Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Bài chuyên đề tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên
cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ
Ngô Thị Tuyết Mai và Giảng viên Nguyễn Bích Ngọc – Khoa Thương mại và
kinh tế quốc tế - Đại học Kinh tế quốc dân.
Các số liệu, sơ đồ, bảng biểu và những kết quả trong tiểu luận là trung
thực, các giải pháp đưa ra có tính thực tiễn cao.
Một lần nữa, em xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Sinh viên
Phạm Thị Ngọc Anh
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ: Ngô Thị Tuyết Mai và Giảng viên
Nguyễn Bích Ngọc – Khoa Thương mại và kinh tế quốc tế - Đại học Kinh tế
quốc dân đã tận tình hướng dẫn và quý thầy cô trong khoa Thương mại và kinh
tế quốc tế đã truyền dạy những kiến thức quý báu trong chương trình đại học
cho chuyên đề hoàn thành được thuận lợi.
Cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công
thương đã giúp đỡ, tạo điều kiện cũng như nhiệt tình trao đổi, góp ý và cung
cấp thông tin tư liệu.
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
2.3.2 Vụ Hoa Kỳ khởi kiện tôm 2003 43
2.3.3. Vụ giải quyết tranh chấp đầu tiên của Việt Nam tại WTO - Tôm
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
nước ấm đông lạnh năm 2010 49
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ THỰC
TẾ VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA VÀ ỨNG
PHÓ CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG THỦY
SẢN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015 56
3.1. DỰ BÁO VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA
VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI 56
3.2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ THỰC TẾ CÁC VỤ
KIỆN 57
3.2.1 Đối với thị trường trong nước 57
3.2.2 Đối với thị trường nước ngoài 57
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 59
3.3.1 Các giải pháp về phía Nhà nước 59
3.3.2 Các giải pháp về phía các hiệp hội ngành hàng 60
3.3.3 Các giải pháp về phía doanh nghiệp 61
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 68
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
4
Bảng 2-1: Lịch trình tiến hành vụ kiện của Mỹ………………………….……44
Bảng 2-2: Giá trị hợp lý của cá tra và basa……………………………… 45
Bảng 2-3: Mức thuế phá giá áp dụng cho các doanh nghiệp VN kể từ 2003…45
Bảng 2-4: Sửa đổi biên phá giá…………………… …………………… …48
Bảng 2-5: Mức thuế chống bán phá giá áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam
theo Quyết Định Sơ Bộ (ngày 16/07/2004)………………………………… 54
Bảng 2-6:"Biên phá giá" của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam (Theo
Quyết định cuối cùng của Bộ Thương mại Mỹ, ngày 30/11/2004) 55
Bảng 2-7: Mức thuế xuất chống bán phá giá áp dụng cho doanh nghiệp Việt
Nam theo Quyết Định Cuối Cùng (ngày 26/01/2005)………… 56
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 ADA Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN
2 CBPG Chống bán phá giá
3 CFA Hiệp hội chủ trại nuôi cá nheo Mỹ
4 CP Chính phủ
5 DN Doanh nghiệp
6 DOC Bộ Thương mại Hoa Kỳ
7 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
8 EU Liên minh Châu Âu
9 FDA Cơ quan quản lý Thực Phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ
10 GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
11 NME Các nền kinh tế phi thị trường
12 PLCBPG Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản
13 POR Rà soát hành chính
đề tài nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau đã nghiên cứu về vấn đề này như:
đề tài “Thực trạng chống bán phá giá hàng hóa ở Việt Nam” hay “Luật chống
bán phá giá và giải pháp đối với Việt Nam”…
Nhận thấy tầm quan trọng và để tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về vấn
đề này, em đã chọn đề tài “Giải pháp phòng ngừa và ứng phó với các vụ
kiện chống bán phá giá hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam” làm đề tài
thực tập cuối khóa của mình.
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
2. Mục đích - Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết chung về
vấn đề bán phá giá cùng với pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam và
Thế giới và thực tiễn một số vụ kiện chống bán phá giá có liên quan đến Việt
Nam. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp có thể áp
dụng nhằm góp phần phòng ngừa và hạn chế các vụ kiện chống bán phá giá
của Việt Nam trên thị trường thế giới cũng như tăng cường, khuyến khích áp
dụng kiện chống bán phá giá như một công cụ phòng vệ ở thị trường trong
nước để tự bảo vệ lợi ích của mình.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Tìm hiểu chung về tình hình áp dụng thuế chống bán phá giá
trên thế giới.
Thứ hai: Tìm hiểu thực tế các vụ kiện chống bán phá giá có liên quan
đến Việt Nam và những tác động của nó đối với ngành xuất khẩu thủy sản.
Thứ ba: Tổng kết các bài học kinh nghiệm từ các vụ kiện chống bán phá
giá để đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
Chương 3: Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế và giải pháp để chủ
động phòng ngừa và ứng phó các vụ kiện bán phá giá hàng thủy sản Việt Nam
giai đoạn 2011-2015.
Do tài liệu có hạn, thời gian nghiên cứu bị hạn chế, nên đề tài của em
khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong có được sự giúp đỡ, góp ý của
các thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Do tài liệu có hạn, thời gian nghiên cứu bị hạn chế, nên đề tài của em
khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong có được sự giúp đỡ, góp ý của
các thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Ngô Thị Tuyết Mai và GV
Nguyễn Bích Ngọc- Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế đã giúp đỡ em hoàn
thiện đề tài này.
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI
1.1. QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ BÁN PHÁ GIÁ
Quy tắc chống bán phá giá mà hiện nay WTO dựa vào được quy định
trong điều 6 của Hiệp định GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương
mại) ban hành vào tháng 4/1979. Hiệp định xác định những ảnh hưởng tiêu cực
của bán phá giá đối với thương mại quốc tế. Thuế chống bán phá giá chỉ có thể
sử dụng để đối phó với những loại hình bán phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng
cho một ngành công nghiệp nào đó, hoặc gây trở ngại nghiêm trọng cho việc
xây dựng một ngành công nghiệp. Nội dung chủ yếu của hiệp định như sau:
1. Thiết lập nguyên tắc cơ bản về việc thu thuế chống bán phá giá. Chỉ có
thể áp dụng biện pháp đánh thuế chống bán phá giá sau khi tiến hành điều tra
chuyển vào lãnh thổ nước nhập khẩu. Khi thu thuế phải được tiến hành bình
đẳng không phân biệt đối xử, phải thu thuế từng kiện hàng nhập khẩu qua điều
tra thấy gây thiệt hại do bán phá giá.
5. Những hành động chống bán phá giá đại diện cho nước thứ ba phải
được nước thứ ba đưa ra lời mời hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan.
Theo WTO, để xác định giá sản phẩm có bán phá giá hay không, cần
tuân thủ những quy tắc sau đây:
Thứ nhất: Lấy cơ sở giá bán hàng hoá cùng loại tại thị trường nội địa của
nước xuất khẩu. Khi không thể sử dụng giá này, phải sử dụng giá mà nước này
xuất khẩu sang nước thứ ba làm chuẩn, hoặc xác định bằng cách cộng giá thành
sản xuất với các chi phí hợp lý và lợi nhuận.
Hai là: Hàng chuyển khẩu thường được so với giá tương ứng của nước
xuất khẩu.
Ba là: Nếu không có giá xuất khẩu hoặc giá này bị cho là không đáng tin,
thì có thể lấy giá bán hàng nhập khẩu để xác định giá xuất khẩu.
Bốn là: Giá xuất khẩu và giá bán nội địa của nước xuất khẩu phải được
so sánh ở cùng một trình độ thương mại.
Trên thực tế, đã có rất nhiều chính phủ đều áp dụng các hành động nhằm
vào bán phá giá để bảo hộ cho nền sản xuất nội địa. Cho đến nay, WTO chưa
đưa ra việc giải quyết vấn đề bán phá giá thông qua đàm phán mà vẫn căn cứ
theo điều 6 của GATT cho phép các nước hành động chống bán phá giá.
Nhưng chỉ khi việc bán phá giá làm tổn hại đến công nghiệp của nước nhập
khẩu thì các biện pháp chống bán phá giá mới được áp dụng.
Ngày nay, các nước nhập khẩu chống bán phá giá bằng cách thu thuế
nhập khẩu ngoại ngạch đối với sản phẩm cá biệt của nước xuất khẩu cá biệt,
khiến giá hàng nhập "xấp xỉ giá thông thường", hoặc loại bỏ sự tổn hại của
công nghiệp nội địa nước nhập khẩu. WTO đã sửa đổi một số điều trong Hiệp
định Chống bán phá giá, trong đó quy định các nước nhập khẩu phải kết thúc
các biện pháp chống bán phá giá và thời gian thực thi sau 5 năm. Khi nước
nhập khẩu xác định được biên độ của bán phá giá đặc biệt nhỏ (nhỏ hơn 2% giá
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
Hình 1-1. Số vụ điều tra chống bán phá giá trên thế giới qua các năm
Nguồn: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
Bảng 1-1: Thống kê số nước kiện chống bán phá giá nhiều nhất
trong WTO giai đoạn 1994-2008
(Đơn vị: nước)
Tên nước Số vụ điều tra Số vụ áp dụng
biện pháp chống
bán phá giá
Số vụ bị kiện ra
WTO
Ấn Độ 508 355 3
Hoa Kỳ 402 245 25
EU 372 244 5
Achentina 222 161 3
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
Nam Phi 205 121 2
Tất cả các thành
viên WTO
3210 2049 59
Nguồn: Cục quản lý cạnh tranh
Từ bảng trên ta có thể nhận thấy Ấn Độ và Hoa Kỳ là 2 nước tiến hành
ngành được ghi lại trong cơ sở dữ liệu của WTO giai đoạn từ năm 1995 - 2008, có
8 ngành hàng chiếm tới trên 90% tổng số vụ kiện, đó là các ngành sản xuất sau:
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
Hình 1-3. Các ngành sản xuất bị kiện bán phá giá nhiều nhất trên thế giới
Nguồn: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
Riêng hai ngành đầu tiên, đó là ngành sản xuất các sản phẩm hóa chất và
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
ngành khai thác và sản xuất các sán phẩm kim loại, đã chiếm gần 50% trong
tổng số vụ kiện. Nhiều trong số này thuộc về các ngành sản xuất đơn giản mà
các nước đang phát triển có lợi thế về chi phí và tài nguyên tự nhiên, giá nhân
công lao động rẻ, không yêu cầu trình độ kỹ thuật, lao động cao, ví dụ như các
sản phẩm khai khoáng, bột giấy, đá quý, kính, gốm, kim loại…
Tuy nhiên, một xu hướng đáng chú ý nhất là số lượng các vụ việc điều
tra chống bán phá giá đối với các mặt hàng dệt may và da giày đã tăng đột
biến. Có thể lấy ví dụ trong năm 2008, số vụ điều tra đối với các mặt hàng da
giày đã lên chiếm tới 24% trong tổng số các vụ việc được tiến hành.
1.3. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI CÁC NƯỚC
PHÁT TRIỂN
1.3.1. Luật thuế chống bán phá giá tại Hoa Kỳ:
Luật thuế chống phá giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế chống trợ
không được bán sang nước thứ ba.
Nếu từ hai nước trở nên bị kiện bán phá giá hoặc trợ giá, luật yêu cầu
USITC đánh giá lũy tích số lượng và ảnh hưởng của các hàng nhập khẩu tương
tự từ các nước bị kiện nếu chúng cạnh tranh với nhau và với sản phẩm tương tự
của Hoa Kỳ trên thị trường Hoa Kỳ. Nếu hàng nhập khẩu từ một nước đang bị
điều tra được coi là không đáng kể (thường được xác định là nhỏ hơn 3% tổng
giá trị nhập khẩu của sản phẩm bị điều tra), việc điều tra nước đó sẽ được dừng
lại. Cũng có những quy định miễn trừ áp dụng những quy tắc lũy tích ví dụ như
việc áp dụng đối với các nước được hưởng ưu đãi của Sáng kiến Lòng chảo
Caribê (CBI) và đối với Ixaren.
Luật chống phá giá còn cho phép các ngành công nghiệp Hoa Kỳ được
khiếu nại về bán phá giá ở nước thứ ba. Ngành công nghiệp của Hoa Kỳ có thể
đệ trình đơn khiếu nại lên USTR, trong đó phải giải thích tại sao việc bán phá
giá ở nước thứ 3 lại gây thiệt hại cho các công ty của Hoa Kỳ và yêu cầu cơ
quan này bảo vệ những quyền lợi của Hoa Kỳ theo quy định của WTO. Nếu
USTR thấy khiếu nại có lý, họ sẽ đệ trình yêu cầu lên các cơ quan có thẩm
quyền ở nước thứ ba đòi nước này phải thay mặt Hoa Kỳ tiến hành các biện
pháp chống bán phá giá. DOC và USITC có trách nhiệm hỗ trợ USTR chuẩn bị
nội dung yêu cầu.
Tương tự, theo Hiệp định Chống Phá giá trong khuôn khổ Vòng đàm
phán Urugoay, chính phủ một nước thành viên WTO có thể đệ trình đơn kiến
nghị với USTR yêu cầu mở một cuộc điều tra chống bán phá giá đối với một
sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ từ một nước thứ ba.
Đối với các nền kinh tế phi thị trường (NME)
DOC quan niệm sự can thiệp của chính phủ ở những nước có nền kinh tế
phi thị trường đã làm các số liệu về chi phí sản xuất và giá cả không phản ánh
đúng giá trị thông thường của sản phẩm. Do vậy, đối với những vụ kiện bán
phá giá liên quan đến các công ty ở những nước này, DOC không sử dụng
phương pháp so sánh giá-với-giá hoặc giá trị tính toán để xác định giá trị thông
thường của sản phẩm. Thay vào đó, DOC sử dụng một phương pháp hoàn toàn
vốn, và các chi phí cần thiết khác) bằng việc trả lời các câu hỏi phần D. DOC
“xây dựng” chi phí sản xuất trực tiếp của một đơn vị sản phẩm bằng cách nhân
số/khối lượng của các yếu tố đầu vào do bị đơn cung cấp với giá của các yếu tố
đầu vào này ở nước thay thế. Sau đó, DOC sẽ cộng thêm một khoản các chi phí
cố định (factory overhead cost), chi phí khấu hao, và các chi phí chung, bán
hàng và hành chính (GSA) để tính ra toàn bộ chi phí sản xuất của một đơn vị
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
sản phẩm. Chi phí sản xuất này cộng với lãi và chi phí đóng gói theo mức ở
nước thay thế được coi là giá trị thông thường của sản phẩm.
Nước thay thế là nước có nền kinh tế thị trường và có trình độ phát triển
kinh tế tương đương với nước bị kiện (chủ yếu dựa trên cơ sở thu nhập quốc
dân bình quân đầu người), và là nước sản xuất đáng kể mặt hàng tương tự như
mặt hàng đang bị điều tra. Ngoài ra, luật chống phá giá và các qui định của
DOC không chi tiết về việc lựa chọn nước thay thế; do vậy, việc lựa chọn nước
thay thế có thể có phần nào mang tính chủ quan. Sự chủ quan này, cộng với
việc lựa chọn giá thay thế (cũng có thể phần nào mang tính chủ quan) có ảnh
hưởng đáng kể đến kết quả tính biên phá giá. Khi xác định giá của các yếu tố
đầu vào ở nước thay thế, DOC dựa hầu như hoàn toàn vào các nguồn số liệu
sẵn có công khai. Các nguồn số liệu này gồm: các ấn phẩm xuất bản ở nước
thay thế (ấn phẩm của chính phủ và ngành công nghiệp, báo, tạp chí); các ấn
phẩm của các tổ chức quốc tế (Tổ chức lao động thế giới, Cơ quan năng lượng
quốc tế, Quĩ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Liên hợp quốc và Tổ chức
thương mại thế giới); và các nghiên cứu, báo cáo, và ấn phẩm của Hoa Kỳ và
nước ngoài.
Ngành công nghiệp có khuynh hướng thị trường
ngày sau khi bắt đầu điều tra, tối đa là 275 ngày).
- Giai đoạn 5: Quyết định cuối cùng của Ủy ban thương mại quốc tế Hoa
Kỳ về thiệt hại (260 ngày sau khi bắt đầu điều tra)
- Giai đoạn 6: Lệnh áp đặt thuế chống phá giá (khoảng một tuần sau khi
có quyết định cuối cùng của Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ).
* Điểm đặc trưng riêng của luật chống bán phá giá Hoa Kỳ so với
WTO
Bảng 1-2: Điểm đặc trưng riêng của luật chống bán phá giá Hoa Kỳ
so với WTO
Cơ quan có
thẩm quyền
Bộ Thương mại (DOC) chịu trách nhiệm điều tra phá giá và
đưa ra quyết định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.
Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) chịu trách nhiệm
điều tra thiệt hại.
Bộ trưởng Thương mại ra quyết định áp thuế chống bán phá
giá (tạm thời, cuối cùng, rà soát lại).
Thông tin
Tất cả các thông tin liên quan đến vụ việc (trừ thông tin mật)
đều được đăng tải trên Công báo (Federal Register) để các bên
liên quan và công chúng có thể tiếp cận được.
Vận động
hành lang
Vận động hành lang ở Hoa Kỳ có ý nghĩa rất quan trọng, đặc
biệt trong việc (i) vận động xin kéo dài các thời hạn (ví dụ thời
hạn trả lời các bảng hỏi); (ii) vận động về quy chế thị trường và
những vấn đề liên quan (ví dụ lựa chọn nước thứ 3 thay thế)
Khiếu kiện
Các kết luận sơ bộ, kết luận cuối cùng, quyết định áp dụng biện
pháp chống bán phá giá có thể bị kiện ra Toà Thương mại
diện của Ủy ban châu Âu làm chủ tịch sẽ xem xét đơn kiện. Ủy ban châu Âu sẽ
tiến hành điều tra chống bán phá giá nếu đơn kiện được đánh giá là cung cấp
đầy đủ bằng chứng việc bán phá giá và những tổn thất vật chất. Ủy ban châu
Âu phải quyết định tiến hành điều tra hay khước từ đơn kiện trong vòng 40
ngày kể từ khi nhận được đơn kiện.
Ủy ban châu Âu (EC) sẽ cho đăng quyết định điều tra chống bán phá giá
trên Công báo (The Official Journal of the European Communities). Quyết định
này bao gồm tên sản phẩm sẽ bị điều tra, tên nước xuất xứ của sản phẩm đó và
tóm tắt những thông tin EC đã nhận được, họ cũng nêu thời gian tiến hành điều
tra, thời gian cho phép các bên hữu quan trình bày quan điểm của họ.
Tổng vụ Thương mại thuộc Ủy ban châu Âu tiến hành các cuộc điều tra
chống bán phá giá. Trong trường hợp liên quan đến Việt Nam, Ủy ban châu Âu
sẽ tìm một nước có những điều kiện tương tự với Việt Nam để xác định trị giá
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ
500018
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
thông thường của mặt hàng đang bị điều tra. Thường thường họ sẽ chọn các
nước có giá cao hơn giá của các doanh nghiệp liên quan của Việt Nam để làm
tăng biên độ phá giá của các vụ điều tra.
Mặc dù vậy, các nhà xuất khẩu mặt hàng đang bị điều tra vẫn có thể làm
đơn xin được xem xét công nhận quy chế kinh tế thị trường (MES) nếu chứng
minh được rằng họ hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường và không có sự can
thiệp của nhà nước. Nếu đơn xin công nhận quy chế kinh tế thị trường được
chấp nhận, giá trị thông thường sẽ được tính toán trên cơ sở các thông tin về
giá thành do nhà xuất khẩu cung cấp. Trong trường hợp đơn xin công nhận quy
chế thị trường bị từ chối, các nhà xuất khẩu vẫn có thể tìm cách chứng minh họ
hoạt động không có sự can thiệp của nhà nước đối với đến giá xuất khẩu và
Tuyết Mai
GV. Nguyễn Bich Ngọc
Ủy ban châu Âu có thể áp đặt thuế chống bán phá giá tạm thời Trong
vòng 15 tháng
Ủy ban châu Âu có thể kết thúc điều tra. Ủy ban châu Âu cũng có thể
chấm dứt điều tra mà không áp đặt biện pháp chống bán phá giá hoặc áp đặt thuế
chống bán phá cuối cùng hoặc kết thúc cuộc điều tra bằng việc chấp nhận cam
kết giá của các doanh nghiệp thỏa thuận xem xét lại chính sách giá của họ.
Trong trường hợp bị áp thuế chống bán phá giá, thuế chống bán phá giá
sẽ có hiệu lực 5 năm kể từ ngày áp thuế hoặc sau khi có kết luận xem xét lại
các biện pháp chống bán phá giá. Thuế chống bán phá giá được tính toán theo
thực tế phá giá hay biên độ phá giá.
Khi tình hình đã cho thấy rõ là EU sẽ áp thuế chống bán phá giá, các
doanh nghiệp xuất khẩu có thể cân nhắc việc “cam kết giá” để tránh thuế chống
bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của mình. Cam kết giá là một hình thức của
biện pháp chống bán phá giá mà theo đó nhà sản xuất của nước xuất khẩu cam
kết sẽ tăng giá xuất khẩu của sản phẩm có liên quan vào thị trường EU tới mức
độ không gây tổn thương, cũng không gây phá giá. Cam kết giá được đưa ra
đàm phán với EC vào giai đoạn cuối của cuộc điều tra chống bán phá giá, khi
mức thuế đã được EC tính toán trên cơ sở biên độ bán phá giá của các nhà xuất
khẩu. Cam kết giá có thể được đàm phán đối với thuế chống bán phá tạm thời
cũng như thuế chống phá giá cuối cùng. Khi EC chấp nhận cam kết giá thì EU
sẽ không áp thuế chống bán phá tạm thời hay thuế chống bán phá giá cuối cùng
đối với việc nhập khẩu mặt hàng có liên quan sản xuất tại nước xuất khẩu đã
cam kết giá. EC thường rất thận trọng khi chấp nhận hay khước từ cam kết giá
của nhà xuất khẩu nước ngoài. Ủy ban châu Âu thường không chấp nhận cam
kết giá đối với các nhà xuất khẩu bất hợp tác hoặc không hợp tác đầy đủ trong
quá trình điều tra hoặc các nhà xuất khẩu không sản xuất hoặc không xuất khẩu
mặt hàng liên quan trong thời gian điều tra.
SV: Phạm Thị Ngọc Anh MSV: CQ