ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÀN VÃN
***************
“ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ” & “NAM PHONG TẠP CHÍ” VỚI
Sự PHÁT TRIỂN CHỮ QUỐC NGỮ VÀ GIÁO DỤC B ANG
CHỮ QUỐC NGỮ HỔI ĐẦU THÊ KỶ XX.
Mã sỏ Q X. 2002. 05
D T / i ^ ĩ
Chủ trì đề tài: Thạc sĩ Phạm Thị Thu
Hà Nội tháng 5- 2004
T iế n g n ó i là t h ử c ủ a c ả i vỏ c ù n g l ầ u d ờ i v ả v ô c ù n g q u ý b á u
c ủ a d à n tộ c . C h ú n g ta p h ả i g iữ g ì n n ó . q u ý tr ọ n g n ó. là m c h o n o
p h ổ b i ế n n g à y c à n g r ộ n g k h ấ p "
Chú tịch HỒ CHÍ MINH
(Đ ại /lụi làn th ứ III H òi nha háo Việt nam )
MỤC LỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẤT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẨU 7
1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu và các nguồn tư liệu
10
CHƯƠNG I: NHỮNG TIỀN ĐỂ LỊCH sử XÃ HÔI VIỆT NAM. TỪ CHỮ HAN. CHỮ
NÔM ĐỂN VIỆC GIÁO DỤC BANG CHỮ QUỐC NGỮ HỎI ĐẦU THẾ KỶ
1. Bối cảnh lịch sử và xã hội 14
2. Từ chữ Hán- chữ Nôm- đến sự phát triển cua chừ Quốc niỉừ hòi đấu thô
ký XX
.
.
1. Đỏnơ Dirơn^ tạp chí & Nam Phonơ tạp chí với việc xây dựng chừ Quổc
rmừ. việc chuán hoá bộ phận từ vựna Tiếne Việt hổi đáu thế ky
XX.
.
.
.
’
54
2. ĐÓI1£ £Óp của Đỏns; Dương tạp chí & Nam Phorì£ tạp chí trons việc
ơiáo dục bằn í chữ Quốc ngữ ớ nhà trườna phố thòns
66
2.1. Một chương trình siáo dục mới mé. tươns đối toàn diện và đại
chííne trẽn “Đỏns Dươns tạp chí" 66
2.2. Đóim sóp của Nam Phons tạp chí trons việc giáo dục học và
vài nét về siáo dục hổi đáu thế ký XX 74
3. Đông Dương tạp chí & Nam Phong tạp chí với việc phổ biến chữ Quốc
ngữ và việc dạy Tiếng Việt cho người nước nsoùi nhữns nám đáu thế kv
XX 84
KẾT LUẬN 94
1. Vị trí của ĐDTC & NPTC trong việc siáo dục học
8. HNKH -
Hội nghị khoa học
9. th.p -
Thành phô
10. H-
Hà nội
11. HCM -
Hồ Chí Minh
12. ĐNQATV -
Đại Nam quốc âm tự vị
13. HNKH -
Hội nghị khoa học
14. KHXH -
Khoa học xã hội
15. NXB -
Nhà xuất bàn
16. TĐTV -
Từ điển tiếng Việt
17. CCGD-
Cái cách giáo dục
18. PPGD -
Phương pháp giảng dạy
19. &-
và.
20. KHXHNV -
Khoa học xà hội nhân văn
21. NCS -
Nghiên cứu sinh
22. ĐHKHXH & NV-
Đại học khoa học xà hội và nhân vãn
nhỏ của hai tạp chí này trong việc truyền bá, phổ biến chữ quốc ngữ. Đặc biệt là nội
dung giáo dục học bằng chữ quốc nsữ trone nhà trường Biết là tham vọng thì lớn
mà năng lực lại có hạn nên khônơ thể tránh khỏi sai sót. Và một điều chác chăn la
chữ Việt được hình thành tronơ chiến lược của Va- ti- căng, La tinh hoá tiếng bán địa
đế nhằm truyền giáo; trong lịch sử hình thành và phát triển của chữ quốc nsữ thi sau
thế hệ thứ nhất là Trưưng Vĩnh Ký - Trương Minh Ký - Huỳnh Tịnh Của, thi thế hệ
thứ hai chính là Phạm Quỳnh - Nguyễn Văn VTnh -Nguyễn Khác Hiếu - Phan Kê
Bính - Phan Khôi Từ góc nhìn của cá nhân, có chuyên môn sâu là lịch SƯ đớni! thời
cũng là một giảng viên nhiều năm dạy mồn tiếng Việt thực hanh và vãn hoá Việt
Nam cho người nước ngoài tại khoa tiếng việt, chúng tôi coi ĐDTC va NPTC như la
hai nguồn tư liệu lịch sử để kháo sát và đánh giá đúne mức đóng 2Óp của hai tờ báo
này trên lĩnh vực giáo dục học và đặc biệt là ơiáo dục nhà trườnơ à những năm đâu
thế kv XX. Dù rằng ngồn ngữ tự bản thân nó khônơ manơ tính siai cấp sons nó la
tấm ơươnơ phán ánh sự biến độnơ cùa lịch sử. Là sản phám vãn hoá vô eiá cúa nhãn
dàn, nó phải được trả về với nhân dàn, được nhân dân, sử dụns như một cỏns cụ hCru
ích để phục vụ đời sốn? và giáo dục xã hội. Từ một công cụ truyền giáo, sau được các
chủ bút cũng là nhữnơ bổi bút dùng làm cônơ cu tuyên truvền cho tư tưởnơ thưc dân
dưới nhiều hình thức song ngôn ngữ vẫn phát triển như tự thân nó vốn có. Đó là thực
tế nằm ngoài ý muốn của thực dân Pháp. Vô hình chung, chữ quốc naữ đã trớ thành
tiếng mẹ đẻ của một dân tộc, nó càng ngày càng thêm siàu, thêm sáng, mang đậm
8
bán sắc vãn hoá dân tộc. Điều đáng nói là chữ quốc nổỮ đă trở thành thứ vũ khí sãc
bén chống lại nền văn hoá nô dịch của Pháp đồng thời cũnơ tuvên truyền, siáo dục và
phổ biến cho một nền giáo dục mới mẻ. tiến bộ từ phương Tây, anh hươne văn minh
phương Tây và mang một phons cách mới - đó là phons cách siáo dục Tày học. Điéu
này cũng phản ánh rỏ nét về sự chuyến dịch vãn hoá Đòng Tày. Sự siao thoa, sự
chuyển dịch về vãn hoá, giáo dục thực sự trờ thành lĩnh vực đáu tiên thế hiện sự tièp
xúc với vãn minh phương Tâv của nơười Việt nam ta. Qua ĐDTC và NPTC chung ta
phán nào hình dung được trong quá trình Việt Nam tiếp xúc với vãn minh phươns
Tày thì sự dị ứnơ tất yếu của nền vãn hoá truyền thong với cái xa [ạ, lai câng đế giữ
sự phát triển chức năng xã hội của tiếnơ Việt" .VY
Gần đày nhất là một số cônơ trình nshiên cứu trực ticp về chừ quốc nsữ hoặc
nhữnơ tư liệu quý có liên quan đến việc nshiên cứu về chữ quốc nsữ đà được côn£ bố
như :
+ Để tài nghiên cứu cáp đại học quốc gia của GS-tiôn sĩ Đinh Đức vé : Lịch sứ tiếns
Việt và chữ quốc n£ữ
+ + Luận án tiến sĩ nsòn neừ học của NCS Trần Nhật Chính Về sự phát triến cua từ
vựnơ tiếng việt hiện đại ( 30 năm đẩu thế ki XX 1900 -1930)
4- Tư liệu quý có cuốn viết vé siáo sư Dươns Quãnơ Hàm, nhà siáo dục học nối tiến2
đó là: “ Dươns Quàns Hàm con người và tác phẩm " - nxb VH. 7 - 2002
10
+ Hai tập tuyển tập cuốn quốc văn giáo khoa thư nxb Trẻ - t.ph HCM. 1996
Đây là những tài liệu quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu về nội đuns 2 ÌÚO dục
học những năm đầu thế kỉ XX trong nhà trườns tiểu học lúc đó và cône việc giang
dạy bằng chữ quốc nsữ được bắt đầu thế nào vv
Tuy nhiên về những đóng 2Óp lịch sử cúa hai tạp chí Đôim Dươns và Nam phons đối
với việc gido dục học băng chừ quốc nsữ thời kỳ này theo nhận biết cua chúns tòi thì
cũng chưa có một bài viết nào hay một cồno trình nào kháo sát thật triệt đế và nshièn
cứu một cách cụ thể. Vấn đề chúng tôi nghiên cứu mang tính cụ thế vì vậv đòi hỏi
phái khảo sát dựa trẽn tài liệu sốc. Một khó khăn lớn mà chúng tôi 2ặp phai la các
kho tư liệu quan trọng ờ Ha nội có thế tham kháo là: Thư viện quốc gia, Viện thòns
tin khoa học xã hội, Thư viện Viện sứ học, Thư viện Quân đội, Thư viện Khoa Lịch
Sử trường ĐHKHXH&NV thì ĐDTC và NPTC đéu không dược đáy đu (đạc biệt la
ĐDTC) hoặc là ỡ tình trạng quá nát cũ khônư thê sứ dụng Tuy nhiên chúne tỏi đã
tiến hành thu thập được trên ca hai tạp chí, số bài siánii cho học sinh tiêu học tronu
20- 21 năm len tới nshìn hài và số tran^ tư liệu chúrm tỏi có tronỵ tav củrvi đón hanLỉ
trãm trang. Tuy nhiên, nhữns bài viết về chữ quốc niiìr va tài liệu eiáo dục học íphổ
biến chữ quốc nơ ừ) ở NPTC cũns thiêu rất nhiều chi có chưa đàv 100 số va nám rai
rác ớ các năm trẽn tổns sô 210 số NPTC. Đímơ ờ 2ÓC độ lịch sứ, chúne tôi xem xét
các bài giảng trên hai cuốn tạp chí này như là một nguồn sứ liệu đế đánh 2 Ìá đúnsỉ
đón nhận và rmàv càng được phát triển thành một thứ nsôn nơữ 2ĨÙU sức son2 manỵ
bàn sắc rieim của dân tộc Việt nam. Tiếng Việt một còns cụ khònổ thể thiếu được
của mỗi người dàn Việt nam nó như là một phán tâm hỏn dàn tộc Việt. Nó 2 ÌLÍp
12
chúng ta phát triển ván hoá, phát triển giáo dục, phổ biến n2ôn nsữ dàn tộc cho bè
bạn, giúp dân tộc ta tự tin hơn trong quá trình giao lưu hội nhập, tiếp thu nén khoa
học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Sự nshiệp siáo dục tiếng Việt, phát triển và hoàn
thiện tiếng nói, chừ viết cũa dân tộc cũns chính là sự nghiệp to lớn chuns cua toàn
Đáng, toàn dân ta trong việc phát huy bản sắc vãn hoá dân tộc và truvền thỏns yêu
nước vốn có. Báo vệ tiếng Việt - tài sán văn hoá vò giá - chính là bao vệ 2 Ìá trị lịch sư
và di sản vãn hoá lâu đời cúa chúnơ ta - của nhà nước cộ nơ hoà xà hội chu nshĩa Việt
nam sau này
CHƯƠNG I
I NHỮNG TIẾN ĐỂ LỊCH sử XÃ HỘI VIỆT NAM. TỪ CHỬ HÁN -
CHỮ NÔM - ĐẾN VIỆC GIÁO DỤC HOC BẢNG CHỮ QUỐC NGŨ
HỔI ĐẦU THÊ KỶ20.
1. BỐI CẢNH LỊCH sử VÀ XÀ HÔI
Năm 1858. sau hàng loạt nhửne mưu toan, nhòm nsó va nhữne hoạt động gián
điệp do thám thì đến rạng sáng ngày 1/9/1858 thực dàn Pháp đà [ộ nguyên hình cua
ké xâm lược. Chúng đã tráim trợn nổ súng tấn côns vào cứa biên Đa Nane, chính thức
xâm lược Việt Nam. Có thể nói, cuộc xâm lãng quân sư và chính trị đã diễn ra đông
thời với cuộc xâm láim về vãn hoá cúa thực dân Pháp VỊ từ lau viiáo hội La Mã va một
sô giáo sĩ người Pháp đà có ý đò mớ rộnơ nước chúa sans tận phươrm Đỏim va khõnii
ngoại trừ Việt Nam. Triêu đình nha Nguyễn đã đi hết tư nhừim nlurựng ho nay đen
nhượng bộ khác và cuối cùrm đáu hàng quàn đội Pháp bánií việc ký nhừnu hunn ước
bán nước nhục nhà. Nén bao hộ của Pháp đà được thiết lạp trên toan cõi An Nam.
Cuộc xâm lược xứ Đòns Dươns của Pháp về cơ bản đã hoàn tất. Có thê nói ráns:
tronơ quá trình thực dàn hoá Việt Nam, neười Pháp đã trờ thanh một thứ '* Cònii cụ
khỏns tự giác của lịch sử” phá huỲ cơ cấu xà hội cũ đến tận sốc rễ và đặt tiên đé cho
một xã hội mới. Chính quá trinh khai thác thuộc địa cua thực dân Pháp đã khiến cho
Chàu thành lập năm 1905 thì hàng loạt sách báo mới và hội chính trị. hội nshiên cứu
mới cũnơ ra đời. Hội đà cử người sang Tàu, sanơ Nhật để tiếp thu cái hav, cái mới vé
I 5
phổ biến trong nước, những thanh niên này đã hưởng ứns phong trào Đỏng du rát tích
cực. Ngay ở trong nước, một làn sóng hô hào ủng hộ cái mới, từ bó cái cũ cổ hu, lạc
hậu như: cắt tóc ngắn, bó khoa cử, đề cao dân chủ, phủ nhận chế độ phong kiên
Trong cả hai đợt khai thác thuộc địa, thực dân Pháp chí nhàm một mục tiêu
duy nhất là nhanh chóng biến Việt Nam thành thị trườns tiêu thụ hàng hoá và cung
cấp nguyên liệu, tài chính cho Pháp. Đổnơ thời là với một mục đích trục lợi, nhanh
tay vơ vét bóc lột thuộc địa đế phục vụ cho lợi ích của chính quốc. Chính vì vậy mà
chí riêng trong đợt khai thác thuộc địa lần I, Pháp đà đàu tư vào Việt Nam là trên 500
triệu Fr vàng tập trunơ vào các ngành khai mỏ, kỹ nơhệ, 2 Ĩao thòng vận tai và thương
nghiệp Đặc biệt nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp càng đáy
nhanh quá trình đấu tư vào Đông Dương mà chú yếu là vào Việt Nam. Quá trình đáu
tư ngày càng tãng nhanh. Từ năm 1924 - 1929 đã tâng tới 4 tý. Đế phục vụ cho cònư
cuộc khai thác Pháp đã mớ mang những tuyến đườns sắt và tuyến đường quốc lộ
xuyên Việt, làm cho Việt Nam trớ thành một thị trườrm thống nhất từ Bác tới Nam.
Sự phát triển giao thỏnsĩ đà khiến cho việc buôn bán thêm phát đạt va hình thành
những đẩu mối buôn bán kiểu thành thị. Hệ thốnơ thanh thị theo kiêu phươnỵ Tây ra
đời và ngày càng phát triển sau hai đợt khai thác cùa Pháp. Tron2 nhừns năm 20 cua
thế kỷ, hệ thông thành thị này hình thành ớ Việt Nam với ba cáp độ. Thanh phố cấp
1: Sài Gòn, Hà Nội, Hái Phòng. Thành phố cấp 2: Hái Dươns, Nam Định,Vinh, Đa
Nẩng, Chợ Lớn. Thành phố cáp 3: Là nhữn^ thị xã trực thuộc tình như : Bác Ninh,
Hưns Yẻn, Đổns Hới Quá trình đầu tư của Pháp khiến cho xã hội VN có những
biến đổi sâu sác. Sự ra đời và phát triển của nhũn2; thành phán kinh tế mới có tính
chất tư bản chù nghĩa đã tác động mạnh vào cơ cấu kinh tế truyền thốne làm cho nó
* rạn vỡ, chuyển hướnơ theo xu thế hội nhập theo quỹ đạo phát triển tư bán. đưa VN
hoà nhập vào thị trườnơ quốc tế. Việc hình thành đồ thị kiểu phương tây, với nhữn^
nhàn tố tư bàn đà thực sự du nhập vào VN một lối sống đò thị. một tấng lớp thị dân
16
chúng. Đặc biệt là đối với tầng lớp thanh niên chống lại hệ tườns Phươne Đòna lỏi
thời lạc hậu. ánh hướng của vãn hoá Phương Tây còn tác động tới ca tàrm lớp trí thức
phong kiến cũ biến họ trớ thành trí thức phons kiến tư sán hoá và tự nsuyện sia nhập
vào đội ngũ trí thức mới tư sản hoá, bổ suns vào lực lượn2 siai cấp mới được hình
thành - Đó là giai cấp tiếu tư sản VN trong lòng xã hội thuộc địa nưa phong kiên kiêu
cũ. Chính tầng lớp trí thức nửa cữ nửa mới này là lực lượns cực kỳ quan trọns trone
việc tiếp thu và truyền bá nhừns tư tưởng mới trons nhàn dân và củng góp phân
khổnơ nhó vào sự nghiệp eiáo dục bàng chữ quốc ngữ. Hệ thòng đò thị phát triến \'a
thị dân ngày càng đông đúc chính là tiền đề, điều kiện tiếp nhận văn hoa phương Tày.
Từ đó bát đấu của các dạng thức sinh hoạt và xuất hiện nhữnu đánổ phái chính trị, các
nhà xuất ban, các dòng báo chí, các thể loại vãn học nu hệ thuật mới như: kịch núi,
điện ảnh, kiến trúc Nén văn minh đô thị và hệ thống thành thị kiêu phưưni! Tuy liên
tiến đã thực sự góp phan quan trọns thúc đấy xã hội Việt Nam phát tricn. Xa hội Viẹt
Nam thời kỳ này bị anh h ườn £ sàu sác bới chính sách khai thác thuộc địa cua thực
dàn Pháp, các màu thuẫn tronơ lòns xã hội ngày càns trớ nên 2av eắt hơn. Mâu thuẫn
nổi lèn hànơ đầu đó là mâu thuẫn dàn tộc: Giữa toàn thể dàn tộc Việt Nam - nhữns
người dàn mất nước với thực dân Pháp xâm lược cướp nước. Trăn trở tìm con đường
cứu nước cho dân tộc biết bao thế hệ các sĩ phu yêu nước như hai cụ Phan: Phan Bội
Chàu và Phan Chu Trinh đà đốt đuốc tìm suốt cuộc đời nhims cuối cùne con đường
cùa họ cũnơ bế tác vô vọng. Nsàv 5 tháns 6 năm 1911. Nguyễn ái Quốc lúc đó lây
tèn là Nguyền Tất Thành đà nối nghiệp cha anh quvết chí ra đi tìm đường cứii nước.
Sau nhiều năm hỏn ba hài ngoại, cuối cùnơ nsười cũnơ bát 2ặp được chân lý cách
mạng đó là ánh sá ne của chú nghĩa Mác Lê Nin kết hợp với chu nshĩa yêu nước cách
18
mạnơ. Đó là con đường duy nhất đúng để giải phóns các dân tộc bị áp bức và những
nơười lao động trên toàn thế giới khỏi ách nồ lệ. Nguyễn ái Quốc đà tích cực truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lê Nin về Việt Nam bằns nhiều con đường mà trong đỏ quan
trọnơ hàng đầu là con đường truyền bá qua sách báo yêu nước, cách mạng Đó cQrm
chính là thời gian Nguyễn ái Quốc hoàn thiện thế giới quan và nhân sinh quan cách
mạng của mình. Nơười đã phác thảo nhữnơ đường nét lớn cho chiến lược cách mạng
nội địa Trung Quốc như Nhật Bản, Cao Li, Mãn Châu. Chừ Nho là một thứ chữ viết
tượnơ hình và hội ý chứ khỏns phủi là một thứ tiếng nói. Chừ Nho đem vào nước nao
thì được đọc theo thanh âm rièns của nước áy gọi la tiếnơ Hán. Chừ thì ván la chữ
chun ơ mà đọc theo âm thanh nước nào thì thanh ra lời rièrm cua nước ày. Dan Tru nu
Quốc, Cao Li, Nhặt Ban, Việt Nam cũnơ học chừ nho nhưns mỏi nước phát âm chữ
Nho một khác. Cừnơ là một bài chữ Nho mà nước nọ khônu hiếu nước kia đọc m.
Ngav tại nội địa Trung Quốc nơuời Quảns Đỏnơ đọc chừ Nho cũne khác âm thanh
với người phúc kiến. Các tinh ờ Trung Quốc cũns khỏns thế hiếu nhau, phái dùng
đến chừ viết mới hiểu nhau được. Cũnơ vì người Việt Nam đọc chữ Nho, nói tiếng
Han theo thanh àm cùa mình nên các cụ ta khi trước gọi chừ Nho là chữ ta, coi Hán
văn là Quốc văn. Hán văn vẫn thônơ dụnơ tại nước nhà đến nỗi khi vợ khóc chổns
văn tế bằng; Hán văn. Thư từ cũns được viết bằne chứ Nho. Việc tế lễ ớ các đền miếu,
đình chùa hay tại tư sia mọi nsười đều sử dụnơ tiếng Hán để ma khấn vái hay xướng
lẻ. Chữ Nho nơ ười Việt Nam viết ơiống nơười Truns Quốc nhưns đọc theo kiêu Việt
Nam nơười Trung Quốc cũn£ khônơ hiểu được, ví dụ: hai chừ Nho người Việt Nam
đọc là văn minh, người Nhật đọc là tkbun mei”, người Quáns Đỏns đọc là "men min".
20
tiếng quan thoại đọc là 4*Wen ming”. Thực ra chữ Nho chí là rư vãn. một thứ chừ
không thể dùng để giao thiệp bằng lời nói đựơc vì khòns có âm thanh nhất định. Chữ
Nho chỉ dùng đế luyện ĩập trí thức, thấu hiểu văn ch ươn 2 triết lí, lịch sư cua nsười
xưa viết để lại và người nay viết ra mà thôi. Thời Hán, vào triều Nguyễn, càc sĩ tử chi
học chữ Nho, tức chữ Hán để đọc các sách Hán vãn và dự các kì thi. Các bài làm
trong các kì thi hương, thi hội, thi đình đều thảo bằrm chữ Nho. Hồi đó tại Truns
Quốc, chính quyền phong kiến buộc các cónơ chức phải học tiếnơ quan thoại để giao
thiệp với nhau và với chính quyền trunơ ươns. Tiếng quan thoại là tiếne Han đọc theo
lối riêng một miền mà chính quyền Trung Quốc lựa chọn. Hiện nay tiến2 quan thoại
là tiếng Bác Kinh. Chữ Hán vào nước ta từ bao 2ÌỜ ? Thực chất đây cữrv-1 là câu hoi
các nhà sứ học và nơỏn nsữ học còn đans phái tiếp tục nhiên cứu đế có được câu tra
lời thấu đáo. Theo các nhà viết sử xưa kia thi nước ta có vãn học khới tư từ Sĩ Nhiếp
(187-266 sau CN). Ônsz làm thái thú ờ Giao Châu đà đune sớ xin dổi Giao Chí thành
duy sáng tạo của người Việt. Do ý thức dàn tộc mạnh mẽ cùnơ với sự kháng định vẽ
lãnh thổ và lịch sử riêng biệt, một nển văn hoá riêng biệt, người Việt Nam thấv cán
thiết phái tạo ra một thứ chừ cùa riêng mình Chữ Nôm dược phát triến và náv sinh từ
rất sớm, có từ thời Lý-Trần đà trờ thành nsôn nsừ sử dụns tronổ thơ xướng hoạ cua
vua quan thời Lê (hội Nhị thập tao đàn bát tú). Theo một số nhà nshiên cứu nsòn nsữ
thực dàn thì từ trước khi các vị cố đạo thiên chúa giáo Âu Châu đặt ra chữ quốc nsữ,
người Việt Nam chưa có chừ riêng. Theo lịch sử tổ tiên người Việt Nam thì vào Đời
nhà Trần thế kỷ XIII đà đặt ra chữ Nòm để phièn âm tiếng Việt. Theo tài liệu cua một
số nhà nghiên cứu lịch sứ thi thậm chí chữ Nôm còn có thế ra đời sớm hơn nsay tư
thời Đườnơ (Thế kv VIII) thời “Bò cái Đại Vươn^’. Muôn đọc và viết được chừ Nỏm
phủi thông thạo chữ Nho.Viết chữ Nôm lại không có quy tắc nhất định nên học và
đọc chữ Nồm rất khó. Chữ Nôm có chữ viết siốnơ chữ Nho đồns nshĩa với chữ Nho
và đọc giống chữ Nho nhưng có khi cùng một chữ mà chữ Nho đọc khác chừ Hán đọc
khác. Lại có khi chữ Nôm âm hoàn toàn giống chữ Hán mà nghĩa khác hãn. Chữ
Nôm này được dùng như một chữ mới. Có chữ Nôm khònơ ơốc ở chừ Hán lại cùns
không dùng âm chữ Hán mà do các cụ dùnơ hai chữ Hán shép lại đế viết. Một chừ
Hán diễn ý, một chữ Hán chi âm. Đọc chữ Nôm rất khó, nhiều khi phai đoán. Thườn2
đọc chữ Nôm là phải đọc cả bài vãn mới đoán đún£ được và mới hiếu được vì mỏi
một tác giả viết chữ Nôm theo lối ghép chữ Nho của riêng minh.Việc đọc chữ Nòm
không có quy luật nhất định, cũng không có nhiều tác phám viết bằnơ chữ Nôm.
Chính vì thế theo các cụ thì việc đọc chữ nôm khônsỉ siúp 21 cho việc mớ man2 kiến
thức đặc biệt là việc trau dồi trí thức ở mức cao được. Bời vì vậy mà thời Hán học các
sĩ tử Việt Nam phái học chữ Hấn vì các kinh sử, các sách viết vé triết IÝ, vãn chươne,
lịch sử, điển ch ươn 2 , chế độ, pháp luật, thiên văn, địa lý, đéu viết bánỵ chừ ỉ íán. Thụv
chất thì chữ Hán đã thấm sâu vào đời sông văn hoa cua người Việt. Nó la san phám
tát yếu của sự giao lưu văn hoá, được người Việt ta sứ dụne rất linh hoạt va phon£
phú đáy sáng tạo để phù hợp vời đời sốns, với cộn£ đổns va đặc biệt la với nén vãn
hoá độc đáo cuả mình. Bát nơuồn từ Truns hoa, một đất nước rộnơ lớn và có nền vãn
hoá làu đời rực rỡ. Chữ Hán, tiếng Hán là sán phẩm văn hoá sáns 2 Ìá cứa nhân dân
Trung quốc nó thám đảm tư tường triết lý Khổng Mạnh. 4'Nhưng có một điều cán
học đắc lực, vẫn như một cồns cụ khônơ thể thiếu siúp đàn tộc Việt Nam tự tin, vững
vàns, trèn con đường giao lưu và hội nhập
24
2.1.3.N én giáo dục và ch ế độ kho a củ H án hoc
Chế độ phong kiến Việt nam gắn liền với chế độ thi cử và khoa báns, đồns thời
cũns đào tạo nên một tánơ lớp Nho sĩ quan lại phons kiến cho nước nhà. Tuv táne lớp
sĩ phu phong kiến này còn bị hạn chế bởi tư tưởns quan liêu, bao thu, hẹp hòi Sons
không phải vì thế mà mất đi nhiều mặt tích cực cúa họ như nhiệt huyết, lòns yêu
nước thương dân. Có nhiều nhà nho can đảm và anh dũng như cụ Hoàns Diệu, cụ
nghè Phan Thanh Gián và cũns có nsười mang đáu óc tân tiến như cụ N^uvẻn
Trường Tộ dã được vua Tự Đức cử đi Pháp mướn các kỹ sư Pháp đến Việt Nam dạy
khoa học kỹ thuật cho ihanh niên ưu tú việt Nam, dù việc làm này có quá muộn. Dù
sao thì chế độ khoa cử và giáo dục thời Hán cũns rất nehiêm ngặt có phán hà khác đă
tạo ra một đội nơũ Nho sĩ phon£ kiến có chất lượng và có tấm lòng. Chúns ta biết chữ
Hán là một thứ chừ khó học, khó viết. Các cụ ta xưa học chữ Hán, thuở nho phái nhờ
đốn một thày đồ, hoặc đón thày đổ về nhà nuôi cơm, đê dạy con cái học chừ thánh
hiền. Thày đổ viết chữ mẫu, sau đó học trò đật £Ìày bán lên, đỏ lại nét chữ. Bút vièt
bàng một thứ lông mềm gọi là bút lông. Mực viết là nhừnti thói mực đen mài trên một
cái nghiên trộn một chút nước. Sau đó thì kẻ cúc ó vuônơ trên aiấv í hoặc có thứ 2 Ìấv
ke sẩn ơọi là giấv tập) viết chữ vào sao cho vuônơ thành sác cạnh, theo nsuyên tắc từ
trên x u ò Y ị ơ dưới, từ trái qua phải, từ nơoài vào trons. nsans; trước, sổ sau. Chữ Hán ít
nhất một nét, nhiều nhát tới hơn 30 nét. Có nhiéu người viết chừ đẹp như rổns bay
phượng múa, tèn tuổi đà đi vào lịch sử như Bạch Cư Dị đời Đườns hav Tò Đôrm Pha
đời Tống Chữ Hán học mát nhiều thời sian và lảm cóns phu. Người xưa còn có câu
là tfcMười năm đèn sách chưa đọc nổi cái vãn tự”. Chính vì thế mà chế độ khoa ban2
Việt Nam cQns rất nghiêm ngặt, các quan lại Việt Xam thời Hán học cũns qua một
chế độ giáo dục hà khác và khi đi thi cũng; được tuyến chọn hết sức nehiêm nsặt.
Thời Nguyễn các quan lại được tuvển chọn trons các neười dân hươns thí, hội thí.
đình thí. Đây là nhữnơ kỳ thi cực kỳ khó khãn. Khoa thi hương tại trườns thi Nam
Định là trường thi độc nhất ở Bác Kỳ năm 1897 có 12.000 sĩ tư dự thi. Số cư nhân