Hư cấu nghệ thuật và sự thực lịch sử qua Hồ Quý Ly và Giàn thiêu - Pdf 25



Hư cấu nghệ thuật và sự thực lịch sử qua
"Hồ Quý Ly" và "Giàn thiêu"
Chuyên ngành: Văn học
Mã số : 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS. TS.Lưu Khánh Thơ

Hà Nội - 2008
Lê Thị Bích Hoà - 1 - Luận văn thạc sỹ
- 2 - Luận văn thạc sỹ
nhƣ nhà phê bình Đỗ Trung Lai: “khiến người đọc dường như có thể bá vai
hoặc ôm hôn họ, ngửi thấy mùi mồi hôi của họ, biết và suy nghĩ về tính cách
số phận của họ”[51;315]. Không những vậy văn học còn ““Phán xét” cả
lịch sử; “chưng cất lại”lịch sủ, cãi ngầm với sử học về nhân sinh, thế sự
để giúp nhận thức thêm, nhận thức lại lịch sử và số phận con người ” [51;
315-316]. Với một nhà văn, lịch sử không là những xác chết và những sự cố
biên niên ù lì. Trong tiểu thuyết lịch sử, quá khứ là lịch sử nhìn bởi nhà văn,
nhà văn nhƣ chủ thể. Đó là thứ quá khứ tái chiếm hữu và tái tạo từ vị thế
hiện tại của chủ thể, với ý thức về giới hạn của sự truy lùng chân lý “khách
quan”. Để tái chiếm hữu lịch sử, nhà văn phải nhìn ngƣợc thời gian với quan
điểm triết lý (duy vật, duy tâm, biện chứng này nọ), từ đó suy xét phân giải
các sự cố, và thậm chí phán xử, cách này hay cách khác, những con ngƣời
có tên trong chính sử. Có thể minh oan hoặc buộc tội. Tuỳ nặng nhẹ, nhà
văn bắt họ đội mồ đứng dậy. Đó chính là cách mà nhà văn xây dựng các tiểu
thuyết mang chủ đề lịch sử.
1.3 Mảng đề tài viết về lịch sử không phải là một đề tài mới xuất hiện trong
văn học Việt Nam mà nó đã có một quá trình phát triển lâu dài trong nền văn
học dân tộc, nó luôn là mảnh đất màu mỡ gieo mầm và phát triển cho hạt
giống tiểu thuyết. Đây là đề tài luôn thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà
văn và bạn đọc.
Ta đã biết đến hàng loạt các tiểu thuyết lịch sử viết trong thời kỳ trung
đại và tiếp nối những bậc tiền bối, tiểu thuyết hiện đại lại tiếp tục mảng đề
tài này với sự góp mặt đông đảo của những cây viết lớn. Nửa đầu thế kỉ XX,
ta đã biết đến tên tuổi của những tác giả viết tiểu thuyết lịch sử nhƣ Nguyễn
Tử Siêu, Nguyễn Triệu Luật, Chu Thiên Cuối thế kỷ XX đầu thế kỉ XIX,
là sự kế tiếp của những cây bút đầy tâm huyết nhƣ Hà Ân, Hoàng Công
Khanh, Ngô Văn Phú, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Bình

vốn đƣợc coi là dòng chảy ngầm trong Văn học Việt Nam, lặng lẽ song luôn
tiềm ẩn sức sống bền bỉ. Hơn nữa hai tác phẩm này xuất hiện gần nhau trong
bối cảnh thời kỳ đổi mới của văn học nƣớc nhà với bao thử thách và cơ hội
mới. Chúng ta có quyền tự hào về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam qua Hồ Quý
Ly và Giàn thiêu.
Lê Thị Bích Hoà - 4 - Luận văn thạc sỹ
1.4 Hồ Quý Ly và Giàn thiêu ngay từ khi ra đời đã tạo đƣợc tiếng vang trong
dƣ luận bạn đọc. Nó đặt ra vấn đề có ý nghĩa đối với sự phát triển của thể
loại tiểu thuyết lịch sử. Các ý kiến đánh giá trong hội thảo về Hồ Quý Ly
cũng nhƣ Giàn thiêu trên các báo, tạp chí đều khẳng định đóng góp của hai
tác phẩm đối với tiểu thuyết lịch sử nƣớc nhà. Nó đặt ra những vấn đề có ý
nghĩa thời sự “ứng nghiệm” với mọi thời đại và có ý nghĩa đối với sự phát
triển của thể loại tiểu thuyết trên. Vì vậy, chúng tôi chọn Hồ Quý Ly và Giàn
thiêu là cách tiếp cận khoa học để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa sự thực lịch
sử và hƣ cấu nghệ thuật qua hai tác phẩm này từ đó thấy đƣợc thành tựu của
tiểu thuyết lịch sử.
2. Lịch sử vấn đề:
Vấn đề sự thực và hƣ cấu trong các tiểu thuyết lịch sử luôn đƣợc các
nhà văn, nhà phê bình quan tâm, đề cập tới. Tuy vậy, cho đến nay, còn rất ít
các công trình nghiên cứu đề cập tới mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hƣ
cấu nghệ thuật một cách toàn diện, có tính hệ thống qua các tác phẩm tiêu
biểu. Mà hầu hết mới chỉ ở mức độ chung chung hoặc có chăng thì chỉ là
những bài phê bình, tiểu luận xuất hiện trên các báo, tạp chí trong và ngoài
nƣớc bàn về tiểu thuyết lịch sử. Tuy nhiên chúng ta vẫn tìm thấy những khía
cạnh đánh giá, nhận xét khác nhau trong vấn đề nội dung và nghệ thuật của
thể loại này.
2. 1. Những ý kiến đánh giá về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

đáng ghi nhận đối với quá trình vận động và phát triển của tiểu thuyết lịch
sử; từ việc lấy con người làm trung tâm khám phá lịch sử, khả năng hiện tại
hoá lịch sử làm cho nhân vật trở thành nhân vật tiểu thuyết, cái nhìn dân
chủ đối với lịch sử cho đến việc tạo nên ngôn ngữ tiểu thuyết giàu cá tính
Về phương diện nghệ thuật, Hồ Quý Ly cũng có những thể nghiêm mới
mẻ”[56]
Hay nhƣ Nguyễn Phƣơng Chi khi Đọc tiểu thuyết Người Thăng
Long của Hà Ân đánh giá tác phẩm ở những phƣơng diện: “Vừa vẽ lại
được diện mạo lịch sử, vừa nắm bắt được đâu là các quy luật vận động
trong lịch sử, xây dựng những chân dung lịch sử có cá tính, có đời sống và
vận mệnh của nhân vật tiểu thuyết”[12].
Lê Thị Bích Hoà - 6 - Luận văn thạc sỹ
Đọc Lịch sử trong quan niệm Nguyễn Huy Thiệp nhà nghiên cứu
văn học Vƣơng Anh Tuấn cho rằng: “Những đặc điểm miêu tả trong truyện
lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp cho ta liên tưởng tới nhiều hơn đến chủ nghĩa
hiện thực kỳ ảo, ở đó có quan niệm nghệ thuật ít nhiều phù hợp với quan
niệm lịch sử của anh”[50; 332].
Trần Cƣ trong Đến với Nguyễn Trãi qua Vằng vặc sao Khuê đánh
giá: “Hoàng Công Khanh tỏ ra tương đối có bản lĩnh trong việc xây dựng
nhân vật Nguyễn Trãi đạt tới tầm cỡ lịch sử, trên nhiều bình diện trong đời
sống chung và cả đời sống riêng tư. Tác phẩm có những “miếng” kịch sảng
khoái, mới mẻ và sáng tạo”[15]
Tác giả Phạm Trọng Luật khi Bàn về tiểu thuyết Gió lửa của Nam
Dao, cho rằng: “Gió lửa có thể chuyên chở khá nhiều những vấn đề tư
tưởng mà tác giả muốn đưa ra thảo luận. Nó thuộc vào thứ “văn học tư
tưởng” chưa mấy phát triển ở Việt Nam, Nhìn từ văn bản, Gió lửa không
phải chỉ là tiểu thuyết lịch sử. Nếu việc phân tích tác phẩm, từ quan điểm

chƣa đi sâu phân tích mọi mặt của tác phẩm một cách hệ thống, nhƣng nó
vẫn có ý nghĩa trong việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết lịch sử.
2. 2 Những ý kiến đề cập trực tiếp tới Hồ Quý Ly và Giàn thiêu:
Trong bài viết Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết
mới ngƣời viết bài khẳng định: “Hồ Quý Ly gần 1000 trang, tác giả của nó
như thể đã chọn lối hành văn cổ đẻ thể hiện những câu chuyện xảy ra trong
thời cổ, tưởng như khó tìm được tâm đắc vậy mà người ta đọc, có thể đo số
lượt người đọc qua số lần nối bản và tái bản, cũng có thể đo qua liên tiếp ba
giải thưởng (Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội; giải thưởng Hội Nhà văn
Việt Nam, giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội). Và khi đọc Hồ
Quý Ly người ta thấy tác giả đã dày công cho những nhân vật đàn ông, và
đằng sau những nhân vật đàn ông ấy là bóng dáng những đàn bà làm nên
tâm trạng họ”. Và khi ấy “Người ta thấy ở Hồ Quý Ly là thời khoảng biến
động thượng lưu, mà qua đó bạn đọc thấy được tâm sự nhà văn Nguyễn
Xuân Khánh muốn nói với người đương thời về hy vọng đầy phiền muộn của
nhà cải cách vĩ đại Hồ Quý Ly – cái mẫu cải cách muôn thuở - cái đau của
kẻ tiên phong”[].
Lê Thị Bích Hoà - 8 - Luận văn thạc sỹ
Còn Đỗ Ngọc Yên trong Hồ Quý Ly cách tân hay bạo chúa thì:
“Qua Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh không chỉ đem đến cho thể loại tiểu
thuyết một sinh khí, nâng vị thế của nó lên một tầm cao mới về nội dung, đề
tài, chủ đề và hình thức thể hiện. Nhưng theo tôi, với tiểu thuyết này Nguyễn
Xuân Khánh đã vươn lên trên những sự kiện lịch sử, thổi vào đó luồng cảm
xúc thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo, làm cho các sự kiện ấy trở nên sinh động
hơn, gây hứng thú cho bạn đọc”[77].
Chính tác giả Nguyễn Xuân Khánh khi nhận xét về tác phẩm của
mình cũng cho rằng: “Hồ Quý Ly là ý tưởng về sự đổi mới, sự đâu đớn cấp

đọc hết hơn 800 trang vẫn muốn đọc lại”.[28]
Phạm Xuân Thạch khi bàn về vấn đề tiểu thuyết mang đề tài lịch sử
thì cho rằng: “lịch sử nhiều khi không phải là điểm cuối cùng của một tiểu
thuyết. Điểm cuối cùng của một tiểu thuyết như Hồ Quý Ly sẽ không phải là
đáp án cho một nghi án lịch sử. Đây là một tiểu thuyết dày đặc những nhân
vật với tư cách là những lập trường tư tưởng, những ẩn dụ tư tưởng: những
kẻ “bị quỷ ám”(Không khỏi làm ta liên tưởng tới tiểu thuyết Lũ người quỷ
ám) của đại văn hao F. Dostoievski) bị ám ảnh bởi những lí tưởng cuồng
vọng(Nguyên Cẩn, Hồ Hán Thương; Trần Khát Chân); những lãnh tụ chính
trị theo đuổi những lí tưởng công chính (nhân danh sự đổi mởi, nhân danh
sự bác ái) nhưng bị giằng xé giữa mục đích và phương tiện để rồi rơi vào
môt trạng thái phi nhân(những thủ đoạn phi nhân – kiểu Hồ Quý Ly và sự
bạc nhược trước cái ác hoành hành- qua hình tượng hoàng đế thuộc triều
đại nhà Trần) và kẻ si, những người thao thức vì số phận cả dân tộc và nhân
dân, những kẻ lựa chọn “con đường khổ ải đi về phía nhân dân””[65]
Có thể nói, xung quanh tác phẩm Hồ Quý Ly có nhiều ý kiến đánh giá
nhận xét khác nhau, nhƣng qua những ý kiến đó ta nhận thấy sự ghi nhận
thành công của tác phẩm từ phía độc giả.
Và trên nền tiểu thuyết lịch sử, Giàn thiêu của nhà văn Võ Thị Hảo
cũng đƣợc đƣa ra bàn luận hết sức sôi nổi ngay từ khi tác phẩm mới ra đời:
“Năm 2003, giải thưởng tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam được trao
cho cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Được
khởi thảo từ những thập niên 60 và viết lại trong thập niên 90, cuốn sách
Lê Thị Bích Hoà - 10 - Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Xuân Khánh viết về triều Hồ, một trong những triều đạii ngắn ngủi
nhất trong lịch sử Việt Nam nhưng cũng là triều đại thi hành những chính
sách cải cách xã hội táo bạo gây những biến động trong xã hội Việt Nam.

ra đời thì: “Văn đàn lại xôn xao về cuốn tiểu thuyết lịch sử Giàn
thiêu”[30;7]. Bởi: “Võ Thị Hảo – chỉ nhắc đến tên thôi, người ta cũng đã
tưởng tượng ra một nhà văn nữ đầy cá tính và gần đây tên tuổi của chị càng
đượng nhắc đến nhiều hơn khi tiểu thuyết Giàn thiêu của chị đoạt giải
thưởng Hội Nhà văn Hà Nội ”[30;6]. Cũng nhƣ vậy: “Giàn thiêu – mặc dù
hấp dẫn, nhưng nó là cuốn tiểu thuyết không dễ đọc. Cũng như truyện ngắn
của Võ Thị Hảo, cuốn tiểu thuyết này đang đi theo con đường riêng của nó,
ngấm dần vào trái tim người ta và những tầng lớp ngữ nghĩa cũng như hình
tượng nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này thường trở đi trở lại và ám ảnh
người đọc”[30;7].
Lỗi văn chƣơng mệ hoặc, huyền bí này một lần nữa lại đƣợc nhà
nghiên cứu- phê bình Phạm Xuân Nguyên đề cập tới khi nhận xét tác phẩm:
“Giàn thiêu- xứ sở của lối văn chương mê hoặc và huyền bí” và “ người
đọc lại ngạc nhiên thấy mình khám phá ra một lớp ngữ nghĩa khác ẩn mình
sau những câu chữ. Đó là lỗi văn được tác giả thổi linh hồn. Linh hồn đó
tạo nên những câu văn huyền ảo mê hoặc, thậm chí ma quái”[30;8]. Cũng
theo Phạm Xuân Nguyên thì: “Có người so sánh Giàn thiêu với Đàn hương
hình của Mạc Ngôn- nhà văn nổi tiếng Trung Quốc. Có người nói rằng Võ
Thị Hảo đã quá bạo gan khi dám lật ngược lại nhân vật Ỷ Lan Nguyên Phi.
Ý kiến so sánh thì nhiều, nhưng có một điều khá thống nhất là khi cầm Giàn
thiêu trên tay, đa số người phải đọc một mạch”.[30;8-9]
Qua một vài ý kiến nhận xét, phê bình, có thể nói, cả Hồ Quý Ly và
Giàn thiêu đều là những tác phẩm có giá trị vể mặt nội dung và nghệ thuật.
Đặc biệt là mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hƣ cấu nghệ thuật thông qua
hai tác phẩm tiểu thuyết mang đề tài lịch sử này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng khảo sát
Lê Thị Bích Hoà
Lê Thị Bích Hoà - 13 - Luận văn thạc sỹ
1. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử.
2. Tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam.
3. Vị trí của Hồ Quý Ly và Giàn thiêu trong sự phát triển của tiểu thuyết
lịch sử thời kỳ hiện đại.
Chƣơng 2: Nội dung hiện thực lịch sử qua Hồ Quý Ly và Giàn thiêu.
1. Cách khai thác chất liệu lịch sử qua Hồ Quý Ly và Giàn thiêu.
2. Tính chân thực lịch sử và hƣ cấu nghệ thuật qua Hồ Quý Ly và Giàn
thiêu.
Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly và Giàn
thiêu
1. Nghệ thuật kết cấu.
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
3. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.


cách đa dạng”. [53; 222- 223]. Cụ thể hơn: “Tiểu thuyết là cái nhìn cuộc
sống từ góc độ đời tư”; “là tái hiện cuộc sống không thi vị hoá, lãng mạn
hoá, lý tưởng hoá. Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh
thành”. [53; 223]
Lê Thị Bích Hoà - 15 - Luận văn thạc sỹ
Từ điển Tiếng Việt : “Tiểu thuyết là truyện dài bằng văn xuôi có
dung lượng lớn, với nhiều nhân vật hoạt động trong phạm vi lịch sử, xã hội
rộng lớn”[34; 992].
Còn theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự
sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá
trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được triển khai
trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ
cấu” của nhân cách” [4].
Tuy những khái niệm trên có nội hàm rộng hẹp khác nhau nhƣng
chúng đều cho ta nhận thức chung về tiểu thuyết ỏ một hay nhiều mặt.
Chúng tôi đồng tình với cách hiểu nhƣ sau: “Tiểu thuyết là cái nhìn cuộc
sống từ góc độ đời tư và táI hiện cuộc sống không lãng mạn hoá, không thi
vị hoá, lý tưởng hoá. Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời. Ngoài
ra con người tiểu thuyết là con người nến trải tư duy, chịu đau khổ, dằn vặt
của cuộc đời trong khi nhân vật của sử thi, kịch, nhân vật truyện cổ thường
là nhân vật hành động. Tiểu thuyết miêu tả suy tư của nhân vật về thời gian,
về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm trình bày tường tận
tiểu sử của nhân vật”[53;223]. Và chính bởi những điều trên, tiểu thuyết là
thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật
của các thể loại văn học khác.
1.2 Tiểu thuyết lịch sử là gì?
Nhƣ trên chúng tôi đã trình bày, tiểu thuyết là thể loại văn học có khả

gồm các thể loại văn học khác nhau cùng viết về đề tài lịch sử. Trong đó:
“Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và chi
tiết hư cấu, tuy nhiên, nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên
các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trong lời ăn tiếng nói, trang phục
phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy. Tác phẩm văn học
lịch sử thường mượn chuyện xưa để nói chuyện đời nay, hấp thụ những bài
học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã
qua, song không vì thế mà hiện đại hoá người xưa, phá vỡ tính chân thực
lịch sử của thể loại.”[53; 205]
Lê Thị Bích Hoà - 17 - Luận văn thạc sỹ
Từ những khái niệm trên cho chúng ta thấy, mặt hƣ cấu là không thể
thiếu trong mỗi tác phẩm viết về đề tài lịch sử. Nhƣng sự hƣ cấu đó phải dựa
trên cơ sở của sự thực lịch sử, hƣ cấu có mức độ, không cho phép quá đà. Để
có thể đạt tới mục đích sự chân thực, chân thực “hơn cả sự thực ngoài đời”
hay sự thực đã diễn ra trong lịch sử. Điều đó chỉ có thể xảy ra khi cái thực
đƣợc mang tính nghệ thuật. Nghĩa là nhà văn đã cụ thể hoá mà đấy chính là
đặc trƣng của thể loại tiểu thuyết. Chính nó làm nên sức mạnh truyền cảm,
chinh phục mạnh mẽ tâm hồm của độc giả khi đọc tiểu thuyết lịch sử.
Nhƣ vậy, tiểu thuyết lịch sử là phân loại nhỏ của tiểu thuyết. Nó có
đầy đủ những đặc điểm riêng với tƣ cách là một thể loại văn học, nó ƣu tiên
cho khả năng hƣ cấu, sáng tạo để “soi sáng những thời kỳ quá khứ con
người đã trải qua với mục đích rõ ràng là để gạn lọc những tình trạng tiến
thoái lưỡng nan của hiện tại. Nó giúp ta làm những bảng so sánh, đối chiếu
thời đại nọ với thời đại kia. Tác giả tiểu thuyết lịch sử sử dụng quá khứ như
một khí cụ để vẽ lên những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại và do
đó làm sáng tỏ hiện tại.” [24]. Năng lực hƣ cấu, sáng tạo của nhà văn sẽ làm
cho tiểu thuyết lịch sử là thể loại văn học chứ không phải sử học.

năng để tái hiện gƣơng mặt bề bộn, phức tạp của lịch sử. Tuy nhiên, trong
hầu hết các tác phẩm, tính cách và tâm lý nhân vật ít đƣợc đề cập đến. Nghệ
thuật khắc hoạ nhân vật mang tính ƣớc lệ, truyện đƣợc kể theo trình tự thời
gian tuyến tính. Thiên nam liệt truyện đƣợc coi là tiểu thuyết đầu tiên của
Bắc Hà. Về nội dung, đây là tác phẩm hi hữu viết về cuộc nội chiến Lê -
Mạc. Ở đó, vấn đề kẻ sĩ, ngƣời trí thức phải đối mặt với chữ trung đƣợc đặt
ra. Nhiều nhân vật đã phải phân thân trong thế lƣỡng nan. Và khi Hoàng Lê
nhất thống chí ra đời, nó đã đánh dấu sự phát triển thêm một bậc của tiểu
thuyết lịch sử. Nhân vật trở nên đa dạng và phong phú hơn. Đây là cuốn tiểu
thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán và là đỉnh cao của thể loại này. Tác giả đã
có cách nhìn nhận và thái độ lịch sử hết sức tỉnh táo, không bị thiên kiến chi
phối. Hằng trăm nhân vật nhƣ Nguyễn Huệ, ông vua già Hiển Tông đã
thoát khỏi “vai lịch sử” trở thành nhân vật văn học với nhân cách và cá tính
khá nổi bật. Giọng điệu của nhân vật có sự pha trộn hài hoà giữa cái bi tráng
và hài hƣớc, đây có thể coi là thành công quan trọng của tác phẩm. Nó đã
Lê Thị Bích Hoà - 19 - Luận văn thạc sỹ
vƣợt qua lối ghi chép biên niên bằng cách viết kết hợp sự kiện hiện tại với
dòng hồi tƣởng, “phá bỏ lối kể chuyện theo trình tự thời gian” [54]. Đúng
nhƣ nhà nghiên cứu Lại Văn Hùng nhận định: “Nếu như “Đoạn trường tân
thanh” là tập đại thành của thể loại trường thiên Nôm lục bát thì “Hoàng
Lê nhất thống chí” là tập đại thành của thể loại tự sự trường thiên chữ
Hán” [34]. Hai tác phẩm này ra đời gần nhƣ cùng một giai đoạn văn học đã
bƣớc đầu khẳng định những thành công về nghệ thuật của tiểu thuyết lịch
sử, đồng thời đánh dấu sự ảnh hƣởng của nó đến đời sống văn học.
Mặc dù số lƣợng tác phẩm còn ít, nghệ thuật truyện còn đơn giản hầu
hết là các tác phẩm tiểu thuyết chƣơng hồi, tâm lí, tính cách ít đƣợc biểu
hiện song với khoảng sau tiểu thuyết lịch sử chữ Hán, tiểu thuyết lịch sử thời

Nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, trong điều kiện cả nƣớc đang sục
sôi ý chí đấu tranh chống thực dân Pháp và để tránh sự kiểm duyệt khắt khe
của kẻ thù, không còn cách nào khác là lấy chuyện lịch sử ngày xƣa để nói
bóng gió sang chuyện đƣơng thời. Tái hiện quá khứ hào hứng của dân tộc để
ấp ủ lòng yêu nƣớc, nhắc nhở đồng bào đừng bao giờ quên quá khứ. Và phải
làm điều gì đó cho hiện tại, cái việc mà cha ông đã làm. Bên cạnh đó, tiểu
thuyết lịch sử ra đời còn do yêu cầu đa dạng về thể loại trong tiến trình hiện
đại hoá văn học. Mặt khác, còn là sự phản ứng lại hiện tƣợng dịch thuật
truyện Tàu. Tuy vậy, sự phản ánh đó biểu hiện trong sáng tác chỉ ở mức độ
đổi mới về nội dung phản ánh còn về mặt hình thức thể hiện vẫn không có gì
thay đổi nhiều so với văn học truyền thống. Bởi cái mới không dễ dàng đƣợc
chấp nhận khi truyền thống văn học cũ đã ăn sâu vào tâm khảm của nhà văn
cũng nhƣ công chúng. Những ngƣời cầm bút ở Nam Bộ phần lớn hấp thụ
nền Tây học nhƣng mặt khác họ cũng có quá trình theo nho học, mặc dầu có
những cố gắng “vƣợt thoát” ra khỏi những qui phạm của văn học truyền
thống, nhƣng không triệt để. Về phía khách quan, yêu cầu thực tế sáng tác
đòi hỏi văn học hƣớng tới tầng lớp bình dân là những ngƣời lao động bình
thƣờng trong xã hội, vốn quen thuộc với đề tài “trung, hiếu, tiết, nghĩa”, “ở
hiền gặp lành” của văn học truyền thống. Tâm lí phóng khoáng, thích phiêu
lƣu mạo hiểm, trung thực nghĩa khí là những vấn đề đƣợc phản ánh trong
truyện Tàu, bởi vậy, nhà văn Nam Bộ đã mƣợn lại hình thức sáng tác này và
Lê Thị Bích Hoà - 21 - Luận văn thạc sỹ
quan trọng là nó đáp ứng đƣợc “khẩu vị” của độc giả, vừa với khả năng của
ngƣời cầm bút và điều đáng quí là nêu cao tinh thần tự hào về lịch sử dân
tộc.
Giai đoạn đầu, tiểu thuyết lịch sử ở Nam Bộ có tính chất “ngoại sử”.
Lịch sử chỉ đƣợc dùng nhƣ cái nền để tác giả đi sâu miêu tả cuộc sống đời tƣ

Hoàng tử Cảnh như Tây (1931) của Tân Dân Tử… Còn ở Miền Bắc cũng có
những thành tựu đáng kể: Nguyễn Nhật Quang với Chuyện Đức Thánh
Trần, Đinh Gia Thuyết với Ngọn cờ vàng. Tiêu biểu nhất là Nguyễn Tử Siêu
với nhiều tác phẩm gây đƣợc tiếng vang nhƣ: Tiếng sấm đêm đông (1928),
Vua bà Triệu ẩu (1929), Hai bà đánh giặc (1929), Việt Thanh chiến sử
(1929), Trần Nguyên Chiếu Kỷ (1932)…. Ở giai đoạn này, tiểu thuyết lịch
sử vẫn chƣa thoát khỏi lối kể chuyện chƣơng hồi, kết cấu mạch lạc theo thời
gian đơn tuyến, miêu tả ngoại hình để khắc hoạ tính cách nhân vật, ngƣời kể
ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ theo lối biền ngẫu, kết thúc có hậu. Tuy vậy, đã có
sự chuyển biến rõ rệt so với giai đoạn trƣớc, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng
nhân vật. Nhân vật chính trong truyện là nhân vật có thực trong lịch sử, sống
động, cụ thể, đầy đủ những tính cách và tình cảm của con ngƣời bình
thƣờng, với những băn khoăn, những nỗi buồn, kể cả những khát vọng rất
nhân bản của con ngƣời.
Đến giai đoạn sau 1932, do không bắt kịp đƣợc đà tiến lên của lịch sử
văn học. Tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ ít dần và không còn gây đƣợc tiếng
vang nhƣ giai đoạn đầu thế kỷ. Ngƣợc lại, tiểu thuyết lịch sử miền Bắc vẫn
tiếp tục phát triển với sự khai hoá của nhiều cây bút mới nhƣ Nguyễn Triệu
Luật với Bà chúa chè; Loạn kiêu binh; Ngô Tất Tố với: Vua Hàm Nghi với
việc kinh thành thất thủ; Nguyễn Huy Tƣởng với Đêm hội Long Trì, An Tư,
Cầu Vòng Yên Thế Có thể nói, đến giai đoạn này, “nghệ thuật tiểu thuyết”
đã đƣợc tác giả chú ý, không khí và màu sắc lịch sử đƣợc trình bày trên cơ
sở tôn trọng sử liệu, tính chân thực lịch sử kết hợp với hƣ cấu, tƣởng tƣợng.
Bên cạnh những con ngƣời bằng xƣơng bằng thịt trong lịch sử là hệ thống
những nhân vật đƣợc tác giả hƣ cấu hoàn toàn với những mâu thuẫn, giằng
xé nội tâm Các nhà viết tiểu thuyết lịch sử muốn thông qua những “đứa
con tinh thần” của mình góp một tiếng nói nhằm nhóm lên ngọn lửa sục sôi
Lê Thị Bích Hoà
Lê Thị Bích Hoà - 24 - Luận văn thạc sỹ
2.2 Tiểu thuyết lịch sử nửa sau thế kỷ XX đến nay
Từ sau năm 1945, hiện thực kháng chiến là đối tƣợng chính trong văn
học mà các nhà văn hƣớng tới. Lúc này, cách mạng đã thành công, miền Bắc
tăng cƣờng sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, sát cánh cùng miền Nam
đấu tranh chống Thực dân Pháp xâm lƣợc trở lại. Văn học yêu nƣớc đang từ
chỗ bị kìm kẹp, kiểm duyệt khắt khe nay đƣợc tự do phát triển.Ở giai đoạn
đầu thế kỷ XX, nhà văn chỉ dám mƣợn chuyện lịch sử để nói bóng gió
chuyện đƣơng thời, khơi gợi tinh thần dân tộc, yêu nƣớc chống ngoại xâm
thông qua việc khắc hoạ lại những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử. Còn
giai đoạn sau 1945, nhà văn tham gia cách mạng, trực tiếp đi sâu đi sát thực
tế thì mảng đề tài viết về lịch sử tạm thời lắng xuống để nhƣờng chỗ cho văn
học viết về cuộc kháng chiến chống xâm lƣợc và xây dung chủ nghĩa xã hội.
Từ thập kỷ 60-70 của thế kỷ trƣớc tới nay, tiểu thuyết lịch sử đã xuất
hiện trở lại với những cây bút giàu tâm huyết. Đó là Chu Thiên với Bóng
nước Hồ Gươm; Thái Vũ với Cờ nghĩa Ba Đình. Và nhất là những tác phẩm
của Nguyễn Huy Tƣởng nhƣ Lá cờ thêu sáu chữ vàng; Kể chuyện Quang
Trung những tác phẩm này đã đọng lại trong lòng ngƣời đọc dƣ âm khó
phai. Mặc dù không phát triển rầm rộ nhƣ nửa đầu thế kỷ XX nhƣng tiểu
thuyết lịch sử giai đoạn này cũng gặt hái đƣợc những thành tựu đáng kể.
Tài năng của Chu Thiên dƣờng nhƣ đƣợc tích tụ ở Bóng nước Hồ
Gươm, tác phẩm dày 842 trang viết về tầng lớp sĩ phu Hà Thành trƣớc nạn
xâm lƣợc của Thực dân Pháp nửa sau TKXX. Tác phẩm cho thấy sự hiểu
biết cặn kẽ về Hà Nội của nhà văn trong hoàn cảnh lịch sử giai đoạn này.
Trên khung cảnh lịch sử ấy, Chu Thiên sáng tạo ra một hệ thống nhân vật,
xoay quanh hệ thống nhân vật chính là tầng lớp sĩ phu Hà Thành. Qua đây,
ta bắt gặp sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự kiện và nhân vật. Đòi hỏi ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status