hoa cao,
đồng nhất.
d. Nhìn chung sản xuất hoa ở nước ta bị hạn chế rất lớn về thời vụ do
sĩ, kỹ sư, sinh viên (Phân viện sinh học Đà Lạt) triển khai nhiều đề tài nghiên
cứu nhân giống vô tính hoa lily.
Thời gian gần đây Phân viện sinh học Đà lạt lại có bước đột phá khi
nghiên cứu sản xuất thành công củ giống hoa lily, có thể cung ứng cho thị
trường với giá 3.000 - 5.000 đồng (tùy theo loại, mầu sắc) chỉ bằng 1/2 hoặc 1/3
giá nhập ngoại.
Các nhà khoa học thuộc Phân viện Công nghệ sinh học Đà Lạt và trường
Đại học khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) đã cho ra đời phương
pháp nhân giống thành công cây hoa lily bằng kỹ thuật nuôi cấy bioreactor. Từ
tế bào của củ hoa lily được nuôi cấy trong bình thủy tinh, được thiết kế chuyên
biệt và đặt trên máy lắc. Sau 3 tháng nuôi cấy, tế bào mô sẽ ra rễ và tạo củ. Sau
đó củ sẽ được nuôi cấy bằng kỹ thuật bioreactor. Từ 1 củ con ban đầu, sau 3
tháng nuôi cấy có thể tạo ra 3 - 4 củ mới. Kỹ thuật nuôi cấy này mở ra triển
vọng mới trong nhân giống và sản xuất cây lily con giá rẻ, chất lượng tốt.
1.4. Kỹ thuật trồng hoa lily
Kỹ thuật trồng hoa lily được tóm tắt theo qui trình sau:
1.4.1. Làm đất và lên luống
- Chọn đất trồng tơi xốp, thoát nước tốt.
- Kiểm tra độ chua của đất để điều chỉnh pH cho thích hợp.
18
- Xử lý đất bằng Foocmaline với tỷ lệ 1/80 - 1/100, tủ nilon 3 - 5 ngày sau
đó mở ra cho đất hả hơi, 3 - 5 ngày nữa mới tiến hành trồng.
- Có thể ngâm ruộng, tốt nhất là đất trồng luân canh với các cây trồng
nước, không dùng đất đã trồng các cây dạng củ: layơn, lily…
- Cách làm đất: cầy lật đất, bừa nhỏ phẳng, nhặt sạch cỏ rác.
- Lên luống: độ cao thấp của luống tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, địa
thế đất mà lên luống đảm bảo thoát nước tốt tránh được ngập úng, chân luống
rộng 1,6 m, mặt luống rộng 1- 1,2m, độ cao của luống 30 - 35cm.
1.4.2. Chuẩn bị phân bón lót
- Trước khi trồng trải đều phân trên mặt luống trộn đều phân với đất.
+ Giai đoạn sinh trưởng lá: Sau khi cây mọc 2 - 3 tuần cho đến khi cây có
nụ bón 50g ure + 50g K
2
SO
4
cho 10 m
2
, chia làm 2 - 3 lần.
+ Giai đoạn ra nụ: bón đạm với nồng độ thấp có thể dùng KNO
3
50 -
200g/m
2
- Lily rất cần kali để tăng sức chống chịu và cho hoa đẹp. Cần bón đủ dinh
dưỡng cho cây.
- Cần duy trì ẩm độ ở giai đoạn đầu cho cây ( 80 - 85 %)
- Có thể áp dụng tưới phun, tưới ngấm, tưới nhỏ giọt
1.4.8. Làm cỏ, xới xáo, làm giàn đỡ cây
- Thường xuyên nhổ sạch cỏ, mặt luống luôn tơi xốp. Xới nhẹ khi cây còn
nhỏ đến khi cây cao được 60 cm thì không cần xới nữa
- Khi cây cao được 20 cm thì có thể dùng lưới căng để đỡ cây, nâng lưới
dần theo chiều cao của cây, cũng có thể dùng cọc để đỡ cây.
1.4.9. Công tác phòng trừ sâu bệnh hại
- Bệnh khô lá: làm lá có vết bệnh mầu nâu dài 6 cm, giữa đốm nâu có
đốm vàng. Dùng Boocdo hoặc Daconil.
- Bệnh mốc tro: có các vết tròn hoặc hình trứng mầu tro, khi bị ẩm độ cao.
Dùng Score hoặc Rovral.
- Bệnh thối rễ, củ: dùng Vicacben, Rhidomil
- Bệnh do virus: gây héo, bạc lá. Chỉ phòng là chính.
thu thập số liệu từ các nguồn: Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Trạm
khí tượng thuỷ văn, Trung tâm khuyến nông, Trung tâm thực nghiệm trường
Đại học Hùng Vương, các tạp chí chuyên ngành
2.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
( RCBD) 10 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm là 1 m
2
, chiều dài 1
m, chiều rộng 1 m cho 1 lần nhắc, diện tích khu thí nghiệm là 30 m
2
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
I 5 8 1 10 6 7 2 9 4 3
II 10 3 6 4 2 1 5 7 8 9
III 7 2 9 5 8 4 3 10 6 1
Công thức 1: cắt cao 10 cm, để củ 1 tháng
Công thức 2: Cắt cao 20 cm, để củ 1 tháng
Công thức 3: Cắt cao 30 cm, để củ 1 tháng
Công thức 4: Cắt cao 10 cm, để củ 2 tháng
Công thức 5: Cắt cao 20 cm, để củ 2 tháng
Công thức 6: Cắt cao 30 cm, để củ 2 tháng
Công thức 7: Cắt cao 10 cm, để củ 3 tháng
Công thức 8: Cắt cao 20 cm, để củ 3 tháng
Công thức 9: Cắt cao 30 cm, để củ 3 tháng
Công thức 10 (Đ/C): không xử lý, dùng củ thương mại được cung cấp bởi
công ty giống cây trồng.
Mỗi công thức 15 củ, với 3 lần nhắc lại tổng thí nghiệm là 450 củ.
- Vụ Đông xuân năm 2010 - 2011 trồng thí nghiệm để lấy củ cho thí
nghiệm vụ tiếp theo. Sau khi thu hoạch hoa, củ lily được xử lý theo các công
thức thí nghiệm, sau đó đưa vào bảo quản ở nhiệt độ 4 - 6
mặt đất.
- Thời gian xòe lá thứ nhất: theo dõi ngày đạt 10%, 50%, 80% cây xòe lá
thứ nhất (ngày)
2.3.5.3. Các chỉ tiêu về hoa
- Ngày ra nụ đầu tiên: là ngày có 10%, 50%, 80% số cây ra nụ đầu tiên.
- Số hoa trên cây (hoa/cây): mỗi lần nhắc lại đếm 10 cây.
- Ngày hoa hé nở (ngày): theo dõi từ trồng đến 10 %, 50%, 80% số cây có
hoa hé nở trên từng công thức.
- Ngày hoa thứ nhất nở hoàn toàn (ngày): theo dõi từ trồng đến 10%,
50%, 80% số cây có hoa nở hoàn toàn của từng công thức.
- Ngày hoa thứ nhất có mầu (ngày): từ trồng đến 10 %, 50%, 80% số cây
có hoa thứ nhất có mầu của từng công thức.
- Phân loại hoa.
2.3.5.4. Độ bền hoa
- Hoa cắt: khi hoa đầu tiên hé nở, cắt vào cắm trong lọ nước sạch mỗi
ngày thay nước một lần, xác định số ngày hoa tồn tại ( nở, héo, tàn), số ngày cả
cành hoa tàn ( hoa cuối cùng tàn), mỗi nhắc lại cắm 3 cành.
23
- Theo dõi độ bền hoa tự nhiên: khi hoa đầu tiên hé nở, xác định số
ngày một hoa tồn tại ( nở, héo, tàn), số ngày cả cành hoa tàn, mỗi nhác lại
theo dõi 3 cành.
2.3.5.5. Tình hình sâu bệnh
- Bệnh hại, đếm số cây bị bệnh ở từng thời điểm xuất hiện bệnh trên tổng
số cây/ô.
- Sâu hại, đếm số cây bị sâu hại ở từng thời điểm xuất hiện sâu trên tổng
số cây/ô.
2.3.5.6.Hạch toán thu chi
Tính toán thu, chi của từng công thức, tính toán lãi thuần thu được trên
một đơn vị diện tích.
24
- Số rễ/ cây ở các công thức có sự biến động từ 3-13,3 rễ. Trong đó thấp
nhất là công thức 8, thấp hơn đối chứng 9,7 rễ ở mức tin cậy 95%.
- Tỷ lệ nảy mầm ở các công thức đều thấp hơn công thức đối chứng ở
mức tin cậy 95%.
3.2. Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến khả năng
sinh trưởng của lily Sorbonne
25