Chính sách ngoại giao năng lượng của Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ 21 - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐOÀN THỊ THU HƢƠNG CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG LƢỢNG CỦA
LIÊN BANG NGA NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2013


Hà Nội - 2013

3 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
MỞ ĐẦU 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG LƢỢNG CỦA LB
NGA 15
1.1 Năng lƣợng và ngoại giao năng lƣợng 15
1.2 Ƣu thế về năng lƣợng của LB Nga 19
1.3 Nhu cầu năng lƣợng của thế giới và những biến động trên thị trƣờng năng lƣợng
toàn cầu 23
Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG LƢỢNG
CỦA LB NGA ĐẦU THẾ KỈ 21 28
2.1 Sự ra đời của chiến lƣợc toàn cầu về dầu mỏ của LB Nga 28
2.2 Các biện pháp triển khai chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga đầu thế kỉ 21 . 31
2.2.1 Trong quan hệ với Mỹ 31
2.2.2 Trong quan hệ với Liên minh châu Âu (EU) 38
2.2.3 Trong quan hệ với các nước SNG 41
2.2.4 Trong quan hệ với các cường quốc mới nổi ở châu Á 44
2.2.5 Trong quan hệ với các nước đang phát triển 47
Chƣơng 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM 53
3.1 Đánh giá chung 53
3.1.1 Đặc điểm chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga 53
3.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện ngoại giao năng lƣợng của Nga 56
3.2 Chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga với Việt Nam 61

Tập đoàn Dầu mỏ và Khí đốt tự nhiên Trung Quốc
5.
CVP
Venezuela Petro Corporation
Công ty dầu khí Venezuela
6.
EEA
European Economic Area
Khu vực kinh tế châu Âu
7.
EIA
U.S. Energy Information Administration
Cục Thông tin năng lƣợng Mỹ
8.
EU
European Union
Liên minh Châu Âu

5

9.
GNEP
Global Nuclear Energy Partnership
Chƣơng trình đối tác năng lƣợng hạt nhân toàn cầu
10.
HEU
Highly enriched uranium
Urani có độ làm giàu cao
11.
IAEA

OPEC
Organization of the Petroleum Exporting Countries
Tổ chức các nƣớc xuất khẩu dầu lửa

6

20.
PVI
Petrovietnam Insurance Joint Stock Corporation
Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
21.
PVN
PetroVietnam
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
22.
ROSATOM
Rosatom State Nuclear Energy Corporation
Tổng Công ty nhà nƣớc về năng lƣợng nguyên tử ROSATOM
23.
RVP
RusVietPetro Company
Xí nghiệp liên doanh "RusVietPetro"
24.
SCO
Shanghai Cooperation Organization
Tổ chức hợp tác Thƣợng Hải
25.
SNG
Commonwealth of Independent States
Cộng đồng các quốc gia độc lập

3.
Bảng 2.3: Sự phụ thuộc vào năng lƣợng nhập khẩu của EU
4.
Bảng 2.4: Sơ đồ dự án Dòng chảy phƣơng Bắc
5.
Bảng 2.5: Sơ đồ dự án Dòng chảy phƣơng Nam
8

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần một thập kỷ cầm quyền của Tổng thống Boris Yeltsin (1991-1999), nƣớc Nga
đã chìm trong khủng hoảng cùng với sự suy giảm địa vị trên trƣờng quốc tế và bị xem nhƣ

Việt Nam và LB Nga là hai nƣớc có quan hệ truyền thống tốt đẹp kế thừa từ thời Liên
Xô cũ. Do đó, trong tiến trình thực hiện đề án phát triển năng lƣợng quốc gia, Đảng và nhà
nƣớc ta luôn coi LB Nga là đối tác chiến lƣợc. Hai bên cũng đã đạt đƣợc nhiều thành tựu trong
lĩnh vực hợp tác năng lƣợng với việc tiến hành ký kết hàng loạt Hiệp định liên chính phủ trong
lĩnh vực này. Đặc biệt, Việt Nam cũng đã thông qua Chƣơng trình Điện hạt nhân quốc gia với
dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 do LB Nga là chủ thầu với phƣơng thức “chìa
khóa trao tay”. LB Nga cũng đã hỗ trợ Việt Nam xây dựng một Trung tâm Khoa học và công
nghệ hạt nhân với một lò phản ứng nghiên cứu đặt tại Lâm Đồng- một bƣớc hỗ trợ cho
Chƣơng trình điện hạt nhân quốc gia của Việt Nam.
Nhìn chung, thực tế đã chứng minh sự đúng đắn của LB Nga trong việc sử dụng năng
lƣợng nhƣ một công cụ chính trị. Trƣớc tình hình LB Nga và Việt Nam ngày càng hợp tác sâu
rộng về vấn đề năng lƣợng, việc nghiên cứu sâu nhằm hiểu rõ hơn về chính sách ngoại giao
năng lƣợng của LB Nga – cách thức Nga áp dụng con bài năng lƣợng đối với từng đối tƣợng
sẽ giúp Việt Nam nắm bắt tốt hơn các cơ hội hợp tác, cũng nhƣ rút ra đƣợc những bài học kinh
nghiệm quý báu trong việc quản lý, triển khai đề án năng lƣợng quốc gia. Bên cạnh đó, một
phần kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đƣợc sử dụng làm tƣ liệu cho đề tài nghiên cứu
“chính sách xuất khẩu của LB Nga trong các lĩnh vực liên quan đến điện hạt nhân phục vụ dự
án điện hạt nhân Ninh Thuận I” của Viện Năng lƣợng nguyên tử Việt Nam. Xuất phát từ
những ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, học viên quyết định lựa chọn tên đề tài luận văn
“Chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga những năm đầu thế kỷ 21”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể nói, sự phục hồi và trỗi dậy của LB Nga có tác động không nhỏ tới cục diện thế
giới cũng nhƣ có tầm ảnh hƣởng lớn tới vô số quốc gia và khu vực. Trong đó, năng lƣợng
chính là đòn bẩy kinh tế để LB Nga khôi phục và thực hiện các mục tiêu chính trị. Vì thế,
chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga đã trở thành đề tài đƣợc các học giả Việt Nam

10

và thế giới tập trung nghiên cứu khai thác. Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu tại nƣớc
ngoài và Việt Nam mà ngƣời viết có thể tiếp cận đƣợc nhƣ sau.

giao năng lƣợng của LB Nga là thúc đẩy xuất khẩu bằng việc mở rộng khai thác các mỏ dầu
khí; tận dụng sự phụ thuộc của các nƣớc vào nguồn cung dầu khí của mình để duy trì và xây
dựng không gian hậu Xô Viết và tìm cách để gia tăng giá dầu khí. Có thể nói, tác giả Kari
Liuhto đã phân tích đƣợc vai trò của dầu khí trong chính sách ngoại giao của LB Nga- thông
qua hoạt động xuất khẩu, trao đổi buôn bán để duy trì tầm ảnh hƣởng tại các khu vực truyền
thống. Năm 2011, Routledge đã xuất bản cuốn “Chính sách an ninh và ngoại giao năng
lƣợng của Nga” của hai tác giả Dellecker và Thomas Gomart. Cuốn sách đi sâu phân tích mối
quan hệ giữa LB Nga và các nƣớc Trung Á trong lĩnh vực dầu khí, những nỗ lực của LB Nga
nhằm kiểm soát nguồn cung dầu khí dồi dào của khu vực này. Mới đây nhất, vào đầu năm
2012, Edward Elgar Publishing đã cho xuất bản cuốn sách “Chính sách năng lƣợng của
Nga: Cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu” do Pami Aalto biên tập. Cuốn sách tổng hợp
các bài phân tích của các chuyên gia về chính sách năng lƣợng của LB Nga. Trong đó, các học
giả đã phân tích phƣơng thức LB Nga áp dụng chính sách năng lƣợng ở các cấp độ quốc gia,
khu vực và thế giới. Ở cấp độ quốc gia, các học giả tập trung phân tích các yếu tố kinh tế, xã
hội, chính trị tác động đến chính sách năng lƣợng của LB Nga; Để phân tích chính sách năng
lƣợng của LB Nga ở khu vực, các tác giả đã phân tích chính sách của LB Nga khi thực hiện dự
án dòng chảy phƣơng Bắc và con đƣờng vận chuyển dầu khí của LB Nga qua Ukraina và
Belarus; Ở cấp độ thế giới, cuốn sách phân tích các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu năng lƣợng
và chính sách hƣớng đông – tăng cƣờng quan hệ với các nƣớc châu Á- Thái Bình Dƣơng của
LB Nga.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
Tại Việt Nam, cũng từ năm 2006, vấn đề LB Nga sử dụng công cụ năng lƣợng đã đƣợc
nghiên cứu trong bài viết “Dầu mỏ: vũ khí lợi hại của Nga. Cuộc thử nghiệm tăng giá khí
đốt cho châu Âu” của tác giả Trần Ngọc Toản trên Thời báo kinh tế số ra ngày 21/2/2006.
Bài viết chỉ ra việc LB Nga sử dụng giá dầu khí nhƣ công cụ thƣởng bạn phạt thù với các quốc
gia vốn chịu ảnh hƣởng của LB Nga và tăng sức ép lên EU- một thị trƣờng phụ thuộc chính
vào nguồn cung năng lƣợng từ Nga. Vấn đề này lại trở lại trong bài viết “Sự vƣơn lên của
nƣớc Nga dƣới thời Tổng thống Putin” của tác giả Nguyễn Thanh Hiền trên Tạp chí nghiên
cứu châu Âu, số 11 năm 2007. Bài viết cho thấy ƣu thế về dầu mỏ, khí đốt chính là đòn bẩy để
LB Nga khôi phục kinh tế, từ đó củng cố địa vị chính trị- ngăn chặn việc phƣơng Tây can

nguyên tử - một lĩnh vực phát triển rất mạnh tại LB Nga. Do đó, trong luận văn của mình,
ngƣời viết sẽ tập trung thêm vào việc Nga sử dụng năng lƣợng nguyên tử nhƣ một dạng công
cụ ngoại giao. Từ đó, luận văn chỉ ra sự linh hoạt của LB Nga trong việc áp dụng hai con bài
này đối với từng đối tƣợng tùy thuộc vào yếu tố địa lý, kinh tế và chính trị.

13

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là từ năm 2000 khi Tổng thống Putin lên nắm quyền,
thi hành một loạt chính sách đối ngoại mới, trong đó có chính sách tận dụng công cụ năng
lƣợng nhằm tối đa hóa lợi ích quốc gia, đến năm 2012.
4. Nguồn tài liệu tham khảo
Để hoàn thành luận văn này, học viên đã sử dụng những nguồn tài liệu gốc và nguồn
tài liệu nghiên cứu chủ yếu bằng tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt. Những nguồn tài liệu gốc
đƣợc học viên khai thác nhƣ các Hiệp định về năng lƣợng Nga ký với các quốc gia khác, các
văn kiện ngoại giao và tuyên bố của Nga, thông điệp của tổng thống Nga…. Các nguồn tài
liệu nghiên cứu có thể kể tới trong luận văn nhƣ sau:
- Sách, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học các cấp: các ấn phẩm của học viện
Ngoại giao, Viện nghiên cứu Châu Âu, Viện Năng lƣợng nguyên tử Việt Nam, các sách
nghiên cứu của các học giả nƣớc ngoài….
- Báo, tạp chí nghiên cứu, tài liệu tham khảo đặc biệt: các tạp chí Nghiên cứu quốc tế,
tạp chí nghiên cứu Châu Âu và các tạp chí nƣớc ngoài …
- Nguồn tin tức từ Internet: trang web chính thức của chính phủ Nga, các trang web
nghiên cứu nƣớc ngoài…
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Do luận văn có đề cập tới chính sách ngoại giao của một quốc gia nên phƣơng pháp
đƣợc sử dụng chủ yếu ở đây là các phƣơng pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế.
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học khác nhƣ
phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp phân tích, so sánh, logic, tổng hợp, kiểm tra, đánh giá tƣ
liệu, hệ thống hóa nhằm rút ra những nhận định có tính tổng hợp, khái quát phục vụ cho
nghiên cứu đƣợc chi tiết, xác thực hơn.

Chƣơng ba nêu bật đặc điểm chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga thông qua
so sánh việc thực hiện ngoại giao năng lƣợng của LB Nga với một số nền ngoại giao năng
lƣợng tiêu biểu khác trên thế giới; Phân tích chính sách năng lƣợng của LB Nga đối với Việt

15

Nam và đƣa ra một số đề xuất cho Việt Nam nhằm tối đa hóa lợi ích trong quan hệ hợp tác với
LB Nga.
Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG LƢỢNG CỦA LB
NGA
1.1 Năng lƣợng và ngoại giao năng lƣợng
Theo Từ điển giáo khoa vật lý do Nxb Giáo dục phát hành năm 2007, năng lƣợng là số
đo chung của chuyển động vật chất trong các hình thức chuyển động khác nhau, về mặt định
tính, ngƣời ta phân ra các dạng năng lƣợng là cơ năng, điện năng, hóa năng…[7, tr.474].
Theo Từ điển Webster's New World College
1
, năng lƣợng là năng lực tạo ra hành động
hoặc là cơ sở để tạo ra nguồn lực gồm có dạng động năng và thế năng. Trong khi đó, Từ điển
American Heritage 4
2
định nghĩa: năng lƣợng là khả năng tạo ra sức mạnh cho các hoạt động
và đƣợc sản sinh từ các nguồn nhiên liệu thô, ánh sáng mặt trời, nhiên liệu hạt nhân…với các
dạng điện năng, cơ năng…
Nhƣ vậy, năng lƣợng đƣợc định nghĩa theo rất nhiều cách nhƣng về bản chất, năng
lƣợng là năng lực làm vật thể hoạt động đƣợc sản sinh từ các nguồn khác nhau nhƣ: Gỗ; sức
nƣớc; sức gió; địa nhiệt; ánh sáng mặt trời; than đá, dầu, khí tự nhiên (nhiên liệu hoá thạch) và
uranium (nhiên liệu hạt nhân). Trong đó, dầu mỏ, khí đốt và năng lƣợng hạt nhân là những

Abdullah Ahmad Badawi, ngoại giao năng lượng là làm giảm bớt mức độ phụ thuộc vào các
nguồn cung cấp dầu và khí đốt bên ngoài nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia [57].
Có thể nói, đúng nhƣ cựu ngoại trƣởng Mỹ Henry Kissinger khẳng định “những vấn đề
năng lượng, tài nguyên ngày nay đang đứng ngang hàng với các vấn đề an ninh quân sự, ý
thức hệ, tranh giành lãnh thổ [27, tr.18]. Năng lƣợng đang khiến cho đời sống chính trị thế
giới trở nên nhộn nhịp hơn trên cả cấp độ song phƣơng và đa phƣơng.
Về cấp độ song phương, năng lƣợng là mục tiêu thúc đẩy nguyên thủ các nƣớc, đặc
biệt là các nƣớc lớn nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, thực hiện các cuộc viếng thăm cấp
cao tới các khu vực có trữ lƣợng dầu mỏ lớn nhằm tăng cƣờng quan hệ hợp tác. Điển hình nhƣ
Trung Quốc, riêng trong năm 2004, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhƣ Hồ Cẩm Đào, Ngô
Bang Quốc, Ôn Gia Bảo….đã lần lƣợt thăm 32 quốc gia gồm các nƣớc châu Á (Việt Nam,
Malaysia, Indonesia, Lào, Pakistan…), châu Âu (Nga, Anh, Hà Lan), Trung Á (Kazakhstan,
Kyrgyzstan, Azerbaijan), châu Phi (Sudan, Nigeria, Gabon…), Nam Mỹ (Venezuela, Peru…).

17

Năng lƣợng hạt nhân cũng chính là nền tảng để Mỹ thúc đẩy và đàm phán những kế
hoạch hành động song phƣơng với Nga, Nhật, Trung Quốc và Úc. Kế hoạch hành động song
phƣơng Mỹ- Nga đƣợc ký kết vào ngày 11/12/2006, là kết quả của Hội nghị công tác năng
lƣợng hạt nhân dân sự Mỹ- Nga. Kế hoạch hành động chung về năng lƣợng nguyên tử Mỹ-
Nhật đƣợc ký kết ngày 18/4/2007. Kế hoạch hành động hợp tác năng lƣợng hạt nhân dân sự
song phƣơng Mỹ- Trung đƣợc ký kết ngày 18/9/2007 tại Viên và kế hoạch hành động song
phƣơng Mỹ- Úc đƣợc ký kết ngày 30/8/2007 [58].
Trên cấp độ đa phương, dầu mỏ và khí đốt cũng đã góp phần hình thành những liên
minh, những quan hệ đối tác chiến lƣợc và tập hợp lực lƣợng mới. Ngoài tổ chức các nƣớc
xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) ra đời từ năm 1960 với sự tham gia của 5 quốc gia, trong những
năm qua, thế giới đã chứng kiến sự hình thành và ra đời của khá nhiều tổ chức trong đó dầu
mỏ và khí đốt là nguyên nhân chính. Tổ chức Hợp tác Thƣợng Hải (SCO) là một ví dụ điển
hình của sự tập hợp lực lƣợng trong đó dầu mỏ và an ninh khu vực là trụ cột chính. Những
thành viên của SCO là những quốc gia có trữ lƣợng dầu khí dồi dào đồng thời cũng là những

lƣợng hạt nhân toàn cầu (Global Nuclear Energy Partnership - GNEP) ra đời ngày 19/6/2007
với 16 quốc gia thành viên là Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, Bungary, Hungary,
Kazakhstan, Ba Lan, Slovenia, Ghana, Jordan, Lithuania, Romania và Ukraina. GNEP là sự
hợp tác giữa các quốc gia cùng chia sẻ tầm nhìn chung về sự cần thiết mở rộng sử dụng năng
lƣợng hạt nhân vì mục đích hòa bình một cách an toàn và không phổ biến vũ khí hạt nhân.
Hiện nay, Chƣơng trình đối tác năng lƣợng hạt nhân toàn cầu (GNEP) đƣợc đổi tên là khuôn
khổ hợp tác năng lƣợng nguyên tử quốc tế (IFNEC) với 25 quốc gia thành viên, 3 quan sát
viên thƣờng trực là các tổ chức đa phƣơng và 31 quốc gia tham gia với tƣ cách quan sát viên
[16, tr6].
Tóm lại, năng lƣợng đóng vai trò then chốt trong việc củng cố an ninh quốc gia, sự
thịnh vƣợng của nền kinh tế và sự ổn định của toàn cầu. Do đó, các quốc gia ngày càng quan
tâm hơn tới vấn đề năng lƣợng và tìm mọi cách để kiểm soát nguồn cung năng lƣợng nhằm
đảm bảo an ninhh năng lƣợng quốc gia. Năng lƣợng đã trở thành nhân tố có tác động mạnh mẽ
đến quan hệ quốc tế trên cả cấp độ song phƣơng và đa phƣơng, khiến đời sống chính trị thế
giới đầu thế kỉ 21 trở nên nhộn nhịp với sự ra đời của một loại hình ngoại giao mới- ngoại
giao năng lƣợng.

3
Hiệp ƣớc đƣợc đề xuất bởi Ireland, bắt đầu đƣợc ký kết năm 1968, và Phần Lan là quốc gia đầu tiên thực hiện
việc ký kết. Năm 1992, cả năm quốc gia có vũ khí hạt nhân đều tham gia ký hiệp ƣớc. Hiệp ƣớc đƣợc chỉnh lý
năm 1995, bổ sung với Hiệp ƣớc Cấm Thử nghiệm Toàn diện năm 1996. Đại đa số các quốc gia có chủ quyền
(187 nƣớc) đều tham gia hiệp ƣớc. Hiệp ƣớc thƣờng đƣợc tóm tắt thành ba Nguyên tắc trụ cột: Không phổ biến,
Giải giới và Quyền sử dụng kỹ thuật hạt nhân cho mục đích hoà bình.

19

1.2 Ƣu thế về năng lƣợng của LB Nga
Với diện tích 17.075.400km
2
, LB Nga đặc biệt đƣợc thiên nhiên ƣu đãi với trữ lƣợng

20

Dƣơng chứ không phải là những “ông lớn” của thị trƣờng năng lƣợng thế giới (Phụ lục 2). Do
đó, Nga củng cố vị thế riêng của mình bằng cách kiểm soát xuất khẩu năng lƣợng Trung Á.
Nga không chỉ xuất khẩu năng lƣợng của riêng mình, mà với mạng lƣới đƣờng ống dẫn rộng
lớn, Nga đóng vai trò “ngƣời giữ cửa” quan trọng, tăng cƣờng vị thế của mình trong ngành
năng lƣợng Âu Á (Phụ lục 3 và 4). Nga mua khí đốt và dầu mỏ từ Trung Á sau đó bán lại với
giá cao hơn. Do Nga không phê chuẩn Hiệp ƣớc Hiến chƣơng Năng lƣợng (ECT)
4
đã ký dƣới
thời Tổng thống Yeltsin nên các nƣớc Trung Á không thể tự do tiếp cận hệ thống đƣờng ống
dẫn của Nga ngay cả khi các nƣớc này có đủ khả năng. Đƣơng nhiên vị trí “ngƣời giữ cửa”
này cải thiện vị thế của Nga đối với các nƣớc Trung Á, phải phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu
dầu khí. Ví nhƣ, vị trí chiến lƣợc của các đƣờng ống củng cố vị thế đàm phán của Nga đối với
Ukraina, là nơi nhận chính khí đốt từ Trung Á. Trong năm 2008, Ukraina nhập khẩu gần 60
bcm khí và tất cả đều thông qua các đƣờng ống của Gazprom. Turkmenistan là đối tác năng
lƣợng truyền thống của Nga ở Trung Á. Kể từ năm 2006, Turkmenistan đã xuất khẩu khoảng
50 bcm khí, chủ yếu là tới Nga [62]. Tuy nhiên do vụ nổ đƣờng ống dẫn tháng 4 năm 2009,
nhập khẩu khí đốt của Nga từ Turkmenistan chỉ đạt 10 bcm năm 2009 và giữ nguyên cho đến
cuối năm 2012. Tƣơng tự nhƣ Turkmenistan, Kazakhstan phân phối khối lƣợng dầu khí đáng
kể thông qua Nga. Năm 2007, Kazakhstan đã xuất khẩu khoảng 60 tấn dầu. Xuất khẩu khí đốt
của Kazakhstan ít hơn nhiều so với Turkmenistan. Trong năm 2007, Kazakhstan xuất khẩu chỉ
có 5 bcm khí đốt tới Nga, tƣơng đƣơng với lƣợng khí đốt Phần Lan nhập khẩu từ Nga [63].
Kazakhstan gần nhƣ hoàn toàn phụ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt quá cảnh qua Nga [64]. Do vị
trí địa lý của mình, Uzbekistan không chỉ phụ thuộc vào Nga mà còn phụ thuộc vào các nƣớc
láng giềng thuộc Liên Xô cũ nhƣ Kazakhstan và Turkmenistan, kể từ khi các nƣớc láng giềng
khác của nó, cụ thể là Afghanistan, Cộng hòa Kyrgyzstan và Tajikistan, đóng cửa do trở ngại
địa lý hoặc chính trị không ổn định. Uzbekistan xuất khẩu 15 bcm khí đốt tự nhiên mỗi năm
và khoảng 3/4 khí của Uzbekistan xuất khẩu tới Nga hay qua Nga đến các nƣớc phƣơng Tây
[65].

dụng năng lƣợng hạt nhân đầu tiên trên thế giới (dự án K-3, năm 1957) và nghiên cứu để sản
xuất tàu phá băng sử dụng năng lƣợng hạt nhân. Tàu phá băng sử dụng năng lƣợng hạt nhân
đầu tiên mang tên Lênin đã đƣợc đƣa vào hoạt động năm 1959. Việc xây dựng các tổ máy điện
hạt nhân phát triển nhanh chóng. Tổ máy 210 MW đầu tiên đƣợc đƣa vào hoạt động tại nhà
máy điện hạt nhân Novovoronezh vào năm 1964. Lò phản ứng nhanh BN-350 đầu tiên đƣợc
đƣa vào sử dụng ở Shevchenko (bây giờ là Aktau ở Kazakhstan) vào năm 1973. Một năm sau
lò phản ứng 1000-MW RBMK đƣợc vận hành ở nhà máy điện hạt nhân Leningrad. Việc xây
dựng mở rộng quy mô các nhà máy điện hạt nhân lớn đã đƣợc triển khai ở Đông Âu [44, pg.
5].
Tai nạn kinh hoàng ở nhà máy điện hạt nhân Chernobyl vào tháng 4 năm 1986 đã
khiến ngành công nghiệp hạt nhân của Nga bị gián đoạn và thoái trào. Sau khi Liên Xô tan rã,
ngày 29/1/1992, Nga đã thành lập Bộ Năng lƣợng nguyên tử LB Nga (MinAtom) là cơ quan

22

kế tục Bộ Công nghệ và Công nghiệp nguyên tử của Liên Xô cũ. Ngày 9/3/2004, MinAtom cơ
cấu lại thành Cơ quan Năng lƣợng nguyên tử LB Nga. Tháng 11 năm 2007, cơ quan này
chuyển thành Tổng Công ty nhà nƣớc về năng lƣợng nguyên tử (ROSATOM).
Hiện nay ROSATOM kiểm soát, điều hành:
- Công ty cổ phần năng lƣợng nguyên tử 100% vốn nhà nƣớc Atomenergoprom. Công ty này
hợp nhất toàn bộ ngành công nghiệp hạt nhân dân sự của Nga. Các thành viên của
Atomenergroprom gồm có:
+ Công ty quản lý vận hành các nhà máy điện hạt nhân của Nga Rosenergoatom;
+ Công ty sản xuất và cung cấp nhiên liệu hạt nhân TVEL;
+ Công ty thƣơng mại urani Techsnabexport (Tenex);
+ Công ty xây dựng các cơ sở hạt nhân Atomenergomash;
+ Công ty xây dựng các dự án hạt nhân ở nƣớc ngoài Atomstroyexport.
- Các công ty chế tạo vũ khí hạt nhân
- Các công ty chế tạo tàu nguyên tử
- Các viện nghiên cứu liên quan đến hạt nhân

ném bom, 700 quả đƣợc cất trữ trong kho và khoảng 2.000 đầu đạn hạt nhân chiến thuật đang
đƣợc niêm cất. Nga có 326 tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ mặt đất (ICBM) mang đầu
đạn hạt nhân với 1.050 đầu đạn và đang có kế hoạch giải trừ khoảng trên một nửa số này. Số
lƣợng chuẩn bị thải loại chủ yếu là 140 tên lửa đạn đạo liên lục địa SS-25 Topol, đƣợc sản
xuất chủ yếu vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trƣớc [67].
Tóm lại, ƣu thế vƣợt trội về năng lƣợng của LB Nga xuất phát từ ba khía cạnh: Một là
sự ƣu ái của thiên nhiên với trữ lƣợng tài nguyên phong phú và dồi dào; Hai là nền công
nghiệp năng lƣợng hoàn chỉnh đƣợc kế thừa và phát huy từ thời Liên Xô cũ; Ba là mạng lƣới
đƣờng ống dẫn hoàn chỉnh và rộng khắp đƣợc LB Nga tập trung đầu tƣ và phát triển. Chính ƣu
thế này giúp LB Nga có cơ sở để biến năng lƣợng trở thành một công cụ ngoại giao đắc lực
phục vụ mục đích chính trị.
1.3 Nhu cầu năng lƣợng của thế giới và những biến động trên thị trƣờng năng
lƣợng toàn cầu
Năng lƣợng là xƣơng sống của nền kinh tế do đó khi kinh tế thế giới phát triển mạnh
thì nhu cầu năng lƣợng và mức độ phụ thuộc của các nền kinh tế lớn vào nguồn cung năng
lƣợng ngày càng tăng cao.

24

Sự lên ngôi của dầu mỏ bắt nguồn từ sự phụ thuộc quá mức của các nền kinh tế hàng
đầu vào nguồn năng lƣợng này. Mỹ là nƣớc sản xuất nhƣng cũng là nƣớc tiêu thụ và nhập
khẩu năng lƣợng lớn nhất thế giới. Dù đứng thứ 11 về trữ lƣợng dầu mỏ, thứ 6 về trữ lƣợng
khí đốt và đứng đầu thế giới về trữ lƣợng than đá, Mỹ vẫn phải nhập tới 2/3 trong tổng mức
tiêu thụ 24,4 triệu thùng dầu/ngày, chiếm 25% tổng lƣợng tiêu thụ dầu mỏ toàn thế giới [55].
Dầu và khí đốt hiện chiếm 50% lƣợng tiêu thụ năng lƣợng của EU và nếu không có gì thay
đổi, tỉ lệ này sẽ tăng lên 65% vào năm 2030, trong đó EU sẽ phải nhập tới 93% dầu và 84%
khí đốt [14, tr.12]. Sự phát triển quá nóng trong 2 thập kỷ qua đã biến Trung Quốc từ một
nƣớc xuất khẩu thành nƣớc nhập khẩu dầu lớn thứ 2 thế giới. Lƣợng dầu tiêu thụ hàng ngày
của Trung Quốc dự kiến tăng từ 2,12 triệu thùng năm 1990 lên 9 triệu thùng vào năm 2015 và
12,8 triệu thùng năm 2025, trong đó lƣợng nhập khẩu vào khoảng 9 triệu thùng, chiếm 70%

nhân phục vụ mục đích dân sự. Đến năm 2008, trên thế giới đã có 435 lò phản ứng hạt nhân
thƣơng mại đang hoạt động, với tổng công suất xấp xỉ 372GWe. Hơn 80% sản lƣợng điện hạt
nhân thế giới đƣợc sản xuất tại các nƣớc thành viên Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
(OECD), hơn 10% tại Nga và các nƣớc thuộc Liên Xô cũ, còn lại hơn 5% tại các nƣớc đang
phát triển nhƣ Trung Quốc và Ấn Độ. Năm 2006, điện nguyên tử chiếm 27,3% sản lƣợng điện
tại các nƣớc thuộc OECD và 5.2% tại các nƣớc không thuộc OECD. Hiện nay, việc xây dựng
các lò phản ứng chủ yếu là ở châu Á. Trong 65 lò phản ứng đang đƣợc xây dựng trên khắp thế
giới có 42 lò của châu Á, 20 lò ở châu Âu, 3 lò ở châu Mỹ. Trong số 394 lò dự kiến đƣợc xây
dựng trong thời gian tới, gần một nửa (139) là ở châu Á, 105 là ở châu Âu, 49 ở châu Mỹ, 27
ở Nam Phi và 20 ở Trung Đông [51, pg. 30]. Trong số đó có 9 quốc gia đang xây dựng hay
thực hiện các dự án lò phản ứng hạt nhân chƣa bao giờ vận hành các nhà máy điện hạt nhân là
Belarus, Ai Cập, Indonesia, Iran, Kazakhstan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kì, Các Tiểu vƣơng quốc Ả
Rập Thống nhất và Việt Nam. Một số quốc gia phi hạt nhân khác đã đề xuất việc xây dựng các
lò phản ứng hạt nhân gồm Bangladesh, Israel và Ba Lan. Dự kiến có nhiều nhà máy điện
nguyên tử sẽ đƣợc xây dựng thêm nhất là ở Trung Quốc, Ấn Độ, LB Nga, Ukraina và Mỹ.
Hiện nay các nƣớc Tây Âu không có kế hoạch xây dựng thêm các nhà máy mới hay bổ sung
các tổ máy để tăng công suất ngoại trừ những nhà máy đang đƣợc xây dựng ở Phần Lan và
Pháp. Việc xây dựng các nhà máy nguyên tử đƣợc chính phủ Anh khuyến khích nhƣng đến
nay vẫn chƣa có đơn đặt hàng chắc chắn nào. Gần đây, chính phủ Ý cũng quan tâm đến việc
xây dựng nhà máy nguyên tử mới. Năng lƣợng nguyên tử đang phát triển thuận lợi tại các
nƣớc Đông Âu khi các quốc gia này dự định tăng công suất điện nguyên tử. Theo các kế hoạch
và các tuyên bố chính thức hiện nay, các quốc gia sản xuất điện nguyên tử nhiều nhất là Mỹ,
Pháp, LB Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc.
Ngoài ra, tình trạng bất ổn về an ninh, chính trị liên tục diễn ra tại các “rốn dầu” của
thế giới cũng khiến thị trƣờng năng lƣợng thế giới nóng lên. Nhƣ tình hình chính trị rối ren
cùng những cuộc tấn công khủng bố diễn ra thƣờng xuyên tại Trung Đông – nơi kiểm soát gần
70% trữ lƣợng dầu thế giới; những căng thẳng xoay quanh chƣơng trình hạt nhân Iran- quốc
gia có trữ lƣợng khí đốt lớn thứ hai thế giới. Bên cạnh đó là những cuộc xung đột đẫm máu

Trích đoạn Đặc điểm chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga Hợp tác Nga-Việt trong lĩnh vực dầu mỏ, khí đốt Hợp tác Nga-Việt trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status