ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
RUỒNG ĐẠI nọc KHOA HOC XẢ HỘI VÀ NH Â N VAN
- - - - * * *
LÊ THỊ HUƠNG NGA
QUAN HỆ NÀNG DÂU - MẸ CHỎNG VÀ VÃN HÓA ÚNG xử
TRONG GIA ĐÌNH NGUỒI VIỆT ĐồNG BẰNG SÔNG HồNG
(TRUỒNG HỢP LÀ NG LA CẢ, XÃ DUƠNG NỘI, H UY Ệ N HOÀI
ĐỨC, TỈNH HÀ TÂY)
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số'. 50310
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC LỊCH s ử
NGƯỜI HUỚNG DẪ N KHOA HỌC: TS. N G UY Ễ N v a n c h í n h
HÀ NỘI, 2 - 2004
MỤC LỤC
Trang
CHUƠNG 1. VẤN Đ Ề N À N G D Â U VÀ MẸ C H ồN G TRONG
NGHIÊN C Ú u GIA Đ ÌNH VÀ X Ã HỘI
1.1. GIỚI THIỆU
1.1.1. Những vấn đề chung
1.1.2. Lịch sừ vấn đề, nội dung và các giả thiết nghiên cứu
1.1.3. Phương pháp nghiên cứu
1.1.4. Đóng góp của luận văn
1.1.5. Bố cục của luận văn ^
1.2. VẤN ĐỀ NÀNG D Â U MẸ C H ồN G NHÌN TỪBỐl CẢNH LỊCH
SỬ, XÃ HỘI
1.2.1. Lý tưởng N ho giáo về quan hệ gia đình. ^ ^
1.2.2. Các qui định của luật pháp về quan hệ gia đình.
1.2.3. Luật hôn nhân và gia đình hiện đại
1
3
7
30
32
36
40
40
41
46
50
52
55
61
3.3. QU A N NIỆM V Ề NGUỒI vợ LÝ TƯỞNG
3.3.1. Quan niệm của nam thanh niên
3.3.2. Quan niệm của nữ thanh niên
3.3.3. Quan niệm của các bậc cha mẹ
3.3.4. Quá trình xã hội hóa em gái là để tạo ra hình mẫu một người
vợ lý tưởng?
CHƯƠNG 4. Q U A N HỆ N À NG DÂ U - MẸ C H ồ N G TRONG
ĐỜI SỐ NG HÀNG NG ÀY
PHỤ LỤC
T H Ư M Ụ C TÀI LIỆU TH A M KH ẢO
62
62
64
67
70
72
4.1. HÔN N H Â N , C ư T R Ú SA U KẾT HÔN V À ẢN H HƯỞNG CỦA
NÓ LÊN MỐI Q U A N HỆ N ÀN G D ÂU - M Ẹ C H ồN G
72
hệ này sang thố hệ khác. Tuy nhiên, nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam trong
những năm qua tập trung chủ yếu vào các vấn đề như cấu trúc, chức năng, quy
mô và hiến đổi của gia đình. Ngoại trừ vấn đề địa vị và vai trò của người phụ
nữ trong gia đình gần đày đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, rõ ràng
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong đó, mối quan hệ đặc biệt và
nhậy cảm giữa mẹ chồng và con dâu trong các gia đình người Việt còn chưa
nhận được sự quan tâm thích đáng của các nhà nghiên cứu. Chính vì vậy, luận
1
văn này là một cố gắng để góp phần bổ khuyết vào các nghiên cứu về gia dinh
và phụ nữ Việt Nam.
Nghiên cứu của chúng tỏi chủ yếu dựa trên các quan sát và phân tích
dân tộc học đê tìm hiểu các cung cách ứng xử giữa nàng dâu và mẹ chồng
cũng như với các thành viên khác trong nhà chồng. Các quan sát và phân tích
của chúng tỏi được tập trung vào bối cảnh lịch sử và vãn hóa cụ thể của một
làng cổ truyền khá nổi tiếng ở Hà Tây, làng La Cả và cố gắng cấu trúc lại các
mối quan hệ giữa nàng dâu và mẹ chồng, những căn nguyên của sự xung đột
và sự thay đổi của mối quan hệ này trong mấy thập kỷ qua.
Có thể nói mối quan hệ gia đình phản ánh nhiều mặt đời sống kinh tế,
xã hội, văn hóa, tâm lý, tôn giáo và tín ngưỡng của tộc người và địa phương.
Trong đó, quan hệ nàng dâu - mẹ chồng đã quy tụ và phản ánh nhiều đặc điểm
về mối quan hệ của gia đình người Việt ở đồng bằng sông Hổng. Chính vì thế
nghiên cứu mối quan hệ nàng dâu - mẹ chồng sẽ góp phần hiểu rõ hơn một
khía cạnh trong văn hóa ứng xử của đời sống gia đình người Việt để nhận ra
những mâu thuẫn, xung đột, căn nguyên, cả những nét hay, nét đẹp và cách
giải quyết xung đột để chung sống. Nhiều quy tấc ứng xử đã trở thành thói
quen, tạo nên phản xạ tự nhiên trong quan hệ gia đình sẽ được quan sát và
phân tích để hiểu về quan hệ nàng dâu - mẹ chổng.
Tuy nhiên, quan hệ nàng dâu - mẹ chổng và với nhà chồng là một mối
quan hệ d ặc biệ t. Các thành viên trong gia đình được xây dựng trên cơ sở
huyết thống, bén vững và không thay đổi. Trong khi đó, người con dâu với tư
còn thiếu những quan sát thực tế và thông tin thu thập được từ nghiên cứu thực
địa. Thực tế nghiên cứu ở Việt Nam đã cho thấy có một khoảng cách nhất
định giữa quy định của pháp luật nhà nước phong kiến, của lý tưởng nho giáo
3
vốn chỉ phổ biến trong các tầng lớp trcn của xã hội và các thực hành của
phong tục và truyền thống ở cấp cơ sở làng xã.
Trong một thời gian vài thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng - một trong ba cuộc cách mạng chủ chốt
thời bấy giờ, được phát động rộng rãi, chúng ta thấy nhà nước xã hội chủ
nghĩa đặc biệt quan tám đến việc đưa một lối sống mới vào gia đình và xã hội
Việt Nam. Từ đó, phong trào xây dựng nếp sống mới và gia đình văn hoá mới
được phát động. Điều đáng chú ý là trong những thập kỷ này, người la chưa
quan tâm đúng mức đến việc cần thiết phải có những nghiên cứu căn bản và
thấu đáo về cấu trúc gia đình và các mối quan hệ trong gia đình làm cơ sở cho
các chính sách. Những quy định về gia đình văn hoá mới trong thời kỳ đó còn
nặng về áp đặt theo suy nghĩ chủ quan của người làm chính sách.
Vào khoảng cuối thập kỷ 80, sau khi đường lối “đổi mới” kinh tế xã hội
được chấp nhận, chúng ta thấy xuất hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn về
chủ đề gia đình. Trong thời gian này, một trong những chương trình nghiên
cứu quy mô về gia đình Việt Nam đã được Viện Xã hội học chủ trì với sự
tham gia của nhiều nhà nghiên cứu từ các chuyên ngành khác nhau như Sử
học, Dân tộc học và Xã hội học. Các phòng và trung tâm nghiên cứu về gia
đình, phụ nữ và giới cũng được lập ra, tạo điều kiện cho nhiều đé tài nghiên
cứu chuyên sâu về chủ đề này. Có thể nói sau khi cuốn sách “Những nghiên
cứu xã hội học về gia đình Việt Nam”, kết quả của chương trình nghiên cứu
hợp tác giữa Viện xã hội học và Đại học Gothenburg, Thuỵ Điển, (do Rita
Liljestrom và Tương Lai (chủ biên)) {24}, các nghiên cứu về gia đình Việt
Nam đã tăng lên một cách đáng kể. Nhiều chuycn khảo về gia đình Việt Nam
(Mai Huy Bích {4}; Pham Van Bich {6&7Ị; Lê Ngọc Văn {46}; Mai Quỳnh
Nam (chủ biên) Ị 30}; Phạm Côn Sơn {36}) và các luận văn nghiên cứu về gia
2. Mối quan hệ nàng dâu - mẹ chổng và với nhà chổng trong gia đình
và xã hội người Việt thực chất dã diễn ra như thế nào?
3. Tại sao mối quan hệ giữa con dâu và mẹ chồng lại thường dược xem
là luồn tiềm tàng các nguy cơ xung đột? Cội rỗ của vấn đề xung đột trong
quan hệ nàng dâu - mẹ chồng, nếu có, được bắt nguồn từ đâu?
Để trả lời các câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu này, chúng tôi đã cố gáng
nêu lên một vài giả thiết khoa học và kiểm tra lại trên thực địa để hiểu đirợc
cội nguồn của vấn đề.
Trước hết, có thể giả thiết rằng xung đột nàng dâu mẹ chồng bắt nguồn
từ trong quá trình hôn nhân, là hệ quả của những cuộc hôn nhân mà xã hội
đương thời xem là “không thích hợp”, chẳng hạn như hôn nhân không “môn
đăng, hộ đối”, sự xuất thân từ gia đình nghèo hèn của nàng dâu hoặc từ tính
chất “không chính thức” hoặc không được thừa nhận của cuộc hôn nhân.
Thứ hai, có thể nghĩ rằng sự “lệch pha” của quá trình xã hội hoá của
người con gái so với môi trường vãn hoá gia đình của nhà chồng, nơi người
con dâu gia nhập vào và chung sống, làm cho khoảng cách giữa nàng dâu, mẹ
chồng và các thành viên thuộc nhà chồng rộng hom và nàng dâu mới khó thích
nghi với những “gia phong” và “gia lễ” của nhà chổng.
Thứ ba, cũng có thể giả thiết rằng vấn đề nàng dâu - mẹ chồng trong
gia đình nảy sinh do sự xung đột về quyền lực và vai trò “sở hữu” của người
mẹ trong gia đình nhà chồng với nàng dâu. Giả thiết này xuất phát từ một thực
tế là người phụ nữ - mẹ chồng, có hai thứ “vũ khí” để khẳng định và nâng cao
vị thế của mình trong con mắt nhà chổng. Một là bà ta là sở hữu chủ của con
trai bà, đồng thời là người thừa kế và nối dõi gia tộc nhà chổng. Vị thế của bà
được vững chắc trong gia đình nhà chồng vì bà đã sinh được con trai cho nhà
chồng. Hai là, với tư cách là một người con dâu, bà đã phải làm việc và cố
6
gắng hết sức đổ thích ứng và trở thành chủ nhân có quyền lực trong gia đình
nhà chồng. “Quyền lực” của hà có được chủ yếu được xây dựng băng sự hy
sinh vun vcn, chăm sóc cho chồng, con và góp phần gây dựng cơ nghiệp nhà
các yếu tố văn hoá gia đình lưu giữ ở làng này phần nào phản ánh đặc điểm
chung của vùng châu thổ sông Hồng. Tất nhiên, chúng tôi không thể coi làng
La Cả là một làng tiêu biểu cho văn hoá vùng sông Hồng. Cuối cùng, đây là
một làng vốn được xem như một làng khoa bảng, có truyền thống về học vấn
với nhiều người đỗ đạt. Điều này có nghĩa rằng các tàn dư tư tưởng Nho giáo
chắc hẳn đã du nhập và bén rễ ở làng này và có thể đã ảnh hưởng lên các thực
hành văn hoá giáo dục trong gia đình, trong đó có vấn đề ứng xử nàng dâu -
mẹ chồng. Mặt khác, làng La Cả hiện nay đang trong quá trình đô thị hoá
nhanh chóng. Sự đổi thay và mất đi các giá trị truyền thống và du nhập các
quan hệ mới vào đời sống gia đình cũng có thể quan sát được. Chính các yếu
tô' này đã giúp chúng tôi đi đến quyết định chọn làng La Cả để làm địa bàn
nghiên cứu thực địa.
b) Khảo cứu tài liệu
Trong quá trình xây dựng các giả thiết khoa học, chúng tôi đã tập trung
phân tích các tài liệu nghiên cứu về gia đình người Việt hiện có để từ đó tìm
hướng đi cho luận vãn. Việc khảo cứu tài liệu hiện có về gia đình đã tỏ ra rất
hữu ích. Nó không chỉ giúp tìm ra các câu hỏi nghiên cứu chưa được giải đáp
để bổ khuyết mà còn gợi những phương pháp tiếp cận để khắc phục sự thiếu
sót của người đi trước. Các vấn đề nêu ra trong luận văn này chủ yếu có được
từ việc khảo cứu tài liệu như vậy.
8
Mặt khác, là một làng khoa bảng có tiếng ở gần ngay Hà Nội, La Cả
cũng có nhiều tài liệu thành vãn được lưu giữ, giúp hiểu rõ hơn lịch sử làng này.
Chúng tôi may mán đã tìm được các tài liệu dịch của Viện Hán Nôm liên quan
đến La Cả như bi ký, hương ước, gia phả, thán tích của làng. Thêm vào đó, cũng
đã có một vài tài liệu nghiên cứu về La Cả như về lễ hội làng La (Nguyễn
Phương Lan Ị25 Ị), nguồn tư liệu Hán Nôm và lịch sử địa phương (Bùi Xuân
Đính { 14&15}). Những nguồn tài liệu này cũng được nghiên cứu kỹ làm cơ sở
cho những hiểu biết chung về làng và các dòng họ lớn trong làng.
c) Nghiên cứu thực địa
Như đã phân tích, đây là một đề tài nghiên cứu tập trung vào các quan
hệ giữa nàng dâu với mẹ chồng và gia đình nhà chồng. Trong khi các nghiên
cứu về gia đình người Việt đang tăng lên thì chủ đề này hầu như vẫn còn ít
được chú ý. Luận văn này hy vọng sẽ góp thèm một tiếng nói bổ khuyết vào
các tranh luận vồ gia đình người Việt nói chung, các quan hệ trong gia đình,
thân phận của người phụ nữ làm dâu trong gia đình, và văn hóa ứng xử trong
gia đình nói riêng.
Mặt khác, sự tích lũy các kiến thức về gia đình, đặc biệt về mối quan hệ
đặc biệt nàng dâu - mẹ chồng, có một ý nghĩa thiết thực nhất định trong công
cuộc xây dựng gia đình văn hóa mới hiện nay. Trước sự công phá của nền
kinh tế thị trường và thay đổi nhanh chóng của các giá trị gia đình, nghiên cứu
này hy vọng sẽ giúp cho các nhà làm chính sách và ngay cả những người đang
và sẽ làm dâu, những người tổn trọne các giá trị của gia đình suy ngẫm về
hành vi ứng xử của mình dể từ đó gìn giữ và phát huy các giá trị tích cực của
gia dinh, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm cho mỗi con người.
10
1.1.5. Bô cục của luận văn
Ngoài các phần Phụ lục và Thư mục các tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 4 chương:
Chương I. Vấn đề nàng dâu và mẹ chồng trong nghiên cứu gia đình và
xã hội
Chương 2. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu: làng La Cả
Chương 3. Quá trình Xã hội hóa em gái
Chương 4. Quan hệ nàng dâu - nhà chổng trong đời sống hàng ngày
1.2. VẤN ĐỀ NÀNG DÂU MẸ CHồNG NHÌN TỪBỐI CẢNH LỊCH
SÙ XÃ HỘI
1.2.1. Lý tưởng Nho giáo vể quan hệ gia đình.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng nói đến gia đình
Việt Nam truyền thống phải nói đến ảnh hưởng của Nho giáo. Tư tưởng Nho
giáo bao trùm lên mọi quan hệ, chi phối hành vi ứng xử của các thành viên.
Trong lịch sử Việt Nam có hai bộ luật đại diện cho sự phát triển đỉnh
cao của nhà nước phong kiến là luật Hồng Đức {53}và luật Gia Long {41}.
Luật Hồng Đức ra đời vào năm 1483 thời Lê Thánh Tông, được ban hành với
tên gọi là Quốc triều hình luật. Luật Gia Long hay còn gọi là Hoàng Việt luật
lộ ra đời năm 1815 vào thời Gia Long. Dựa vào hai bộ luật trên ta biết được
những quan niệm của chế độ đương thời được thể chế hóa.
1 2
Quốc triều hình luật (lược đánh giá là một hộ luật có trinh độ phát triển
cao của tư tưởng xã hội lúc bấy giờ. ỏ đó nổi lên ý thức bảo vệ quyền lợi của
người phụ nữ. Vự có quyền tài sản là điểm tân kỳ nhất trong pháp luật thời Lê,
kê cả khi chung sống, một người chết hay ly hôn. Người phụ nữ được pháp
luật thừa nhận quyền sở hữu tài sản và thừa kế, con gái được thừa kế tài sản
của cha mẹ để lại và có quyền thừa kế hương hỏa. Dù thừa kế theo di chúc hay
thừa kế theo pháp luật, quyền thừa kế của người phụ nữ cũng được pháp luật
ghi nhận. Phần của con gái bằng phần của con trai. Đicu tiến bộ ở đâv là mặc
dù bị ràng buộc bởi tư tưởng gia trưởng nhưng người phụ nữ trong gia đình
không bị mất quyền đối với tài sản. Trong thực tế, họ thường tham gia vào các
quan hệ giao dịch như mua bán, cầm cố, thuê mướn chứng tỏ quyền sở hữu
tài sản của họ.
Nếu như so sánh quan điểm tiến bộ về phụ nữ thì Hoàng Việt luật lệ là
một bước lùi so với Quốc triều hình luật. Luật nhà Lê quy định nếu không có
con trai thì con gái cũng được hưởng hương hỏa của gia đình nhưng đến luật
Gia Long chỉ công nhận cho con gái được hưởng thừa kế sau họ hàng thân
thuộc. Luật Gia Long còn cho phép người chồng toàn quyền định đoạt tài sản
của gia đình.
Luật Gia Long và Luật Hồng Đức đều ra đời trên cơ sở tư tưởng xã hội
Nho giáo, thêm vào đó Luật Gia Long có tính kế thừa của luật Hổng Đức,
chính vì vậy những quan điểm về quan hệ gia đình của hai bộ luật này có
nhiều nét chung, thể hiện ở các điểm sau:
- Đồ cao gia trưởng: nhà nước phong kiến quyền lãnh đạo gia đình của
14
Trong Đại Nam nhất thông chí (49), ngoài phần viết về diên cách, thổ sản mỗi
tinh có một phần dành tuyên dương con hiếu và liệt nữ, tiết phụ.
- Nghĩa vụ chung thủy: chế độ đa (hê được xã hội thừa nhận nhưng về
phía người phụ nữ họ có bổn phận tuyệt đối chung thủy với chồng. Đây là vấn
đổ mang ý nghĩa truyền thống, ảnh hưởng của Nho giáo đã thừa nhận nghĩa vụ
này của người phụ nữ, làm tiêu chí đánh giá đức hạnh của họ. Đây cũng là
một trong những nội đung “tòng phu” mà bất kỳ người phụ nữ nào cũng phải
íhực hiện. Nếu người phụ nữ có hành vi xâm phạm đến sự chung thủy họ sẽ
không được hưởng được quyền tài sản của gia đình và của hai vợ chồng làm
ra, đồng thời cũng là duyên cớ “thất xuất”. Đây cung là một trong những biểu
hiện của sự khống phục tùng chồng không tuân theo trật tự trên dưới của gia
đình.
- Quy định về “thất xuất”: cả hai bộ luật đều bắt buộc người chồng phải
ly hôn trong trường hợp người vợ phạm vào “thất xuất”. “Thất xuất” là: không
con, ác tật, ghen tuông, dâm đãng, lắm lời, trộm cắp, không thờ cha mẹ chồng.
Trong các tội bất hiếu, tội không có con trai để nối dõi tông đường là lớn hơn
cả. Như vậy, ngoài ý muốn chủ quan của hai bôn, quyền lợi của gia đình được
đặt lôn trên hết. Luật Gia Long quy định nếu người vợ phạm vào thất xuất mà
người chồng không đuổi vợ đi thì sẽ bị phạt 80 trượng.
Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đặt ra các nghĩa vụ đối với
người vợ chủ yếu ràng buộc nàng dãu vào mối quan hệ với gia đình nhà
chổng. Người vợ phải chịu sự dạy bảo của cha mẹ chồng và chổng; có bổn
phận chung thủy tuyệt đối với chồng “gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”.
Nếu người vợ vi phạm thì họ không được hưởng quyền đối với tài sản của gia
đình nhà chổng cũng như tài sản do vợ chổng làm ra.
15
Sử dĩ trong các bộ luật cùa Nhà nước phong kiên không trực tiếp đề cập
đến ván đề quan hệ mẹ chồng, con dâu vì theo quan điểm Nho giáo, trọng tâm
của các mối quan hệ xã hội là: vua tối, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè,
hành nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình Ị 17, 7 Ị. Năm
1959 sau khi miền Bắc nước ta đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ, ngày 29/12/59 kỳ họp Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ cộng
hòa đã thông qua luật hôn nhân và £Ìa đình. Cho đến năm 2003, Nhà nước ta
đã hai lần ban hành luật mới thay thế luật hôn nhân và gia đình cũ:
- Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 được Quốc hội khóa VII nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/12/1986.
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội khóa X nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09/06/2000.
Luật hôn nhân và gia đình mới ra đời trên cơ sở kế thừa Luật hôn nhân
và gia đình cũ và bổ xung những quy định mới phù hợp với điều kiện kinh tế,
xã hội chính trị hiện tại. Luật hôn nhân và gia đình được xây cỉựng trên
nguyên tắc:
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
- Bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái
- Bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Ị17, 11}
Việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình đã góp phần “xóa bỏ những
phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình'’ và “đề cao vai trò của
17
gia dinh trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những
phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam” {51, 7 Ị. Thông qua Luật
hôn nhân và gia đình những thành viên có thê biết được nghĩa vụ và quyền lợi
của mình trcn cương vị là vợ, chồng, cha, mẹ và con. Qua đó để đảm bảo
quyền lợi và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Để giúp cho việc thi hành luật
có hiệu quả, bên cạnh đó còn có các vãn bản: nghị quyết hướng dẫn áp dụng
một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Chí thị về việc giải quyết vấn
đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau khi ly hôn và giải thích các
quy định trong luật dưới dạng câu hỏi và trả lời trong cuốn “Trả lời 110 câu
hỏi về luật hôn nhân và gia đình” Ị17}.
Ngay từ khi ra đời, Luật hôn nhân và gia đình đã thể hiện được tính tiến
điều 10 Ị.
Luật hôn nhân và gia đình qui định “vợ chồng bình đẳng với nhau, có
nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” {51, điều 19). Luật
hôn nhân và gia đình không qui định chế độ để tang và không tước quyền thừa
kế của người phụ nữ trong trường hơp họ tái hôn.
So với Luật hôn nhãn và gia đình lý tưởng Nho giáo có nhiều tàn dư của
hôn nhân phong kiến cần phải được xóa bỏ “Nhà nước và xã hội không thừa
nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái”, tảo hôn,
cường ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ; người đang có vợ, có
chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có
chồng Tuy nhiên tư tưởng Nho giáo cũng có những qui định phù hợp với xu
thế xã hội và được Luật hôn nhân và gia đình kế thừa “con có nghĩa vụ kính
trọng chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc,
19
phụng dưỡng ông bà, các thành viên trong gia dinh có nghĩa vụ quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau (51, khoản 4 điều 2 & điều 4 1.
Cùng với xu thế phát triển kinh tế, văn hóa hiện nay, quan điểm hôn
nhân và gia đình nhấn mạnh vào quan hệ vợ chồng và con cái nhưng vẫn
không quên xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các Ihành viên: “Cha mẹ có
nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dãn có ích cho xã hội; COI1 có nghĩa vụ kính
trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc,
phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau” {51, 7 Ị và “Con cái được tạo điều kiện tết để học tập,
rèn luvện đạo đức, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mọi thành viên của gia đình
đều có ý thức xây dựng, bảo vệ gia đình bền vững ”
1.2.4. Quan điểm dân gian về quan hệ gia đình
Do đặc điểm về lịch sử, tự nhiên, văn hóa, xã hội lâu đời, trong dãn gian
đã hình thành những quan niệm riêng của mình về mối quan hệ gia đình, về vị
trí của người phụ nữ. Tấm gương phản ánh toàn diện nhất quan niệm của nhân
dân là ca dao, tục ngữ. Nó được đúc kết nên và lưu truyền, kiểm nghiệm trong
Mẹ chổng ác nghiệt đã ghê
Tôi chảng ở được tôi về nhà tôi.
Tuy vậy với tính nhân hậu, vị tha dân gian luôn mong muôn tính cảm
mẹ chổng, con dâu được tốt đẹp. Trong gia đình không phân biệt con dâu, con
gái. Trên thực tế cũng có người con dâu hiếu thảo được ca ngợi:
21