Mô hình chuỗi cung ứng, Giới thiệu các phương pháp khác. Phân tích và xây dựng mô hình ERP vào công ty Cổ phần Tin học Minh Thông - Pdf 25

ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI


Hà Nội, 28/5/2012
Môn:

Phát triển hệ thống doanh nghiệp điện
tử (ERP - Enterprise Resource Planning)
Tên đề tài: Mô hình chuỗi cung ứng, Giới thiệu các phương pháp khác. Phân tích
và xây dựng mô hình ERP vào công ty Cổ phần Tin học Minh Thông
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên
LỚP: KHMT4 – K5
Nhóm 21: Nguyễn Ngọc Tuấn (Mã HS: 0547160055)
Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
I. KHÁI QUÁT VỀ ERP 4
II. MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG 5
1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 5
1.1. Định nghĩa về chuỗi cung ứng 5
1.2. Chuỗi cung ứng tổng quát 8
1.3. Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng: 9
1.4. Mục tiêu của chuỗi cung ứng: 9
III. CÁC GIẢI PHÁP KHÁC: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ SẢN XUẤT TRONG ERP 10
1. Tổng quan về quản trị sản xuất - MRP (Manufacturing Resource Planning): 10
1.1. Quản trị sản xuất nhằm đạt các mục tiêu: 11
1.2. Quản trị sản xuất tập trung vào các vấn đề: 11
1.3. Yêu cầu của tổ chức sản xuất: 11
2. Phân hệ quản trị sản xuất trong ERP 13

4.5. Mô hình kênh phân phối sản phẩm linh kiện máy tính nhập khẩu của công ty
MTC: 31
4.6. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại công ty cổ phần tin học Minh
Thông: 33
4.7. Các giai đoạn đầu tư công nghệ thông tin vào doanh nghiệp: 33
4.8. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại công ty cổ phần tin học Minh
Thông: 34
4.9. XÂY DỰNG GIẢI PHÁP ERP VÀO CÔNG TY Cổ phần tinh học Minh Thống 35
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 3 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
I. KHÁI QUÁT VỀ ERP
ERP (viết tắt của
Enterprise Resource Planning
- Hoạch định tài
nguyên doanh nghiệp ), nguyên thuỷ ám chỉ một hệ thống dùng để hoạch
định tài nguyên trong một tổ chức, một doanh nghiệp. Một hệ thống ERP điển
hình là nó bao hàm tất cả những chức năng cơ bản của một tổ chức. Tổ chức
đó có thể là doanh nghiệp, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức phi chính phủ v.v.
Một phần mềm ERP, nó tích hợp những chức năng chung của một tổ
chức vào trong một hệ thống duy nhất. Thay vì phải sử dụng phần mềm kế
toán, phần mềm nhân sự-tiền lương, quản trị sản xuất song song, độc lập
lẫn nhau thì ERP gôm tất cả vào chung 1 gói phần mềm duy nhất mà giữa các
chức năng đó có sự liên thông với nhau
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 4 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
II. MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG

kho
để lưu trữ ở giai đoạn trung
gian và cuối cùng đến
nhà bán lẻ và khách hàng
. Vì vậy, để giảm thiểu chi
phí và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem
xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Chuỗi
cung ứng, cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung
cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa
hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và
sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở (xem hình 1-1)
Hình 1 – 1: Mô hình chuỗi cung ứng
Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng, nhưng chúng ta
bắt đầu sự thảo luận với chuỗi cung ứng.
Chuỗi cung ứng là gì?
Chuỗi cung
ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián
tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao
gồm
nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho,
nhà bán lẻ và khách hàng của nó
. Ví dụ một chuỗi cung ứng, còn được gọi
là mạng lưới hậu cần, bắt đầu với các doanh nghiệp khai thác nguyên vật liệu
từ đất- chẳng hạn như quặng sắt, dầu mỏ, gỗ và lương thực – và bán chúng
cho các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu. Các doanh nghiệp này, đóng
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 6 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
vai trò như người đặt hàng và sau khi nhận các yêu cầu về chi tiết kỹ thuật từ

định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi,
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 7 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức
phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàng tiêu
dùng cuối cùng trở nên thấp.
Có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến hầu
hết các chuỗi cung ứng, và họ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối
sản phẩm cuối cùng cho khách hàng. Họ chính là các
nhà cung cấp dịch vụ
,
chẳng hạn như các công ty vận tải đường không và đường bộ, các nhà cung
cấp hệ thống thông tin, các công ty kinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận
tải, các đại lý và các nhà tư vấn. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc
biệt hữu ích đối với các doanh nghiệp trong đa số chuỗi cung ứng, vì họ có thể
mua sản phẩm ở nơi họ cần, cho phép người mua và người bán giao tiếp một
cách hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phục vụ các thị trường xa xôi, giúp các
doanh nghiệp tiết kiệm tiền trong vận tải nội địa và quốc tế, và nói chung cho
phép doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với chi phí thấp nhất có thể.
1.2. Chuỗi cung ứng tổng quát
Quản trị chuỗi cung ứng được xem như đường ống hoặc dây dẫn điện
nhằm quản trị một cách hữu hiệu và hiệu quả dòng sản phẩm/nguyên liệu,
dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung cấp của nhà cung cấp xuyên qua
các tổ chức/ công ty trung gian nhằm đến với khách hàng của khách hàng
hoặc một hệ thống mạng lưới hậu cần giữa nhà cung cấp đầu tiên đến khách
hàng cuối cùng. Chúng ta có thể xem chi tiết hơn ở hình trên
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 8 / 40

• Quản trị chuỗi cung ứng phải cân nhắc đến tất cả các thành tố của chuối cung
ứng; những tác động của nó đến chi phí và vai trò trong việc sản xuất sản
phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng; từ nhà cung ứng và các cơ sở sản
xuất thông qua các nhà kho và trung tâm phân phối đến nhà bán lẻ và các
cửa hàng.
• Hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống; tổng chi phí của toàn hệ thống từ
khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản
xuất và thành phẩm, cần phải được tối thiểu hóa. Ví dụ, khách hàng khi mua
máy tính từ công ty Dell phải trả 2.000 USD, đại diện cho doanh thu mà chuỗi
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 9 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
cung ứng nhận được. Dell và các giai đoạn khác của chuỗi cung ứng phát sinh
chi phí để thu thập thông tin, sản xuất bộ phận và sản phẩm, lưu trữ chúng,
vận tải, dịch chuyển tài chính…Sự khác biệt giữa 2.000 USD mà khách hàng
trả và tổng chi phí phát sinh trong chuỗi cung ứng trong việc sản xuất và phân
phối máy vi tính đến khách hàng đại diện cho lợi nhuận của chuỗi cung ứng.
Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận được chia sẻ xuyên suốt
chuỗi. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thành công của
chuỗi cung cấp càng lớn. Thành công của chuỗi cung ứng nên được đo lường
dưới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứkhông phải đo lượng lợi nhuận ở mỗi giai
đoạn riêng lẻ
• Tích hợp một cách hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho và các cửa
hàng, nó bao gồm những hoạt động của công ty ở nhiều cấp độ, từ cấp độ
chiến lược đến chiến thuật và tác nghiệp.
o
Cấp độ chiến lược
xử lý với các quyết định có tác động dài hạn đến
tổ chức. Những quyết định này bao gồm số lượng, vị trí và công suất

o Đảm bảo tính hiệu quả trong việc tạo ra các sản phẩm cung cấp cho
khách hàng.
1.2. Quản trị sản xuất tập trung vào các vấn đề:
o Thiết kế hệ thống sản xuất.
o Phương pháp tổ chức sản xuất.
o Điều hành quá trình sản xuất.
1.3. Yêu cầu của tổ chức sản xuất:
1.3.1. Bảo đảm sản xuất chuyên môn hóa
Chuyên môn hóa sản xuất là hình thức phân công lao động xã hội làm
cho xí nghiệp nói chung và các bộ phận sản xuất, các nơi làm việc nói riêng
chỉ đảm nhiệm việc sản xuất một (hay một số ít) loại sản phẩm, chi tiết, hay
chỉ tiến hành một hoặc một số ít các bước công việc.
Việc chuyên môn hóa sản xuất phải xác định phù hợp với những điều
kiện cụ thể của xí nghiệp. Các điều kiện cụ thể đó là:
− Chủng loại, khối lượng, kết cấu sản phẩm chế biến trong xí nghiệp.
− Qui mô sản xuất của xí nghiệp.
− Trình độ hiệp tác sản xuất.
− Khả năng chiếm lĩnh thị trường, mức độ đáp ứng thay đổi của nhu cầu.
− Chiến lược công ty nói chung và chiến lược cạnh tranh, phát triển hệ thống
sản xuất nói riêng.
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 11 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
1.3.2. Bảo đảm sản xuất cân đối
Quá trình sản xuất cân đối là quá trình sản xuất được tiến hành trên cơ
sở bố trí hợp lý, kết hợp chặt chẽ ba yếu tố của sản xuất: lao động, tư liệu lao
động, đối tượng lao động. Cụ thể, các quan hệ cân đối đó bao gồm các quan
hệ tỷ lệ thích đáng giữa khả năng các bộ phận sản xuất, các yếu tố của quá
trình sản xuất theo không gian và thời gian:

Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 13 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
hoạt với bộ tham số tiện dụng để ứng dụng được theo các quy trình quản lý
đặc thù.
Quản lý SX đòi hỏi chương trình phải xác định được việc lập kế hoạch
SX, tính toán thời gian SX, hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, tính giá thành
kế hoạch… Để làm được điều này, các phân hệ SX trong ERP cần cho phép
người sử dụng khai báo định mức nguyên vật liệu (Bill of Material – BOM) và
quy trình SX (Routing). Đồng thời phải khai báo được lịch SX, năng lực SX bao
gồm các nguồn lực như nhân công, máy móc, công cụ SX, thời gian, chi phí…
Vì chính những thông số được khai báo ở đây là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu
nói trên.
Đối với những đơn vị có hệ thống định mức nguyên vật liệu phức tạp
(ví dụ mỗi đơn hàng cần khai báo lại một bộ định mức nguyên vật liệu mới) thì
rất cần sự tư vấn của nhà triển khai có kinh nghiệm để không biến việc nhập
số liệu trở thành sự cản trở về mặt thời gian đối với SX.
Một trong những yêu cầu của DN SX đối với ERP là việc trợ giúp DN lập
kế hoạch SX (KHSX). Kế hoạch này cần phải tính toán được ngày bắt đầu SX
tối ưu, đáp ứng tất cả các nhu cầu. Riêng các DN có nhiều chi nhánh hoặc nhà
máy cách xa nhau, hệ thống ERP cần lập KHSX ở mức tổng thể để có được kế
hoạch điều hành, tận dụng các nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Sau khi có KH, hệ thống cần xác định được nhu cầu nguyên vật liệu
(NVL) để đáp ứng được KHSX đó. Muốn vậy, hệ thống phải có khả năng tổng
hợp được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: bảng định mức NVL, các
đơn mua hàng và lệnh SX dang dở, số liệu tồn kho NVL, thời gian cung ứng
vật tư… để tính ra được số lượng vật tư cần cung cấp thêm. Kết quả xác định
sẽ được chuyển sang bộ phận cung ứng qua các phiếu yêu cầu cung ứng vật
tư.

nhà tư vấn triển khai, do chưa nắm rõ hiện trạng, thiếu kinh nghiệm thực tế
nên không xem xét các yêu cầu của DN một cách thấu đáo. Để khắc phục, DN
phải xác định rõ những gì mình cần và sáng suốt lựa chọn nhà tư vấn triển
khai có kinh nghiệm, am hiểu sản phẩm.
2.2.2. Lưu ý khi lập giải pháp quản lý SX
Trong ERP, phân hệ SX do có nhiều đặc thù, tốn nhiều thời gian để
chuẩn hóa quy trình, định mức nên thường được triển khai ở giai đoạn sau,
khi các phân hệ khác đã vận hành trơn tru. Vì vậy, trong quá trình xây dựng,
nên đặt ở mức tổng quát cho cả hai trường hợp chưa có phân hệ SX và khi
đưa phân hệ này vào vận hành. Trong đó, cấu trúc bộ mã, cách chia công
đoạn SX, cách thức tổ chức thống kê và yêu cầu về phân tích chi phí/giá thành
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 15 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
sẽ quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức khai báo và cập nhật
BOM/Routing.
2.2.3. Không phá vỡ kiến trúc hệ thống
Bản thân ERP là một hệ thống được thiết kế trên một kiến trúc tổng
thể, các phân hệ có sự tích hợp, liên thông chặt chẽ với nhau. Phân hệ SX
cũng là một phần cốt lõi trong kiến trúc này, vì vậy trong quá trình xây dựng
và triển khai thực tế, cần xem xét vấn đề ở mức tổng thể, không nên vì các lý
do “đặc thù” mà tự ý thay đổi quy trình làm phá vỡ kiến trúc hệ thống dẫn
đến sa lầy và thất bại.
3. KẾT LUẬN
Vì bản thân SX đã rất đa dạng về ngành nghề, mỗi lĩnh vực SX có
những đặc thù quản lý riêng, nên muốn triển khai thành công và hiệu quả
phân hệ này, đòi hỏi DN phải xác định mục tiêu và phạm vi rõ ràng, chọn giải
pháp phù hợp và đặc biệt cần chọn nhà tư vấn triển khai có kinh nghiệm, am
hiểu sản phẩm và từng triển khai thành công phân hệ SX.

trong dịch vụ phân phối sẽ góp phần làm giảm chi phí phân phối và việc giảm
giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng. Hơn nữa, bản thân hoạt động phân
phối cũng tạo thêm lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc tạo ra sự đa
dạng về hàng hóa cung ứng, tạo thuận tiện về địa điểm mua bán, thuận tiện
về các dịch vụ bảo hành và cung cấp thông tin.
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 17 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Dịch vụ phân phối là hoạt động quan trọng của ngành thương mại
trong nền kinh tế quốc dân. Với việc thực hiện các chức năng lưu thông, phân
phối và là các mắt xích không thể thiếu trong hệ thống phân phối hàng hóa từ
khâu sản xuất tới người tiêu thụ cuối cùng, dịch vụ phân phối giữ vai trò quan
trọng trong quá trình thực hiện tái sản xuất mở rộng xã hội, góp phần quan
trọng thúc đẩy phát triển sản xuất, phát triển kinh tế và gia tăng lợi ích cho
người tiêu dùng. Khi xã hội càng phát triển, trình độ phân công lao động xã
hội, trình độ chuyên môn hóa càng cao và nhu cầu của người tiêu dùng càng
được các biệt hóa thì vai trò của dịch vụ phân phối càng trở nên quan trọng.
Phát triển dịch vụ phân phối của Việt Nam sẽ tạo thêm giá trị gia tăng cho nền
kinh tế, giúp tăng tỷ trọng của dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nước nhà, góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập và
phát triển bền vững.
2. THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH DỊCH VỤ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM
Thị trường bán lẻ Việt Nam có sức thu hút lớn đối với các tập đoàn bán
lẻ do Việt Nam là nước có nền kinh tế phát triển nhanh trong vòng nhiều năm
qua; dân số đông, trong đó một nửa dân số dưới tuổi 30; chi tiêu của người
tiêu dùng tăng 16% và doanh số bán lẻ tăng 20% trong giai đoạn 2004 -
2005. Doanh số bán lẻ thị trường Việt Nam được dự tính khoảng trên 20 tỷ
USD mỗi năm.
Theo số liệu của Bộ Thương mại trước đây, trong giai đoạn 2001 - 2005

A mở thêm siêu thị bán lẻ hay không.
Theo cam kết gia nhập WTO đối với dịch vụ phân phối, các doanh
nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài muốn lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở
bán lẻ thứ nhất sẽ được các cơ quan quản lý xem xét nhu cầu kinh tế. Tuy
nhiên, quy trình xem xét, cấp phép cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất sẽ được
thiết lập và công bố công khai, việc kiểm tra nhu cầu kinh tế, cấp phép sẽ dựa
trên các tiêu chí khách quan, bao gồm số lượng các nhà cung cấp dịch vụ (các
cơ sở bán lẻ) đang hiện diện trong một khu vực địa lý, sự ổn định của thị
trường và quy mô địa lý.
Về diện mặt hàng, Việt Nam mở cửa các dịch vụ phân phối cho tất cả
các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, trừ các mặt hàng sau đây:
- Thuốc lá và xì gà;
- Sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình;
- Kim loại quý và đá quý;
- Dược phẩm;
- Thuốc nổ;
- Dầu thô và dầu đã qua chế biến;
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 19 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
- Gạo, đường mía và đường củ cải.
Đối với các sản phẩm trên, Việt Nam có thể dành quyền phân phối cho
các doanh nghiệp trong nước, tức là các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu
tư nước ngoài (được thành lập sau khi Việt Nam gia nhập WTO) có thể sẽ
không được quyền phân phối các sản phẩm này. Phạm vi chính xác (theo mã
phân loại HS của biểu thuế quan) của các mặt hàng này được quy định tại
Quyết định 10/2007/QĐ-BTM của Bộ Thương mại.
Đối với các sản phẩm mà Việt Nam đã cam kết mở cửa Kể từ ngày gia
nhập (11 tháng 1 năm 2007), các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài

phối lớn thành lập siêu thị 100% vốn nước ngoài và mở hàng loạt các siêu thị
tại các tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Tới cuối năm 2006 trên thị trường Việt
Nam đã xuất hiện nhiều tập đoàn phân phối lớn của thế giới như: Metro Cash
& Carry (Đức) với 6 siêu thị hoạt động tại TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà
Nẵng, Cần Thơ. BigC có các siêu thị đang hoạt động tại TP.HCM, Hà Nội và
Hải Phòng. Tập đoàn bán lẻ Parkson (Malaysia) ở TP.HCM. Bên cạnh đó, Tập
đoàn Dairy Farm (Singapore) cũng nộp đơn xin thành lập công ty 100% vốn
nước ngoài, Lotte (Hàn Quốc) cũng vào VN thông qua hình thức liên doanh.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư
nước ngoài đã được cấp phép trước đó (kể cả các doanh nghiệp, siêu thị
100% vốn đầu tư nước ngoài) sẽ tiếp tục được hoạt động với các điều kiện
như đã quy định trong giấy phép. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thành lập sau
khi Việt Nam gia nhập WTO sẽ phải tuân thủ các cam kết trong WTO đối với
dịch vụ phân phối.
Hiện hoạt động dịch vụ phân phối, bán lẻ có tầm quan trọng với nền
kinh tế Việt Nam, lĩnh vực này đóng góp khoảng trên 15% vào GDP hàng
năm. Theo công bố, doanh số bán lẻ năm 2008 sẽ tăng khoảng 20,5% lên 975
tỉ đồng, tương đương với gần 55 tỉ USD. Cộng với dân số 85 triệu, trong đó
đến 60 triệu người tiêu dùng, hệ thống phân phối bán lẻ hầu hết theo hình
thức truyền thống, hệ thống hiện đại còn rất ít, do đó thị trường Việt Nam trở
nên hấp dẫn số 1 cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vì thế, từ năm 2007 sức
hấp dẫn của thị trường Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ (giữ vị trí này suốt 3 năm
liên tục), Nga và cả Trung Quốc.
Chắc chắn khi các nhà phân phối nước ngoài tham gia vào thị trường,
các DN trong nước phải đối mặt với rất nhiều thách thức, sẽ cạnh tranh phải
cạnh tranh khốc liệt với các DN nước ngoài có thế mạnh về vốn, về quản trị
kinh doanh, hệ thống thương mại hiện đại…
Tuy nhiên, việc mở cửa cũng đem lại nhiều cơ hội cho các DN trong
nước để học hỏi kinh nghiệm phát triển và nỗ lực vươn lên nhiều hơn để có
thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường. Thực tế, thời gian qua, có nhiều

thứ nhất của nhà đầu tư cũng được xem xét từng trường hợp cụ thể căn cứ
vào số lượng các cơ sở bán lẻ, sự ổn định của thị trường, mật độ dân cư trên
địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt cơ sở bán lẻ…
3. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA DỊCH VỤ PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM
Hệ thống phân phối luôn được coi là huyết mạch của tổng thể nền kinh
tế Việt Nam. Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống của người dân được
nâng cao, và nhất là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 22 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
WTO với cam kết mở cửa ngành dịch vụ phân phối thì hệ thống phân phối Việt
Nam cũng như ngành dịch vụ phân phối tại Việt Nam cũng xuất hiện những xu
hướng phát triển mới để khẳng định vai trò quan trọng của nó trong nền kinh
tế.
3.1. Phương thức phân phối hiện đại sẽ ngày càng chiếm ưu thế, phương thức
phân phối truyền thống sẽ ngày càng bị thu hẹp nhưng không hoàn toàn
biến mất
Trước đây, người tiêu dùng Việt vẫn có thói quen mua hàng hằng ngày,
và hàng trăm nghìn các cửa hiệu bán hàng phân bố từ thành thị tới nông
thôn, luôn đáp ứng nhu cầu hằng ngày của họ. Nhưng nay đã có nhiều sự đổi
khác, người tiêu dùng bắt đầu quen với việc tới siêu thị vào cuối tuần để mua
hàng đủ dùng cho cả tuần. Đi siêu thị như đã trở thành một sở thích với nhiều
người. Nếu như trong năm 2007 có 66% người tiêu dùng thỉnh thoảng mua
sắm tại siêu thị, thì cuối 2008 đã lên tới 96%. Tần suất mua sắm tại cửa hàng
tiện ích, siêu thị cũng ngày càng tăng, từ 2 lần/tháng trong giai đoạn 2005 –
2007, lên 3 lần/tháng trong năm 2008, và nâng lên 4 – 5/tháng trong năm
2009. Có thể thấy rõ hơn về sự thay đổi trong cơ cấu dịch vụ phân phối qua
kết quả điều tra Hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2009, về thứ tự lựa chọn
nơi mua hàng, là cửa hàng chuyên, đại lý, siêu thị, tiệm tạp hoá, chợ. Các

kém Tuy nhiên, những điều trên cũng không có nghĩa là các kênh phân phối
truyền thống sẽ biến mất hoàn toàn nhờ mạng lưới chợ từ nhiều năm qua đã
phát triển khá sâu rộng và văn hoá chợ đã trở nên hết sức gần gũi, ăn sâu
vào đời sống văn hoá, tập quán tiêu dùng của người dân. Mặt khác, hàng hoá
ở chợ vẫn phong phú hơn với nhiều cấp độ giá bán theo chất lượng, và người
mua có thể mặc cả để được mức giá tốt nhất, nhất là đối với dân nghèo thành
thị. Do vậy, hình thức phân phối nhỏ lẻ vẫn giữ được vai trò của mình ngay cả
trong các thành phố lớn.
3.2. Các nhà phân phối nước ngoài chiếm thế áp đảo trong kênh phân phối hiện
đại
Thị trường phân phối bán lẻ Việt Nam luôn có một sức thu hút lớn đối
với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn phân phối bán lẻ do
Sịnh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Trang 24 / 40
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn Viên – Sinh viên: Nguyễn Ngọc Tuấn – Lớp KHMT4 – K5
Việt Nam là nước có nền kinh tế phát triển nhanh trong vòng nhiều năm qua;
dân số đông, trong đó một nửa dân số dưới tuổi 30; mức chi tiêu của người
tiêu dùng cũng như doanh số bán lẻ ngày một tăng nhanh. Hơn nữa, theo lộ
trình cam kết khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, từ ngày
01/01/2009, Việt Nam sẽ mở cửa cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài trong ngành hàng cung cấp dịch vụ phân phối ở cả bốn loại hình
phân phối mà WTO phân loại đó là bán lẻ, bán buôn, đại lý hoa hồng và
nhượng quyền thương mại. Như vậy, sẽ có rất nhiều doanh nghiệp phân phối
hàng đầu thế giới thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Các doanh nghiệp liên
doanh trong lĩnh vực phân phối hàng hóa cũng sẽ tìm cách chuyển sang loại
hình doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để chủ động hơn trong kinh
doanh. Đến lúc đó, hệ thống phân phối không còn là mảnh đất đặc quyền của
doanh nghiệp trong nước và sẽ diễn ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt tranh
giành thị phần kênh phân phối hiện đại giữa các nhà phân phối nước ngoài và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status