Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
!
! "
#$
%&'()*+,(*-./,01234*-+56-7*,8*-2,9:*-;1<$
%-,<=>.?+56-7*,8*-2,9:*-;1<@
A%-,<=>.?*-(B*.C*+56-7*,8*-2,9:*-;1<@
D%-,<=>.?+,0.6EF
$%G+*-,<=>.?H,G++56-7*,8*-2,9:*-;1<I
$A%,02,(J28<+,K*,I
$D%-,<=>.?28<2LMN(O2*,)>H,P(Q
$$%-,<=>.?2,6*,20G*+56!R
$%-,<=>.?ST0'U*,AV
$@%-,<=>.?H<*,W06*,*-01<2=AA
$F%-,<=>.?H<*,W06*,+,X*-H,0G*AD
$I%-,<=>.?-7*,8*-3<=*2YA$
%-,<=>.?+,0.6E+56-7*+56-7*,8*-2,9:*-;1<A$
A%!42ZC[(E3\*,./+,0.6EA$
D%G+,]*,2,X++,0.6E+56-7*,8*-2,9:*-;1<A@
DA%^_62,`0;?+3K+,ZYW?*-a/*.6EA@
DD%^_62,`02,b<,1*+,0.6EAF
D$%^_62,`0,]*,2,X+3T;ST0+56+G+H,0T*.6EAI
$%G+Ec(2CT*,,9d*-3c*,<=([(T,01234*-+,0.6E+56*-7*,8*-AQ
$A%G+*,7*2CT*,,9d*-2,(4+./ST*2,7**-7*,8*-AQ
$D%G+3C<2,5+1*,2L6*,DA
$$%e_>,G22L<f*+56*/*H<*,2cDA
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
$%=2,C*->,G>'()2DD
%€7EW_*-;t,]*,,B<[(E>,7*v+,,<=([(T+,0.6EFV
A%!t,]*,,B<[(EW9*M+,0.6E>,?+2,(4+.80a/*-Y<+ƒHy,1*la/*-Y<H,t*-Hy,1*weY
W?*->,‚*;/;Z2626xFV
D%!t,]*,,B<[(E2|2L}*-*M[(G,1*2LJ*2k*-+,0.6E>,?2,(4+.802k*-+,0.6E.8*M[(G
,1*wZYW?*->,‚*;/;Z2626xF$
F%!42ZC3/N(O2*,„;-<62i*-'9M*-.C*+,0.6E+56*-7*,8*-FQ
FA%\*,,9h*->,G22L<f*,01234*-H<*,W06*,+56-7*,8*--01<2,9:*-<=26;+,<
*,G*,,i*-0*-mFQ
FD%!42ZC-<T<>,G>*,„;2i*-+9b*-+t*-2G++,0.6E+56*-7*,8*-FR
ID
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTW: Ngân hàng trung ương
NHNT: Ngân hàng Ngoại thương
TMCP: Thương mại cổ phần
TTCP: Thủ tướng Chính phủ
BHYT: bảo hiểm y tế
BHXH: bảo hiểm xã hội
CBCNV: cán bộ công nhân viên
PGD: Phòng giao dịch
LVL : Lê Văn Lương
LLQ: Lạc Long Quân
OCD: Ô Chợ Dừa
PVg: Phố Vọng
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
“Phân tích hiệu quả hoạt động cho vay của Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam chi nhánh Thăng Long” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề được kết cấu như sau:
_Lời nói đầu
_Chương I: Lý luận chung về Ngân hàng thương mại và Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam.Vài nét về hoạt động của Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thăng Long.
_ Chương II: Phân tích hiệu quả cho vay của Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam chi nhánh Thăng Long từ 9/2007 đến 12/2008.
_ Kết luận
Với sự hiểu biết còn chưa thật đầy đủ về lý luận và bị hạn chế về số
liệu, đề tài của em không thể tránh khỏi còn nhiều thiếu sót; em rất mong
muốn sẽ nhận được những đóng góp của thầy cô và các cán bộ ngân hàng.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Thái Ninh, cô giáo Hoàng
Thị Thanh Tâm cùng các cô chú, anh chị ở Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam chi nhánh Thăng Long đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình tìm
hiểu thực tế hoạt động Ngân hàng và hoàn thành chuyên đề thực tập này.
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM.
VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG
CHI NHÁNH THĂNG LONG
I/ Lý luận chung về hoạt động của Ngân hàng thương mại
1. Sự ra đời của ngân hàng thương mại
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật
quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, người chủ sở
hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công. Khi công việc này mang lại
*Giai đoạn 3: từ đầu thế kỷ XX đến nay
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, phần lớn các nước phát triển
đac được thực hiện cơ chế một ngân hàng độc quyền phát hành, tuy nhiên các
ngân hàng này vẫn thuộc quyền sở hữu tư nhân.
Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng một cấp ra đời và tồn tại từ 1955 đến
1987 gắn liền với cơ chế quản lý theo kế hoạch tập trung. Trong giai đoạn này
NHNN vừa đóng vai trò NHTW vừa đóng vai trò trung gian. Hệ thống ngân
hàng hai cấp ra đời năm 1988 chia hệ thống ngân hàng làm hai loại: NHTW
là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và ngân hàng độc
quyền phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông; ngân hàng trung gian
đóng vai trò là doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tiền tệ.
2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
Luật tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm
1997, định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện
toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. NHTM có
ba chức năng cơ bản đối với nền kinh tế:
_ Chức năng trung gian tài chính, bao gồm trung gian tín dụng và trung gian
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thanh toán giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
_ Chức năng tạo tiền, tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng
khối tiền tệ cho nền kinh tế.
_ Chức năng “sản xuất” bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để
tạp ra “sản phầm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế.
II/ Nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại
1/ Nghiệp vụ nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng- một trung gian tài chính cung ứng vốn
chủ yếu, hữu hiệu cho nền kinh tế. Việc tạo lập và tổ chức quản lý vốn của
tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho
tiêu dùng.
2/ Nghiệp vụ cho vay
Sau khi huy động được vốn, nắm trong tay một số tiền nhất định thì các
NHTM phải làm thế nào để hiệu qủa hóa những nguồn vốn này, nghĩa là tìm
cách để khoản tiền đó được đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, an toàn và đem lại
nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Một trong những hình thức sử dụng vốn rất
quan trong trong hoạt động kinh doanh của NHTM là cho vay. Khi định nghĩa
về hoạt động cho vay có rất nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nói tóm lại, có
thể định nghĩa hoạt động cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời
một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử
dụng) để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay là quyền của NHTM. Sự phát triển của hoạt động cho vay của
Ngân hàng có vị trí ngày càng quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Hơn nữa
thông qua hoạt động cho vay, NHTM có khả năng mở rộng lương tiền cung
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ứng trên thị trường. Tuy nhiên hoạt động cho vay của Ngân hàng chứa đựng
nhiều yếu tố rủi ro nên NHTM thường yêu cầu khách hàng vay phải tuân thủ
những điều kiện mang tính chất pháp lý nhằm đảm bảo trả nợ khi đến hạn.
Lãi thu được từ hoạt động cho vay, ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi suất
cho nguồn vốn đã huy động và đi vay, thanh toán những chi phí dự trữ, chi
phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và chi phí
rủi ro đầu tư, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của Ngân hàng.
Kinh tế ngày càng phát triển và có nhiều biến động, lượng cho vay của
NHTM gia tăng nhanh hơn trước và loại hình cho vay cũng vô cùng phong
phú và đa dạng. Tại hầu hết các nước công nghiệp phát triển trong nhóm
những nước hàng đầu thế giới, hoạt động cho vay của các NHTM đã mở rộng
Trong điều kiện hội nhập quốc tế và thương mại toàn cầu như hiện nay,
vấn đề giao thương quốc tế và hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng trở nên
phổ biến và mở rộng không ngừng. Điều này tạo nên nhiều cơ hội và thách
thức cho các nhà xuất khẩu cũng như nhập khẩu của mỗi quốc gia. Trong đó,
đối với các nhà xuất khẩu, thực tế so với việc trao đổi hàng hóa nội địa thì
thực hiện bán hàng ra thị trường thế giới mang lại rất nhiều lợi ích. Đó là việc
các nhà xuất khẩu có được lợi nhuận cao hơn, có điều kiện tiếp cận nhiều
khách hàng và có nguồn ngoại tệ dồi dào hơn. Còn với chính phủ các nước,
lĩnh vực xuất khẩu đem lại những nguồn thu nhập lớn từ nước ngoài, tạo việc
làm, công nghệ hiện đại phục vụ phát triển kinh tế các nước. Cùng với phát
triển xuất khẩu, nhu cầu nhập khẩu những hàng hóa cần thiết cho việc sản
xuất và tiêu dùng của nền kinh tế cũng cần quan tâm để có thể tập trung vốn
vào sản xuất những loại hàng hóa là thế mạnh của mình.
Tuy nhiên cùng với những lợi ích mang lại từ giao thương quốc tế thì
sự cạnh tranh gay gắt trên một thị trường rộng lớn đòi hỏi các nhà xuất nhập
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khẩu phải tìm kiếm một sự hỗ trợ rất lớn về mặt tài chính cũng như về mặt kỹ
thuật từ các NHTM để đảm bảo hạn chế rủi ro phát sinh và đủ khả năng để
tiến hành một thương vụ quốc tế được an toàn bởi vì hoạt động xuất nhập
khẩu luôn ẩn chứa các nguy cơ dẫn đến rủi ro và thất bại. Ngoài những khó
khăn thông thường như trong kinh doanh nội địa, các doanh nghiệp tham gia
xuất nhập khẩu còn phải đối đầu với những nguy cơ khác xuất phát từ nhiều
yếu tố đặc thù trong giao thương quốc tế về thời gian thực hiện giao dịch,
khoảng cách địa lý, về loại hình thanh toán và những biến động tỷ giá hối
đoái, về sự khác biệt luật lệ, tập quán kinh doanh và các quy định điều tiết
giữa các chính phủ.
Mặt khác, tuy nói rằng hoạt động tài trợ là của ngân hàng dành cho các
doanh nghiệp nhưng lợi ích không chỉ phát sinh cho các doanh nghiệp mà ở
hàng.
b.Thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế sử dụng một số phương tiện thanh toán chủ yếu như
Hối phiếu (Bill of Exchange hay Draft); Kỳ phiếu (hối phiếu nhận nợ, lệnh
phiếu-promissory, note); séc (cheque).
Quan hệ thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua các phương thức
thanh toán (là toàn bộ quá trình, điều kiện qui định việc trả tiền và nhận mua
hàng của người mua, việc nhân tiền và giao hàng của người bán trong thương
mại quốc tế) , mỗi phương thức thanh toán thích ứng với điều kiện quan hệ
thanh toán cụ thể. Có thể kể đến một số phương thức thanh toán sau: phương
thức chuyển tiền; phương thức nhờ thu; phương thức tín dụng chứng từ.
3.4/ Nghiệp vụ bảo lãnh
Bảo lãnh là một loại hình nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào
giữa những năm 1960 ở Mỹ; vào đầu những năm 1970, nghiệp vụ này bắt đầu
được sử dụng trong những giao dịch quốc tế. Cho đến này, với khả năng ứng
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng rộng rãi trong các loại giao dịch ( kể cả trong giao dịch tài chính và phi
tài chính, thương mại lẫn phi thương mại) nên vị trí của bảo lãnh ngân hàng
ngày càng được củng cố và mở rộng không ngừng, hầu hết các giao dịch lớn
trong phạm vi nội địa cũng như trên phạm vi quốc tế đều có sự hỗ trợ của bảo
lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng, bao gồm Ngân hàng thương mại Nhà nước,
ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng đầu tư phát triển, ngân hàng chính
sách, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam,
nhằm tránh rủi ro và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM bao gồm việc mua cổ
phiếu hoặc mua trái phiếu chính phủ, trái phiểu công ty. Các hoạt động kinh
doanh này mang lại nguồn thu nhập lớn cho NHTM. Tuy nhiên cũng cần lưu
ý việc đầu tư kinh doanh chứng khoán có các mục đích khác nhau: Có khoản
đầu tư kinh doanh tìm kiếm thu nhập; có khoản nhằm mục đích thanh khoản
còn thu nhập chỉ là phụ. Trong quản trị ngân hàng bao giờ cũng phải dự trữ
các chứng khoán ngắn hạn, đặc biệt là tín phiếu kho bạc, loại tín phiếu này
thường xuyên có lãi suất thấp, nhưng lại có tính thanh khoản cao, đáp ứng
mục đích của ngân hàng là nâng cao khả năng thanh toán. Ngoài các chứng
khoán ngắn hạn, việc đầu tư vào các chứng khoán dài hạn chủ yếu nhằm mục
đích tìm kiếm thu nhập.
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.7/ Nghiệp vụ Ngân hàng điện tử
Khoảng hơn một thập kỷ trước đây, hàng loạt các ngân hàng bắt đầu
cung ứng một chương trình phần mềm cho khách hàng nhằm giúp khách
hàng có thể xem số dư tài khoản, đồng thời thực hiện một số lệnh thanh toán
cho một số dịch vụ công cộng như tiền điện, tiền nước,…Đến năm 1995,
nghiệp vụ ngân hàng điện tử (E-Banking) chính thức được triển khai thông
qua phần mềm Quicken của công ty Intuit Inc., với sự tham gia của 16 ngân
hàng lớn nhất nước Mỹ. Khi đó, khách hàng chỉ cần một máy vi tính, một
modem và phần mềm Quicken là có thể sử dụng được dịch vụ này. Ngày nay,
dịch vụ E-Banking đã và đang được nhân rộng ra ngoài nước Mỹ đến tất cả
các châu lục khác, ở các nước phát triển dịch vụ này đã trở nên khá quen
thuộc với khách hàng vì tính tiện lợi và hiệu quả của nó.
Dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như là khả năng của một
khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm : thu thập các
thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản
thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng.
_Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc lẫn lãi. Tính hoàn trả là
thuộc tính vốn có của tín dụng, sự hoàn trả là mối quan tâm hàng đầu của các
ngân hàng khi cho vay, thu hồi nợ đúng hạn là cơ sở để các ngân hàng thương
mại tồn tại và phát triển.
1.3/ Điều kiện vay
Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải đảm
bảo các nguyên tắc như vừa nêu trên nhưng thực tế không phải khách hàng
nào cũng có thể tuân thủ đúng các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho việc
đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi khách
hàng thỏa mãn một số điều kiện cho vay nhất định, bao gồm:
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
_ Khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân
sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
_ Khách hàng có mục đích vay vốn hợp pháp.
_ Khách hàng có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
_ Khách hàng có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có
hiệu quả.
_ Khách hàng phải thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo
quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2/ Các hình thức cho vay của Ngân hàng thương mại
2.1/ Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay
*Cho vay để kinh doanh
Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay với mục đích để phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó
về tiền của doanh nghiệp. Tài trợ vốn cho khách hàng kinh doanh chủ yếu
gồm hai loại: cho vay bổ sung vốn lưu động và cho vay khác như chiết khấu
chứng từ có giá, cho vay trên bộ chứng từ hàng xuất, cho vau theo hạn mức
Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng
thêm cho sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng
đông nhất của các NHTM. Phần lớn các khoản vay này có thế chấp hoặc cầm
cố tài sản.
Các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời
vụ hay các doanh nghiệp cần vay Ngân hàng để xây dựng, mở rộng cải tiến tài
sản cố định thường là khách hàng chủ yếu của ngân hàng.
* Cho vay trung và dài hạn
Doanh nghiệp có nhu cầu vay trung dài hạn để mua trang thiết bị, xây
dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ với sự phát triển, nhu cầu vốn trung và
dài hạn ngày càng cao.Nhà nước vay trung và dài hạn để đầu tư phát triển.
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngân hàng mua các trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp nhằm tài
trợ cho các quá trình hình thành tài sản cố định. Kỳ hạn và khả năng chuyển
đổi của trái phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp, các kế
hoạch tương lai đều được ngân hàng tính toán khi mua trái phiếu.
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm
thực hiện các dự án nhất định có thể xin vay ngân hàng. Một trong những yêu
cầu cho vay của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục
đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án. Thẩm định dự án là
điều kiện để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay xác định khả năng hoàn
trả của doanh nghiệp.
2.3/ Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay
* Cho vay có bảo đảm
Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay
vốn, ngân hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản
đó để thu hồi vốn vay khi người đó vi phạm hợp đồng tín dụng. Quá trình
cung ứng vốn của NHTM, không kể dưới hình thức nào đều làm tăng khối
càng lớn khi mà Ngân hàng có nguồn vốn lớn mạnh. Khi nguồn vốn của Ngân
hàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì Ngân hàng có thêm nhiều tiền cho khách
hàng vay, hoạt động cho vay theo đó sẽ được tăng cường và mở rộng. Còn
nếu lượng vốn ít thì không đủ tiền cho khách hàng vay, Ngân hàng sẽ bỏ lỡ
nhiều cơ hội đầu tư, lợi nhuận của Ngân hàng sẽ không cao và việc tăng
cường hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế. Nhưng nếu vốn quá nhiều, Ngân hàng
cho vay ít so với lượng vốn huy động thì sẽ gây ra hiện tượng tồn đọng vốn.
Lượng vốn tồn đọng này không sinh lời và lãi suất phải trả cho nó sẽ làm
giảm bớt lợi nhuận của Ngân hàng. Nghiên cứu tình hình huy động vốn của
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngân hàng là quan trọng khi muốn tăng cường hoạt động cho vay.
b. Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng
Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển phải có phương hướng và chiến
lược kinh doanh trong từng thời kỳ phát triển. Chiến lược kinh doanh phù hợp
thì hoạt động cho vay sẽ được mở rộng.
c. Chính sách và thông tin về tín dụng
Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với
một khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí,
phương thức cho vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn,
xử lý các khoản vay có vẫn đề…tất cả các yếu tố đó có tác động mạnh mẽ và
trực tiếp đến việc mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng. Nếu như tất cả
các yếu tố thuộc chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì Ngân hàng đó sẽ thành công
trong việc tăng cường hoạt động cho vay nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng
tín dụng. Ngược lại, những yếu tố này bất hợp lý, cứng nhắc, không theo sát
tình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho
vay của Ngân hàng.
Một yếu tố không thể thiếu được quyết định đến hiệu quả và chất lượng
những thay đổi trong môi trường kinh doanh tương lai từ đó hoạch đinh chính
xác các chiến lược, xác định chính sách, kế hoạch kinh doanh phù hợp.
_ Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế: là khả năng giao tiếp cũng như khả
năng tổ chức nhân sự trong mối quan hệ với nhân viên, đồng nghiệp, cấp trên,
khách hàng. Nó còn gồm những kỹ năng khác về lãnh đạo, tổ chức phỏng
đoán, quyết toán trong công việc.
e. Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân
hàng chính là hình ảnh của Ngân hàng. Do vậy với những kiến thức, kinh
Ngô Thị Thu Huyền – Khoa Toán kinh tế
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệm, chuyên môn của mình, nhân viên Ngân hàng có thể làm tăng thêm
giá trị dịch vụ, đề xuất các ý tưởng cải tiến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Nhân viên Ngân hàng là lực lượng chủ yếu chuyển thông tin từ khách
hàng, từ đối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách Ngân hàng.
Cơ sở vật chất thiết bị cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân
hàng. Nếu cơ sở vật chất thiết bị mà lạc hậu thì các công việc của ngân hàng
sẽ được xử lý kém, chậm chạp; các hoạt động của ngân hàng được thực hiện
khó khăn. Điều đó làm cho ngân hàng tụt hậu, kém phát triển, không thu hút
được nhiều khách hàng sẽ làm hạn chế hoạt động cho vay. Ngược lại việc
trang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến phù hợp với phạm vi và quy mô hoạt
động, phục vụ kịp thời các nhu cầu khách hàng với chi phí cả hai bên đều có
thể chấp nhận được sẽ giúp Ngân hàng tăng cường khả năng cạnh tranh, thực
hiện tốt mục tiêu tăng cường hoạt động cho vay.
3.2/ Các đối thủ cạnh tranh
Các NHTM hoạt động trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh là một động lực tốt để ngân hàng ngày càng hoàn thiện, vì vậy để
ngày càng phát triển thì ngân hàng luôn phải cố gắng không để mình tụt hậu
so với đối thủ cạnh tranh và phải nâng cao, tăng cường các hoạt động của