Xây dựng mô hình kết hợp giữa trường Đại học Dược Hà Nội và công ty Dược phẩm để nâng cao chất lượng họat động R&D - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG NGUYÊN PHONG
XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI VÀ
CÔNG TY DƯỢC PHẨM ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG R&D
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

5
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG, BIỂU 8
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1. Lý do chọn đề tài 10
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
3. Mục tiêu nghiên cứu 13
4. Phạm vi nghiên cứu 13
5. Mẫu khảo sát 14
6. Câu hỏi nghiên cứu 14
7. Giả thuyết nghiên cứu 14
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
9. Kết cấu của luận văn 16
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 18
1.1. Lý luận chung về mô hình và hoạt động R&D 18
1.1.1. Khái niệm về mô hình 18
1.1.2. Khái niệm về hoạt động R&D 19
1.1.3. Khái niệm về mô hình doanh nghiệp Spin-off 22
1.2. Mô hình kết hợp hoạt động R&D 23
1.3. Đặc điểm của hoạt động R&D và Quản lý chất lƣợng trong R&D của
ngành Dƣợc 25
1.2.1. Đặc điểm của hoạt động R&D trong ngành Dược 25
1.2.2. Đặc điểm Quản lý chất lượng thuốc trong R&D của ngành Dược 30
1.4. Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng mô hình kết hợp hoạt
động giữa các tổ chức R&D trong ngành Dƣợc 35
Kết luận chƣơng 1 38
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG R&D VÀ VẤN ĐỀ KẾT HỢP
GIỮA TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC VỚI CÔNG TY TRAPHACO 39
2.1. Hoạt động R&D của một số trƣờng đại học, công ty Dƣợc trong nƣớc

3.3.4. Tác động của mô hình đến các nguồn lực R&D 84
3.4. Mô hình xƣởng sản xuất thuốc GMP - WHO trong trƣờng đại học
Dƣợc Hà Nội 92
Kết luận chƣơng 3 96
KẾT LUẬN 97
KHUYẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
DANH MỤC PHỤ LỤC 102 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KH&CN
Khoa học và công nghệ
R&D
Nghiên cứu và triển khai
NCKH
Nghiên cứu khoa học
QLCL
Quản lý chất lượng
GMP
Good manufacturing practice,
Tiêu chuẩn Thực hành tốt Sản xuất thuốc
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
R&D
Research and Development
Nghiên cứu và triển khai

Bảng 2.4.
Ý kiến đánh giá về nhân lực của trường ĐH Dược Hà Nội
50
Bảng
2.5.
Bảng số liệu ®Ò tµi của trường đại học
Dược giai đoạn 2005-2010
52
Hình 2.3.
Đồ thị biểu số đề tài của trường đại học Dược giai đoạn
2005-2010
52
Bảng 2.6.
Bảng số liệu về số đề tài công ty Traphaco giai đoạn 2005-
2010
55
Hình 2.4.
Đồ thị biễu số đề tài của công ty Traphaco giai đoạn 2005-
2010
55
Bảng 2.7.
Học hàm, học vị của cán bộ công ty Traphaco đến năm
2010
56
Hình 2.5.
Học hàm, học vị của cán bộ công nhân viên ở công ty
Dược
57
Bảng 2.8.
Ý kiến đánh giá về nhân lực của công ty Dược Traphaco

Hình 3.7.
Mô hình xưởng sản xuất thuốc GMP – WHO trong trường
đại học Dược Hà Nội
92 10
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – WTO (2006), ngành
Dược đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa về mọi mặt, cùng với sự cạnh tranh
gay gắt về khoa học và công nghệ (KH&CN). Điều đặc biệt là hoạt động
nghiên cứu và triển khai (R&D) trong ngành Dược của các nước phát triển có
xu hướng lấn át hoạt động R&D đối với ngành Dược trong nước. Với một vận
hội to lớn, nhiều thách thức đòi hỏi ngành Dược cần phải nhận thức rõ tầm
quan trọng chiến lược của công tác đầu tư R&D và chỉ có đổi mới hoạt động
R&D mới đủ sức cạnh tranh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, đưa đất
nước ngang tầm với khu vực và quốc tế.
Chiến lược phát triển của ngành Dược được Thủ tướng chính phủ phê
duyệt ngày 15/8/2002 với mục tiêu “phát triển ngành Dược thành một ngành
kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, chủ
động hội nhập khu vực và thế giới nhằm đảm bảo cung ứng thuốc hợp lý và
an toàn, phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân” [22]. Đây là một
nhiệm vụ rất quan trọng và để thực hiện được nhiệm vụ đó ngành Dược cần
phải khuyến khích xây dựng, tìm ra những mô hình, giải pháp thích hợp nhằm
thúc đẩy phát triển hoạt động R&D của ngành.
Ngành Dược có những đặc điểm riêng biệt khác so với các ngành khác
đó là nghiên cứu dược liệu, bào chế tổng hợp, sinh tổng hợp các hoạt chất
để sản xuất ra các thuốc chữa bệnh, phục vụ nhu cầu của xã hội. Dược sĩ chỉ
được đào tạo từ khoa Dược trường đại học, hay các trường đại học Dược. Sau

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Kết hợp giữa trường đại học và công ty với mục đích phát triển nguồn
nhân lực hoạt động R&D, nâng cao chất lượng hoạt động R&D, đẩy mạnh
thương mại hóa kết quả R&D trong những năm qua đang là chủ đề được
ngành Dược và nhiều nhà nghiên cứu chính sách quan tâm, cụ thể:
Lê Viết Hùng (2009) - trường đại học Dược Hà Nội với đề tài “Phát
triển nhân lực Dược, thực trạng và giải pháp”. Đề tài này đã làm rõ quan
điểm lý luận, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nhân lực, khảo sát thực 12
trạng tồn tại về nhân lực Dược trong giai đoạn hội nhập và trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp phát triển nhân lực Dược đáp ứng yêu cầu xã hội trong
giai đoạn tiếp theo.
Nguyễn Thị Kim Chung (2005) - trường đại học Dược Hà Nội với đề
tài “Khảo sát thực trạng nguồn lực khoa học và công nghệ của các đơn vị
nghiên cứu đào tạo trực thuộc Bộ Y tế”. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã chỉ
ra thực trạng nguồn lực KH&CN của các đơn vị nghiên cứu đào tạo thuộc Bộ
Y tế. Từ đó, đánh giá những khó khăn, thuận lợi và đưa ra một số giải pháp
trong xây dựng, phát triển nguồn lực KH&CN của các đơn vị đào tạo Y –
Dược. Nhưng đề tài chưa đề cập đến một giải pháp cụ thể khai thác tối đa
nguồn lực KH&CN đáp tiêu chuẩn chung trong khu vực hay quốc tế.
Đoàn Thị Việt Nga (2007) - trường đại học Dược Hà Nội với đề
tài “Nghiên cứu thực trạng nguồn lực khoa học công nghệ các đơn vị nghiên
cứu triển khai của ngành Dược trực thuộc Bộ y tế quản lý giai đoạn 2001-
2005”. Công trình này tập trung vào nghiên cứu thực trạng nguồn lực khoa
học và công nghệ của các đơn vị nghiên cứu và triển khai của ngành Dược.
Kết quả nghiên cứu cũng góp phần cung cấp luận cứ để tìm những giải pháp
thích hợp nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị này.
Nguyễn Lan Anh (2004) - Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN với

sách liên kết giữa các đơn vị R&D với sản xuất nói chung. Chưa có một
nghiên cứu nào xây dựng một mô hình cụ thể kết hợp giữa trường đại học
Dược và công ty Dược phẩm đáp ứng đầy đủ theo một tiêu chuẩn chung trong
khu vực và quốc tế.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hoạt động R&D của trường đại học Dược Hà Nội
và công ty sản xuất Dược, sự kết hợp hoạt động R&D giữa hai tổ chức này.
- Xây dựng mô hình, làm rõ yêu cầu, nội dung, tác động của việc xây
dựng mô hình kết hợp hoạt động R&D giữa trường đại học Dược Hà Nội với
công ty sản xuất Dược. 14
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: mô hình kết hợp hoạt động R&D của
Trường Đại học Dược Hà Nội và công ty sản xuất Dược phẩm.
Phạm vi thời gian: từ 2007 đến 2010.
5. Mẫu khảo sát
Trường đại học Dược Hà Nội: Bộ môn Bào chế, Bộ môn Công nghiệp
Dược, Bộ môn Dược Lâm sàng, Bộ môn Hóa Phân tích, Bộ môn Dược liệu,
Xưởng sản xuất thuốc GMP-WHO, Phòng Đào tạo, Phòng Tổ chức cán bộ.
Công ty Cổ phần Công nghệ cao Traphaco – Hưng Yên (gọi tắt là công
ty Traphaco).
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động R&D và vấn đề kết hợp kết hợp hoạt động
R&D giữa trường đại học Dược Hà Nội với công ty sản xuất Dược là như thế
nào?
- Để nâng cao chất lượng hoạt động R&D của trường đại học Dược Hà
Nội và công ty Dược phẩm, cần xây dựng mô hình kết hợp hoạt động R&D
như thế nào?

+ Điều tra bảng hỏi:
- Lấy ý kiến những cán bộ làm việc tại trường đại học Dược Hà Nội,
gồm: các bộ môn nghiên cứu chuyên ngành về Dược, các cán bộ làm việc ở
phòng ban chức năng (số lượng 45 người).
- Lấy ý kiến những cán bộ làm việc tại một số phòng ban, chức năng,
quản đốc phân xưởng của công ty sản xuất Dược (số lượng 45 người).
- Kết quả nghiên cứu dùng để so sánh các nhận định, quan điểm, đánh
giá về xây dựng mô hình kết hợp giữa nhà trường đại học Dược Hà Nội và
công ty sản xuất Dược phẩm. 16
+ Phương pháp xử lý thông tin:
- Xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm ứng dụng MS. Excel.
- Xử lý thông tin định tính giữa 3 nhóm được phỏng vấn sâu là cán bộ
thâm niên, cán bộ trẻ và các cán bộ làm việc tại trường đại học Dược Hà Nội
và công ty sản xuất Dược phẩm.
9. Kết cấu của luận văn
LUẬN VĂN BAO GỒM NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH NHƯ SAU:
Phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài
liệu tham khảo và phần phụ lục.
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lý luận chung về mô hình và hoạt động R&D
1.2. Mô hình kết hợp hoạt động R&D
1.3. Đặc điểm của hoạt động R&D và Quản lý chất lượng trong R&D
của ngành Dược
1.4. Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng mô hình kết hợp hoạt
động giữa các tổ chức R&D trong ngành Dược
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG R&D VÀ VẤN ĐỀ KẾT HỢP
GIỮA TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC VỚI CÔNG TY TRAPHACO

những đặc tính của sự vật, hiện tượng, công thức, sơ đồ, vật dụng thí nghiệm,
hay một dây chuyền sản xuất cùng với nguyên vật liệu và sản phẩm…
Như vậy, theo (bách khoa toàn thư mở) và
“mô hình là công cụ giúp ta diễn tả một
sự vật, một hiện tượng, hay một quá trình với mục đích phục vụ cho hoạt
động học tập, nghiên cứu, sản xuất hay sinh hoạt tinh thần của con người”.
Hoặc mô hình được hiểu là “vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại
nhiều lần, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật thể khác để trình bày,
nghiên cứu hoặc là hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn theo một ngôn ngữ
nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng
ấy”.
+ Đặc điểm chung của mô hình:
Nhìn chung tất cả các loại mô hình không nhất thiết phải giống 100%
sự vật hiện tượng cần biểu diễn. Nhưng mô hình phải thoả mãn được một số
yêu cầu cơ bản nhất của người sáng tạo ra và phải thể hiện được hay truyền
tải những ý muốn, phân tích phê phán khi có sự tiếp xúc với mô hình.
+ Phân loại mô hình:
Có nhiều cách để phân loại mô hình, nhưng chủ yếu dựa trên hai yếu tố
chính đó là: hình thức, chức năng.
- Phân loại theo hình thức gồm: công thức, đồ thị, bảng biểu, sơ đồ, sa
bàn, vật mẫu… 19
- Theo chức năng: có mô hình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình lô
gic, mô hình toán, mô hình kết hợp…
+ Mô hình hệ thống là mô hình phản ánh một hệ thống, trong đó nêu
được các phần tử bên trong, bên ngoài và các quan hệ tương tác giữa chúng.
Hệ thống có thể là hệ thống chính trị, hệ thống quản lý, hệ thống pháp luật, hệ
thống thông tin, hệ thống giáo dục, hệ thống đường sá

Nghiên cứu khoa học bao gồm ba hoạt động chính, đó là:
- Hoạt động nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản và ứng dụng) và triển khai,
viết tắt là R&D (Research & technical Development).
- Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ
- Hoạt động chuyển giao công nghệ.
+ Nghiên cứu cơ bản: đó là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc
tính, cấu trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối
liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác. Sản phẩm là các khám phá, hay phát
minh, để đưa đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết tổng quát, ảnh
hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau.
+ Nghiên cứu ứng dụng: đó là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ
nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, tạo nên nguyên lý mới về các giải
pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống.
+ Giải pháp: đó là một giải pháp về mặt công nghệ, về vật liệu, về tổ
chức hay trong quản lý. Nhưng để đưa được kết quả của nghiên cứu ứng dụng
vào sử dụng trong đời sống xã hội thì còn phải qua một giai đoạn nghiên cứu
khác, gọi là nghiên cứu triển khai.
+ Triển khai: đó là sự vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu
cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các
hình mẫu, quy trình sản xuất với những tham số khả thi về kỹ thuật. Mối quan
hệ giữa các loại hình nghiên cứu này được thể hiện trong hình 1.1. 21

Hình 1.1. Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu [6]
Hoạt động triển khai gồm 3 bước chính:
- Bước 1: tạo vật mẫu (Prototype), bước này chỉ làm ra các vật mẫu, chỉ
được thực hiện trong các phòng thí nghiệm.
- Bước 2: tạo quy trình sản xuất (Pilot), bước này chỉ xây dựng quy trình
22
1.1.3. Khái niệm về mô hình doanh nghiệp Spin-off
Mô hình doanh nghiệp Spin-off là doanh nghiệp được hình thành trên
cơ sở áp dụng vào thực tiễn các kết quả, thành công trong nghiên cứu
KH&CN. Các kết quả NCKH này được hình thành từ các Viện nghiên cứu,
các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu tư nhân, hoặc tự cá nhân
Doanh nghiệp Spin-off có một số đặc điểm chính sau:
- Sở hữu một bí quyết công nghệ cụ thể, có thể áp dụng vào quá trình
đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới một quá trình.
- Bí quyết công nghệ này có thể được doanh nghiệp thương mại hóa,
với mục đích phục vụ nhu cầu của xã hội và mang lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Trong ngành Dược, doanh nghiệp Spin-off được hình thành chủ yếu từ
hai nguồn chính đó là từ các Viện nghiên cứu Dược và từ các trường đại học
Dược. Còn ở các doanh nghiệp lớn, như tập đoàn Dược phẩm, việc hình thành
doanh nghiệp Spin-off rất ít, vì thị trường Dược ở Việt Nam chủ yếu là nơi để
các tập đoàn Dược nước ngoài thử nghiệm lâm sàng.
Doanh nghiệp Spin-off trong ngành Dược vẫn chưa tự tách ra khỏi cơ
sở mẹ (các viện – trường), chủ yếu vẫn phải dựa vào cơ sở hạn tầng của cơ sở
mẹ, tranh thủ trang thiết bị, phòng thí nghiệm và mặt bằng hoạt động. Hoạt
động R&D trong các doanh nghiệp Spin-off chủ yếu vẫn do cơ sở mẹ đặt
hàng, cung cấp tài chính, tìm đối tác Cho nên, khi thành công trong NCKH,
cở sở mẹ vẫn là nơi sở hữu các kết quả này, chịu trách nhiệm khi chuyển giao,
mua bán.
Trong giai đoạn hiện nay, việc hình thành các doanh nghiệp Spin-off
trong các cơ quan thuộc ngành Dược đang được quan tâm riết rao. Đây là vao
trò lớn giúp các tổ chức KH&CN trong ngành có điều kiện thương mại hóa
các kết quá nghiên cứu, thành công trong NCKH. Mặt khác, doanh nghiệp

hóa sản phẩm NCKH, bằng cách tăng cường đảm bảo quyền sử hữu trí tuệ.
Các sản phẩm của R&D trong ngành Dược thường là các bí quyết công
nghệ về một hoạt chất mới, về một biệt dược mới, về một dược liệu mới được 24
phát hiện có khả năng điều trị và đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của xã hội.
Ngày nay, với cam kết hội nhập, các thử nghiệm lâm sàng với các biệt dược
mới được giữ bí mật là 5 năm, cho nên đây cũng là một yếu tố thúc đẩy sự
đầu tư tài chính cho hoạt động R&D trong ngành Dược. Điều đó có nghĩa là
quyền sử hữu trí tuệ đối với mô hình R&D sẽ được đảm bảo và nhà đầu tư thu
được lợi nhuận từ hoạt động của mô hình R&D. Như vậy, sự phát triển của
các tổ chức tham gia mô hình sẽ ngày càng lớn mạnh và mô hình được duy trì
hoạt động tốt.
Xây dựng mô hình hợp tác trong hoạt động R&D đang là mô hình mà
ngành Dược đang tìm kiếm lâu nay. Thay vì mua lại các nguồn lực từ các
công ty Dược nước ngoài, một giải pháp bền vững cho các công ty dược trong
nước đó là góp vốn để hoạt động R&D, dựa trên cở sở vật chất hiện có là vốn
con người và vốn tài chính. Bằng cách góp chung các nguồn lực R&D để phát
triển một số đề tài, dự án có triển vọng, các công ty dược, ngành dược sẽ lớn
mạnh và đủ tiêu chuẩn hội nhập khu vực, quốc tế.
Mô hình R&D có có một số ưu điểm, như:
- Các đối tác sẽ ra các quyết định phân bổ nguồn lực sớm hơn nhiều so
với trước đó và tập trung vốn vào những dự án có triển vọng sinh lời cao.
Chẳng hạn, thay vì đeo đuổi cùng lúc nhiều chương trình nghiên cứu tốn kém,
các công ty có thể kết hợp các nguồn lực của họ và chỉ tài trợ cho các dự án
hứa hẹn nhất, thiết yếu nhất, mà họ đã nắm bắt được thị trường định tung ra
sản phẩm.
- Mô hình R&D này sẽ giúp giảm được số lượng những sản phẩm na ná
nhau, đây là một yếu kém trong các công ty dược, chuyên làm nhái sản phẩm

ngành Dƣợc
1.2.1. Đặc điểm của hoạt động R&D trong ngành Dược
Đặc điểm chung nổi trội nhất trong R&D của ngành Dược đó là nghiên
cứu, tổng hợp, bào chế, sản xuất sản phẩm là thuốc chữa bệnh và phân phối
thuốc trên thị trường, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội. Theo thống kê của
Bộ Y tế năm 2000, số lượng dược sĩ làm công tác nghiên cứu khoa học, đào
tạo và tham gia sản xuất được phân bố rất không đều, tập trung chủ yếu ở 2 26
thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh có thị trường
dược phát triển. Đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn thiếu
cán bộ dược trầm trọng. Do đó hoạt động R&D của ngành Dược chịu tác
động không nhỏ từ sự phân bố này, nên mang một số đặc điểm trong hoạt
động R&D qua một số giai đoạn chính sau:
Giai đoạn 1975-1990: ngành Dược Việt Nam phát triển trong thời kỳ
bao cấp, hoạt động R&D, sản xuất không đáng kể, chủ yếu diễn ra trong các
công ty nhà nước. Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người thời kỳ này
đạt vào khoảng 0,5 - 1USD/năm. Do thuốc trong thời kỳ này cực kỳ khan
hiếm nên khi nghiên cứu bào chế, sản xuất, đến tiêu chuẩn chất lượng thuốc
trong sử dụng chưa được chú trọng, hầu hết các mặt hàng thuốc dựa vào hàng
viện trợ từ nước ngoài.
Giai đoạn 1991-2005: ngành Dược bước vào thời kỳ đổi mới, thực
hiện sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Các xí nghiệp,
công ty nhà nước trong ngành được thay đổi mô hình sản xuất, tổ chức, cơ
cấu tập trung, cổ phần hóa, cho nên đã phần nào đã có xu hướng chú trọng
vào đầu tư cho R&D, đầu tư vào chiều sâu, nâng cấp để thực hiện các quy
định về thực hành tốt sản xuất GMP. Số lượng thuốc được nghiên cứu sản
xuất ngày càng nhiều, từ 175 hoạt chất (năm 1997) lên đến 384 hoạt chất
(năm 2002). Luật Dược cũng được ban hành, làm cơ sở pháp lý cao nhất điều

tiếp dược phẩm ở Việt Nam được quyền bán lại sản phẩm cho các công ty
trong nước có chức năng phân phối.
Nhìn chung, sau khi hội nhập WTO ngành Dược đã có những đầu tư
lớn cho hoạt động R&D, một số đề tài lớn sau khi nghiệm thu đã được áp
dụng vào sản xuất đại trà, góp phần cung ứng được một số lượng thuốc không
nhỏ cho các bệnh viện tuyến huyện và tuyến xã, vùng sâu, vùng xa. Song bên
cạnh đó những thuận lợi ngành Dược phải đối đầu với không ít khó khăn.
+ Những thuận lợi:
- Về môi trường đầu tư: Việt Nam gia nhập WTO sẽ mang lại cho các
ngành kinh tế nói chung và ngành Dược nói riêng một môi trường đầu tư,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status