1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGÔ THỊ QUÝ
QUAN HỆ NGOẠI GIAO
GIỮA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC VÀ PHÁP
DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC (1848 – 1883) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2009
3
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
5. Những đóng góp của luận văn 13
6. Cấu trúc của luận văn 14
B. NỘI DUNG 16
Chương 1. QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC DƯỚI
THỜI TỰ ĐỨC (1848 – 1883) 16
1.1 Vài nét về quan hệ Việt Nam và Trung Quốc từ thời Gia Long đến Thiệu Trị 16
1.2. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ 1848 đến 1858 27
1.3. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ 1858 đến 1883 33
1.3.1. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam 33
1.3.2. Triều đình Huế cầu viện Mãn Thanh chống thực dân Pháp 35
1.3.3 Triều Nguyễn yêu cầu Mãn Thanh giúp đỡ tiễu trừ giặc phỉ nước Thanh 49
Chương 2. QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ PHÁP DƯỚI THỜI
TỰ ĐỨC (1848 – 1883) 64
2.1. Quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ đầu thế kỷ XIX đến 1848 64
2.2 Quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ 1848 đến 1858 73
2.3. Quan hệ giữa Việt Nam và Pháp từ 1858 đến 1883 76
Chương 3. VIỆT NAM TRONG MỐI QUAN HỆ TRUNG - PHÁP 86
3.1. Thực dân Pháp từng bước hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt
Nam 86
3.2 Phản ứng của nhà Thanh trước cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp 89
được thể hiện rõ nét trên các mặt chính trị, ngoại giao và quân sự.
Từ sự phân tích những thay đổi trong mối quan hệ giữa Việt Nam và
Trung Quốc từ năm 1848 đến năm 1883, chúng ta cũng thấy rằng, việc thay
5
đổi trong chính sách ngoại giao của triều Nguyễn và triều Thanh là xuất phát
từ chính tình hình nội trị phức tạp của hai bên trong bối cảnh lịch sử mới, và
thực chất đó chính là một con đường để giải quyết những khó khăn của mỗi
nước.
Trong khi đó quan hệ Việt – Pháp lại có những nét phức tạp riêng thể
hiện đường lối đối ngoại “khép kín”, mang tính chất “bài trừ phương Tây”
của triều Nguyễn. Đây có thể nói là một trong những nguyên nhân dẫn tới
cuộc xâm lựơc của thực dân Pháp với Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX, và
cũng là một trong những nguyên nhân khiến triều Nguyễn không giữ được
chủ quyền dân tộc.
Với tất cả ý nghĩa trên, việc tìm hiểu quan hệ giữa Việt Nam - Trung
Quốc, Việt Nam - Pháp dưới triều Tự Đức (1848-1883) là một việc làm cần
thiết trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ cận đại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, có thể nói chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên
cứu một cách toàn diện và hệ thống về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng
như Việt Nam - Pháp trong thế kỷ XIX, đặc biệt là ở giai đoạn nửa cuối thế
kỷ.
Trong một số sách lịch sử cận đại Việt Nam như: Việt Nam sử lược của
Trần Trọng Kim (Nxb Tân Việt, 1951), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
(Từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX ) (Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương
Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Tập III, Nxb Giáo Dục, H, 1965), Việt Nam
thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh (Lửa thiêng, 1970), Việt Nam Pháp
thuộc sử của Phan Khoang (Tủ sách sử học, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn
7
nước trên tất cả các mặt, âm mưu xâm lược Việt Nam của Pháp với chiến
lược “ngoại giao pháo hạm” được thực hiện qua các giáo sĩ thừa sai, các
thương nhân, các nhà ngoại giao Pháp….Đặc biệt tác giả đã dành một phần
đáng kể trình bày và phân tích về mối quan hệ giữa triều Nguyễn, mà chủ yếu
là dưới thời Tự Đức với nhà Thanh trên các vấn đề như : quan hệ giữa hai
nhà nước với việc trình bày quan điểm của cả Việt Nam, Trung Quốc và các
quan hệ chính thức (bang giao sứ), rồi vấn đề về thương mại giữa hai nước,
và cuối cùng là vấn đề người Hoa sống ngoài vòng pháp luật với các loại hải
tặc, thổ phỉ người Thanh…Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến mối quan hệ
giữa Việt Nam và Pháp, trong mối quan hệ Việt – Trung – Pháp. Một trong
những điểm nổi bật là tác giả đã có điều kiện khai thác rất nhiều nguồn tư liệu
khác nhau, đặc biệt là tư liệu trong các lưu trữ của Pháp, nhưng tác giả lại
chưa sử dụng một cách hiệu quả triệt để các tư liệu gốc của Việt Nam và
Trung Quốc, từ đó đưa ra một số kết luận đáng để cho chúng ta phải xem xét
lại. Song đây vẫn là một cuốn sách thực sự có giá trị, cung cấp cho chúng ta
nhiều thông tin quý giá.
Một tác phẩm khác của nữ sử gia G.F.Murasheva (thuộc Liên Xô cũ) là
Quan hệ Việt –Trung thế kỷ XVII-XIX (Bản dịch tiếng Việt, tư liệu khoa Lịch
sử). Nội dung được tác giả kiến giải chủ yếu là trong mối quan hệ với Trung
Quốc, Việt Nam độc lập hay phụ thuộc? Từ chỗ phân tích bản chất của chế độ
triều cống và phân ban được coi là quy tắc của quan hệ giữa hai nước trong
thời kỳ phong kiến, tác giả muốn chứng minh tính chất xen nhau giữa hai yếu
tố nửa độc lập, nửa phụ thuộc của Việt Nam đối với Trung Quốc. Tác giả đã
dành ra chương cuối (chương 3) nói về mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc
trong nửa đầu thế kỷ XIX (trước khi thực dân Pháp xâm lược), “nó còn giữ
được những dấu hiệu lệ thuộc cổ truyền nhưng dấu hiệu đó có tính chất hình
thức nhiều hơn các thời kỳ trước kia” [13;15].
mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Trung Quốc và Việt Nam – Pháp ở
cấp độ giữa các nhà nước chính quyền mà cụ thể ở đây là triều Nguyễn, triều
Thanh và chính phủ Pháp, trên hai lĩnh vực chủ yếu là chính trị, quân sự.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
a. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của các ngành
khoa học lịch sử:
Phương pháp lịch sử;
Phương pháp logic;
Phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, thống kê, tổng hợp…
Khi xem xét mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc và Pháp
trong thế kỷ XIX, chúng ta cần đặt nó trong bối cảnh lịch sử cũng như trong
mối quan hệ với những lĩnh vực khác như sự phát triển về kinh tế, xã hội, tư
tưởng…của xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn. Từ việc phân tích, tổng hợp
luận văn cố gắng đưa ra những đánh giá khách quan về bản chất của mối quan
hệ Việt – Trung, Việt – Pháp dưới triều Nguyễn. Từ việc đối chiếu, so sánh
các sự kiện lịch sử, luận văn sẽ làm sáng tỏ sự thay đổi trong mối quan hệ
ngoại giao giữa triều Nguyễn, triều Thanh và thực dân Pháp qua mỗi giai
đoạn, từ đó đưa ra những lý giải về sự thay đổi cũng như hệ quả của những
thay đổi đó đã tác động như thế nào tới triều Nguyễn.
b. Nguồn tư liệu
Luận văn đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu lịch sử phong phú. Trước hết
và quan trọng nhất là bộ Đại Nam thực lục chính biên do Quốc sử quán triều
Nguyễn biên soạn.
Đại Nam thực lục gồm hai phần, phần Tiền biên và Chính biên. Đại
Nam thực lục chính biên gồm 38 tập, ghi chép về toàn bộ lịch sử triều Nguyễn
10
từ triều vua Gia Long đến triều vua Đồng Khánh. Vì thế qua đây, chúng ta sẽ
thấy được một bức tranh toàn cảnh về lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX trên tất cả
lập công lớn trong việc dẹp giặc.
Châu bản triều Tự Đức (1848-1883) (Trung tâm nghiên cứu Quốc học,
Nxb Văn học, H, 2001) và Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (3 tập,
Nxb Khoa học xã hội, H, 1993) tuy là những công trình chọn lọc và lược dịch
về các tấu sớ, chiếu dụ… của vua Tự Đức hay chỉ là giới thiệu về các tập nhật
ký, các bài thơ đi sứ…nhưng nó cũng thật sự cần thiết để chúng ta đối chiếu
với các bộ chính sử của triều Nguyễn. Bổ sung cho phần này là tập Tự Đức
ngự chế văn tam tập (2 tập, Uỷ ban dịch thuật, Phủ quốc vụ khanh đặc trách
văn hoá xuất bản, 1971) do Tây Hồ Bùi Tấn Niên biên dịch và chú thích đầy
đủ cả phần chữ Hán và dịch nghĩa các bài dụ, văn tế, cáo phó, biểu, phú,
chiếu, sớ…dưới thời Tự Đức cho thấy khá rõ tư tưởng ngoại giao của Tự Đức
đối với Trung Hoa và với nước Pháp.
Có thể nói, các nguồn sử liệu của Việt Nam rất đa dạng, phong phú
không chỉ phản ánh được khá đầy đủ các khía cạnh của mối quan hệ Việt
Nam và Trung Quốc dưới triều Nguyễn, mà còn bổ sung cho nhau nhằm so
sánh, đối chiếu các sự kiện, để từ đó có thể tìm ra các sự kiện gần với sự thực
lịch sử nhất.
Tuy không phong phú bằng nguồn sử liệu Việt Nam, nhưng nguồn sử
liệu Trung Quốc mà chúng tôi được tiếp cận cũng hết sức quý giá. Các nguồn
sử liệu này, không chỉ soi sáng mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ
“phía bên kia” là các quan điểm, chính sách, hoạt động của nhà Thanh mà đây
12
cũng chính là một nguồn tư liệu để chúng ta kiểm tra lại những thông tin
trong chính sử triều Nguyễn trên cùng một trục thời gian.
Đại Thanh thực lục (Thanh sử) là bộ chính sử ghi chép theo lối biên niên
về toàn bộ lịch sử triều Thanh. Trong đó, một phần quan trọng là Những việc
bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thế kỷ XIX, ghi chép từ năm
1802 Gia Khánh thứ 7- triều Thanh (tương đương với Gia Long thứ 1- triều
Nguyễn) đến năm 1902 Quang Tự thứ 28- triều Thanh (Thành Thái thứ 14-
- Phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và
Pháp trong từng giai đoạn từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1883, đặc biệt từ năm
1848 đến 1883, từ đó xác định những biến đổi trong mối quan hệ Việt –
Trung, Việt – Pháp qua mỗi thời kỳ.
- Phân tích, đánh giá tác động của mối quan hệ Trung – Pháp đối với
Việt Nam.
- Góp phần làm sáng tỏ chính sách ngoại giao của triều Nguyễn và
nguyên nhân triều Nguyễn để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp nửa cuối thế
kỷ XIX.
- Hệ thống lại những sự kiện lịch sử liên quan tới quan hệ giữa Việt Nam
– Trung Quốc và Việt Nam – Pháp qua các tư liệu lịch sử, đặc biệt là qua bộ
Đại Nam thực lục.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về chính sách ngoại giao từ
triều Nguyễn. 14
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm có 3 chương. Cấu trúc cụ thể của luận văn như sau:
A. PHẦN MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG (gồm 3 chương)
Chương 1: Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời
Tự Đức (1848 – 1883)
Trước hết, luận văn phác họa một vài nét về mối quan hệ ngoại giao
giữa Việt Nam với Trung Quốc từ thời vua Gia Long đến Thiệu Trị, sau đó
tìm hiểu sâu mối quan hệ này dưới thời Tự Đức. Luận văn cố gắng thể hiện
lại mối quan hệ truyền thống với những thi thức bang giao Thiên triều –
Thuộc quốc giữa triều Nguyễn – triều Thanh qua từng thời kỳ. Đặc biệt luận
không cần biết tới phản ứng của Việt Nam là gì. Điều này cũng chính là hệ
quả tất yếu từ đường lối ngoại giao của triều Nguyễn đối với Trung Quốc và
Pháp.
C. KẾT LUẬN
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
E. PHỤ LỤC 16
B. NỘI DUNG
Chương 1
QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC (1848 – 1883)
1.1 Vài nét về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ thời Gia
Long đến Thiệu Trị
Đã có khá nhiều tác giả khi nghiên cứu về các vấn đề lịch sử Việt Nam,
hay về lịch sử ngoại giao Việt Nam với Trung Quốc đã ít nhiều đề cập đến
quan hệ Việt - Trung nửa đầu thể kỷ XIX. Nhưng hầu hết các tác giả đều tập
trung phân tích ý nghĩa của việc sắc phong và triều cống giữa triều Nguyễn
và triều Thanh để tìm hiểu bản chất mối quan hệ giữa hai nhà nước phong
kiến Việt Nam và Trung Quốc.
Chúng ta không phủ nhận rằng ở nửa đầu thế kỷ XIX, trong mối quan hệ
giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì một trong những nét quan trọng nhất là
vấn đề sắc phong và triều cống- đặc trưng căn bản của quan hệ ngoại giao
nói những biểu hiện trên vẫn còn nguyên giá trị của nó.
Trong Hội điển của triều Nguyễn đã quy định rất chặt chẽ, cụ thể những
nghi thức trong quan hệ bang giao với nhà Thanh. Cho đến trước năm 1858
khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các vua Nguyễn đều thực hiện rất đầy đủ
các nghi thức trong việc xin phong và triều cống các triều đình phong kiến
Trung Hoa.
18
Dưới triều Nguyễn, mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc vẫn được
thực hiện chủ yếu thông qua các đoàn sứ bộ. Ghi chép trong chính sử triều
Nguyễn cho biết các đoàn sứ bộ dưới ba triều vua Gia Long, Minh Mệnh và
Thiệu Trị diễn ra như sau:
Bảng 1: Các đoàn Sứ bộ được cử sang Trung Hoa từ năm 1802 đến 1847
Năm
Sứ bộ
Mục đích đi sứ
Nhâm Tuất
(1802)
Chánh sứ: Trịnh Hoài Đức
Phó sứ: Ngô Nhâm Tĩnh
Huỳnh Ngọc Uẩn
Mang dấu ấn vàng và sắc phong
mà nhà Thanh phong cho triều
Tây Sơn sang trả. Báo tin Nguyễn
Ánh chiến thắng Tây Sơn lập triều
đại mới
Giao nộp cho nhà Thanh 3 tên
cướp biển người Tàu [48; 495]
Quý Dậu
(1813)
Chánh sứ: Nguyễn Du
Phó sứ: Trần Văn Đại
Nguyễn Văn Phong
Tuế cống theo lệ [78; 307] Đinh Sửu
(1817)
Chánh sứ: Hồ Công Thuận
Phó sứ: Nguyễn Huy Trinh
Phan Huy Thực
Tuế cống theo lệ
[78; 307]
Kỷ Mão
(1819)
Chánh sứ: Nguyễn XuânTình
Phó sứ: Đinh Phiên
Nguyễn Hựu Bổng
Mừng lễ lục tuần Đại Khánh của
vua Gia Khánh [78; 307]
Canh Thìn
(1820)
Chánh sứ: Ngô Vị
Phó sứ: Trần Bá Kiên
Hoàng Văn Thịnh
Báo tang vua Gia Long và xin
phong vương cho vua Minh
Mạng[78; 307]
Quý Tỵ
(1837)
Chánh sứ: Trần Văn Trung
Phó sứ: Phan Thanh Giải
Nguyễn Huy Chiểu
Tuế cống theo lệ[78;309]
Đinh Dậu
(1840)
Chánh sứ: Phạm Thế Trung
Phó sứ: Nguyễn Đức Hoạt
Nguyễn VănNhượng
Tuế cống theo lệ[78;309]
Tân Sửu
(1841)
Chánh sứ: Lý Văn Phức
Phó sứ: Nguyễn Đức Hoạt
Bùi Phụ Phong
Báo tang vua Minh Mạng và xin
phong cho vua Thiệu Trị [78;309]
Ất Tỵ
(1845)
Chánh sứ: Trương Hảo Hợp
Phó sứ: Phạm Chi Hương
Vương Hữu Quang
Tạ ơn việc nhà Thanh cử Bảo
Thang sang tuyên phong cho vua
Thiệu Trị vào năm 1842 [78;310]
Như vậy, vua Nguyễn nào lên ngôi, việc làm trước hết cũng là cử một
tỉnh Quảng Tây sang Việt Nam để phong vương cho Nguyễn Phúc Ánh. Lễ
sắc phong vua Gia Long, sau này cả Minh Mệnh và Thiệu Trị đều diễn ra ở
Thăng Long- Hà Nội. Sau lễ sắc phong, các vua Nguyễn chính thức trở thành
“phiên thần” của nhà Thanh, thể hiện sự thần phục của mình bằng việc thực
hiện triều cống theo định kỳ.
Đến triều vua Minh Mệnh, năm 1839, vua Thanh đã ra chỉ dụ, quy định
triều Nguyễn 4 năm sang Thiên triều triều cống 1 lần và chỉ phải nộp một nửa
số cống vật ngày trước”[10; 81].
Ngoài ra, triều đình còn quy định rất tỉ mỉ về công văn dâng cho hoàng
đế Trung Hoa, cho các tỉnh biên giới đón tiếp sứ thần, về sứ quán, sứ thuyền
đón rước đoàn sứ thần của Trung Quốc sang làm lễ sắc phong.
22
Tất cả những quy định đó đã nói lên nghi lễ sắc phong và triều cống
được chuẩn bị cẩn thận và có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với triều
Nguyễn. Nó tỏ rõ thái độ “thần phục” nhà Thanh của triều Nguyễn. Song
đúng như nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, dù Việt Nam thần phục nhưng
đó chỉ là trên danh nghĩa, còn thực tế Việt Nam không hề bị bó buộc vào mối
quan hệ với Thiên triều.
Mặt khác, có lẽ Mãn Thanh cũng chỉ cần duy trì mối quan hệ với các
nước phiên thuộc xung quanh bằng việc sắc phong và triều cống. Trong nửa
đầu thế kỷ XIX, nhà Thanh đã thi hành chính sách không can thiệp vào công
việc đối nội và đối ngoại của Việt Nam. Năm 1820, khi Gia Long mất, nội bộ
triều đình Huế có sự tranh giành việc nối ngôi, vua Thanh Gia Khánh đã dụ
các quân cơ đại thần: “Trước nghe Nguyễn Nguyên tâu rằng tự vương nước
Việt Nam sai sứ dâng biểu cáo phó. Rồi viên ấy lại tâu rằng nghe nói nước ấy
chú cháu tranh nối ngôi. Trẫm xét việc ấy là việc nội bộ của nước ấy, họ
muốn làm gì thì làm, thiên triều không hề can thiệp đến, làm ngơ như là
không biết đến. Các viên đốc thần biên cương chỉ nên nghiêm sức các viên
chức văn võ diên biên bí mật thăm dò tình hình nước ấy và canh phòng các
mật sai người đi dò xét. Một năm sau, vua Thanh nhận được một bản tường
trình về tình hình thuyền, súng của Việt Nam và được biết “Việt Nam đã
không thể chống cự được người Anh”. Như vậy, nhà Thanh có thể nhờ vào
mối quan hệ thuộc quốc- Thiên triều với Việt Nam, nhưng không thể bắt Việt
Nam hoàn toàn phụ thuộc vào mình, hơn nữa nhà Thanh cũng thực sự có
những lo lắng, không phải là không có những đề phòng khi có ý định dựa vào
sự giúp đỡ của Việt Nam.
Như vậy, một mặt triều Thanh chỉ chú ý tới việc sắc phong và triều cống
của Việt Nam thể hiện sự thần phục đối với mình, mặt khác triều Thanh,
24
ngoài việc duy trì mối quan hệ truyền thống này, đã tỏ ra rất e dè trong việc
đặt các quan hệ khác với Việt Nam.
Đối với triều Huế, ngoài mối liên hệ với Thiên triều bằng việc chịu nhận
sắc phong và triều cống, hầu như cũng không có mối quan tâm nào khác.
Nhưng đến những năm 40, 50 của thế kỷ XIX, những biến động của Trung
Quốc đã tác động không nhỏ đến triều Nguyễn.
Như chúng ta đã biết, ngay trong nửa đầu thế kỷ XIX, Trung Quốc đã
phải đối diện trực tiếp với sự xâm lược của các nước tư bản phương Tây, mà
trước hết là cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất (1839-1842) do Anh
gây ra. Những biến động này không phải là “triều đình Huế mù tịt không biết
một tí gì”[82; 30], mà ngược lại đã thực sự rất quan tâm. Trong những năm
cuối đời, Minh Mệnh đã liên tiếp cử các đoàn công cán sang Quảng Đông,
Hương Cảng (Trung Quốc) mượn tiếng là đi mua hàng hoá nhưng thực chất là
để dò xét tình hình nước Thanh. Ngay năm 1839, phái viên thuyền Nam Hưng
sang Quảng Đông công cán về cho biết tình hình nước Thanh là “tổng đốc
Lâm Tắc Từ kháng cự với quân Hồng mao (Anh), hai bên đều có người chết,
người bị thương, chưa biết rõ bên nào được”. Minh Mệnh cho rằng: “binh
thuyền của Hồng mao bất quá mấy chiếc, Lâm Tắc Từ đem quân toàn tỉnh
đánh sao lại không đánh nổi. Hơn nữa quân Hồng mao vượt biển mà đến,
kém, có thất bại nhưng vẫn là Thiên triều, vẫn là trung tâm của văn minh. Có
lẽ vậy, nên quan hệ truyền thống với Mãn Thanh sau này vẫn rất quan trọng
đối với các vua Nguyễn. Lễ sắc phong vẫn diễn ra long trọng và việc triều
cống vẫn thực hiện hết sức đều đặn dưới các triều vua kế tiếp là Thiệu Trị và
Tự Đức.
Có thể nói, điểm nổi bật nhất trong mối quan hệ Việt Nam và Trung
Quốc nửa đầu thế kỷ XIX là quan hệ bang giao truyền thống giữa hai nhà