6
Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội & nhân văn Trần Nhật Duật
phong cách lãnh đạo CủA CHủ TịCH
ủy ban nhân dân xã ở n-ớc ta hiện nay
luận án tiến sĩ tâm lý học
Chuyên ngành: Tâm lý học xã hội
Mã số thí điểm
luận án tiến sĩ tâm lý học
ng-ời h-ớng dẫn khoa học: 1. GS.Ts. Nguyễn ngọc phú
2. PGS, TS Hoàng Mộc Lan
Hà nội - 2014
8
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ
công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận án
Lời cam đoan Mục lục Danh mục chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ, biểu đồ MỞ ĐẦU
6
Chƣơng 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO,
LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO,
PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN
DÂN XÃ 10
1.1.
Tổng quan nghiên cứu về phong cách lãnh đạo, phong cách
lãnh đạo của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã
Các yếu tố ảnh hưởng đến phong cách lãnh đạo của Chủ tịch xã
60
Chƣơng 2.
TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
68
2.1.
Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
68
2.1.1.
Mục đích nghiên cứu lý luận
68
2.1.2.
Phương pháp nghiên cứu lý luận
68
2.2.
Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu thực trạng
68
2.2.1.
Địa bàn và khách thể nghiên cứu và các mức độ đánh giá hiệu 10
quả PCLĐ của CTX
68
2.2.2.
Điều tra thử
73
2.2.3.
Điều tra chính thức
74
Thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng đến phong cách lãnh đạo
của Chủ tịch xã
112
3.4.
Kết quả thực nghiệm tác động
119
3.5.
Biểu hiện phong cách lãnh đạo của 3 Chủ tịch xã qua tìm
hiểu chân dung tâm lý
125
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
144
TÀI LIỆU THAM KHẢO
145
PHỤ LỤC
12
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ CỦA LUẬN ÁN
Trang
Sơ đồ 1.1. Mạng Gird về các kiểu PCLĐ
16
Sơ đồ 1.2. Các mặt biểu hiện PCLĐ của CTX
51
Biểu đồ 3.1. Thực trạng các kiểu PCLĐ qua trắc nghiệm
90
Biểu đồ 3.2. Thực trạng các kiểu PCLĐ qua kết quả khảo sát
91
Biểu đồ 3.3. Thực trạng biểu hiện PCLĐ của CTX qua nhận thức của CTX
95
Trang
Bảng 2.1. Thông tin người trả lời phiếu
71
Bảng 3.1. Các mặt biểu hiện PCLĐ của CTX
108
Bảng 3.2. Tương quan giữa các mặt: Nhận thức; Phương pháp xử lý tình
huống; Cách thức ứng xử của CTX
110
Bảng 3.3. Hiệu quả PCLĐ của CTX khi lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ
QLNN ở địa phương
112
Bảng 3.4. Phân tích hồi quy tuyến tính (R
2
) về yếu tố ảnh hưởng đến các
mặt biểu hiện PCLĐ của CTX
114
chính quyền cấp xã, cũng là nguyên nhân làm suy giảm niềm tin đối với lãnh đạo của
Đảng. Muốn khắc phục được nó, vấn đề đặt ra hiện nay là phải thật sự coi trọng nghiên
cứu đặc điểm chính quyền cấp cơ sở xã cũng như đội ngũ CBX hiện nay, coi đó là
những nhiệm vụ khoa học cấp bách. Nghiên cứu về chính quyền và đội ngũ cán bộ
LĐ,QL cấp xã dưới góc nhìn khoa học để đưa ra được các giải pháp tư vấn, phương
15
pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng, xây dựng PCLĐ phù hợp và hiệu quả
ở đội ngũ cán bộ này trong thời gian tới là cần thiết.
Tiếp cận nghiên cứu PCLĐ dưới góc độ Tâm lý học hoạt động cho thấy, hoạt
động sống và nhiệm vụ LĐ,QL của CTX sẽ là cơ sở để hình thành đặc điểm tâm lý,
PCLĐ của CTX. Tiếp cận từ đặc điểm hoạt động và tính đặc thù công việc của CTX
để tìm ra những đặc điểm tâm lý của họ là phương pháp tiếp cận khoa học, đúng
đắn giúp nghiên cứu làm rõ về PCLĐ của CTX. Nghiên cứu PCLĐ của CTX dưới
góc nhìn của Tâm lý học chuyên ngành hiện tại vẫn là một lĩnh vực trống vắng. Đây
là một đòi hỏi cấp thiết và còn rất mới, đặc biệt trong điều kiện hiện nay. Nghiên
cứu này sẽ góp phần làm rõ lý luận PCLĐ, các kiểu PCLĐ và hiệu quả của nó, các
yếu tố ảnh hưởng đến PCLĐ của CTX. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài:
“Phong cách lãnh đạo của chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở nước ta hiện nay” làm
luận án tiến sĩ khoa học chuyên ngành Tâm lý học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận PCLĐ, chỉ ra các kiểu PCLĐ phổ biến, các mặt biểu
hiện, hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến PCLĐ của CTX, trên cơ sở đó đề xuất
một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả PCLĐ của CTX.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
PCLĐ của CTX, các mặt biểu hiện, hiệu quả của nó và các yếu tố ảnh hưởng
đến PCLĐ của CTX trong thực tiễn triển khai nhiệm vụ QLNN tại các địa phương
vùng ĐBSH.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận án tập trung giải quyết
Thông qua thực nghiệm tác động sư phạm nhằm nâng cao nhận thức của CTX
về bản chất tình huống lãnh đạo, từ đó có thể nâng cao hiệu quả PCLĐ của CTX
trong thực hiện nhiệm vụ QLNN tại địa bàn xã.
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận. Luận án nghiên cứu trên cơ sở một số nguyên tắc phương
pháp luận của Tâm lý học hoạt động. Với cách tiếp cận này cho thấy, hoạt động sống
của con người sẽ là cơ sở để hình thành đặc điểm tâm lý của người đó. Hay nói cách
khác, hoạt động của CTX sẽ là cơ sở hình thành các đặc điểm tâm lý và PCLĐ của họ.
17
Nghiên cứu PCLĐ của CTX phải đặt trong mối quan hệ tương tác giữa CTX với người
khác, bởi PCLĐ của CTX không phải là cái nhất thành bất biến mà nó được hình thành,
biểu hiện và phát triển trong quá trình hoạt động của người CTX với tư cách là người
lãnh đạo chính quyền xã thực thi nhiệm vụ QLNN tại địa bàn xã, do đó, PCLĐ của CTX
cũng biểu hiện trong mối quan hệ hoạt động LĐ,QL ở xã.
- Các phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
+ Phương pháp chuyên gia.
+ Phương pháp quan sát.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu.
+ Phương pháp thảo luận nhóm có hướng dẫn của người nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
+ Phương pháp trắc nghiệm.
+ Phương pháp thực nghiệm.
+ Phương pháp phân tích chân dung tâm lý.
+ Phương pháp thống kê toán học.
8. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về phong cách, PCLĐ, PCLĐ
của CTX, các kiểu PCLĐ, chỉ ra được hiệu quả PCLĐ, các yếu tố ảnh hưởng đến
PCLĐ của CTX.
ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của công việc, ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất kinh doanh trong các xí nghiệp, nhà máy Trong những công trình nghiên cứu
PCLĐ của các nhà Tâm lý học phương Tây, nổi lên là các học thuyết về lãnh đạo và
mối quan hệ giữa người lãnh đạo và cấp dưới, môi trường tác động Một số lý
thuyết được các nhà nghiên cứu phương Tây đưa ra trong giai đoạn này.
* Cách tiếp cận của lý thuyết hành vi. Một số nghiên cứu lý thuyết hành vi
độ tập trung vào hành vi các nhà lãnh đạo. Nghiên cứu của các học giả các trường
Đại học nổi tiếng như Ohio và Michigan (Mỹ) cho thấy người lãnh đạo có hai dạng
hành vi chính. Thứ nhất là hành vi quan tâm đến con người thể hiện qua việc tôn
trọng cấp dưới, quan tâm đến các nhu cầu của họ, lắng nghe những đề nghị của họ,
bảo vệ lợi ích cho họ và đối xử công bằng. Dạng hành vi thứ hai là quan tâm đến
công việc. Người lãnh đạo theo dạng thứ hai này sẽ phân công nhiệm vụ cụ thể cho
cấp dưới, xác định rõ nhiệm vụ và quy trình thực hiện, tuân thủ luật lệ, quy định của
công ty. Hai dạng hành vi này độc lập với nhau. Người lãnh đạo chỉ tập trung theo
mỗi hướng và phát triển mối quan tâm của mình độc lập theo các hướng khác nhau:
chỉ chú trọng công việc hay chỉ chú trọng đến con người. Trên cơ sở PCLĐ, các nhà
nghiên cứu phân chia hành vi người lãnh đạo thành 2 nhóm: Quan tâm tới công việc
và quan tâm tới con người, có thể đưa đến 4 kiểu PCLĐ.
Kiểu S1: Người lãnh đạo chủ yếu hướng tới việc làm cho công việc được
thực hiện, sự quan tâm tới con người là thứ yếu.
19
Kiểu S2: Người lãnh đạo theo đuổi việc đạt tới năng suất cao, cân đối giữa việc
làm cho công việc được thực hiện với sự đoàn kết, gắn bó trong nhóm và tổ chức.
Kiểu S3: Người lãnh đạo theo đuổi việc động viên sự hài hoà của nhóm và
thoả mãn nhu cầu xã hội của người dưới quyền.
Kiểu S4. Người lãnh đạo đóng một vai trò thụ động và để mặc tình thế diễn
ra [33, pp. 102].
Với cách phân tích hành vi trên, R. Likert đã đưa ra 4 hệ thống lãnh đạo: Hệ
thống lãnh đạo thứ nhất là: “Quyết đoán - áp chế” người lãnh đạo chuyên quyền cao
* Cách tiếp cận PCLĐ của lý thuyết lãnh đạo theo tình huống. Quan điểm
của lý thuyết lãnh đạo theo tình huống dựa trên ý kiến cho rằng PCLĐ phù hợp nhất sẽ
phụ thuộc vào tình huống. Hầu hết các lý thuyết lãnh đạo theo tình huống đều giả định
rằng người lãnh đạo hiệu quả phải vừa sáng suốt, vừa linh động. Chúng ta hãy xem xét
các mô hình lãnh đạo theo tình huống của Fiedler, Hersey và Blanchard. Các nhà nghiên
cứu cho rằng lãnh đạo bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tình huống lãnh đạo. Cách tiếp cận này
đối với vấn đề lãnh đạo thừa nhận rằng có tồn tại một nhóm tương hỗ giữa nhóm và
người lãnh đạo. Thực chất của lý thuyết này là: Con người ta có xu hướng tuân theo
những người mà họ nhìn thấy ở những con người đó có các điều kiện để thực hiện các
mong muốn cá nhân riêng. Như vậy, kết quả hoạt động lãnh đạo phụ thuộc không chỉ
vào đặc điểm tâm lý của người lãnh đạo, đặc điểm tâm lý của nhóm và các thành viên
trong nhóm mà còn phụ thuộc vào mối quan hệ qua lại giữa các thành tố trên. Mỗi môi
trường khác nhau cần có những cách lãnh đạo khác nhau. Cách tiếp cận này rất quan
trọng đối với người lãnh đạo và các nhà thực hành bởi họ hoàn toàn có thể tạo ra môi
trường làm việc có hiệu quả nhất. Lý thuyết lãnh đạo theo tình huống được phân chia
theo các cách tiếp cận khác nhau:
Cách tiếp cận tình huống của Fiedler. Các nhà nghiên cứu bắt đầu chuyển
sang tìm hiểu khả năng lãnh đạo trong những bối cảnh khác nhau đó là những khả
năng lãnh đạo cần có được thay đổi theo tình huống. Họ áp dụng quan niệm về tác
phong lãnh đạo và tin rằng tác phong mà người lãnh đạo cần điều chỉnh theo tình
huống. Hay nói cách khác, mỗi một tình huống cụ thể đòi hỏi một hình thức lãnh
đạo riêng biệt. Yếu tố này là phần thưởng cho những người nào có thể khai triển
21
khả năng làm việc trong nhiều hướng khác nhau và có thể thay đổi phong cách lãnh
đạo để thích ứng với từng tình huống. Các nhà nghiên cứu bắt đầu khai triển
phương pháp lãnh đạo theo tình huống. F.E. Fiedler đưa ra mô hình lãnh đạo và cho
rằng kết quả làm việc của nhóm có hiệu quả hay không là phụ thuộc vào PCLĐ.
Trong mô hình này, Fiedler giả định rằng phong cách của người lãnh đạo là không
thay đổi và ông đưa ra những PCLĐ cũng như các yếu tố tình huống như sau:
F.E.Fiedler có hai PCLĐ chính: một là PCLĐ hướng vào thực hiện nhiệm vụ, người
lãnh đạo thỏa mãn khi nhiệm vụ được thực hiện. PCLĐ thứ hai là hướng vào việc
tạo lập quan hệ tốt đẹp giữa người dưới quyền và người lãnh đạo nhằm có được một
địa vị cá nhân nổi bật của lãnh đạo trong nhóm [41, pp. 261]. Với quan điểm trên,
F.E.Fiedler đã cho ta thấy được vai trò của tình huống ảnh hưởng rất lớn đến phong
cách của người lãnh đạo. Để trở thành các nhà lãnh đạo không chỉ vì các thuộc tính
cá nhân của họ mà còn là vì tình huống và sự tác động qua lại giữa lãnh đạo và tình
huống. Hiệu quả của lãnh đạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong môi
trường của nhóm. Với vai trò mong muốn của người lãnh đạo, họ áp dụng các kiến
thức này vào thực tế của một nhóm người dưới quyền sẽ dễ dàng nhận ra là họ đang
thực hiện một nghệ thuật.
Với cách tiếp cận này, chúng tôi đánh giá cao quan điểm của F.E.Fiedler khi
ông cho rằng, để trở thành người lãnh đạo không chỉ cần các thuộc tính cá nhân mà
xem xét nó trong các tình huống. Mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và yếu tố tình
huống sẽ ảnh hưởng đến sự thành công trong hoạt động lãnh đạo. Lý thuyết của
F.E.Fiedler cũng cho chúng ta thấy rằng vai trò của PCLĐ linh hoạt trước những tình
huống xảy ra và người lãnh đạo chủ động điều chỉnh PCLĐ phù hợp với nhân viên và
đối với công việc. Lý thuyết này đã trở thành một trong những lý thuyết được nghiên
cứu rộng rãi nhất trong tâm lý học công nghiệp do tính quan trọng của việc đo lường
tình huống và việc giành quyền kiểm soát. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy rằng, việc
phân chia các tình huống rõ ràng, đánh giá đúng được tính chất tình huống, phân biệt
được đúng tính chất của mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên trong những tình
huống khác nhau trong những cấu trúc nhiệm vụ khác nhau sẽ là vấn đề khó khăn đối
với người lãnh đạo. Trong hầu hết các tình huống, mức độ kiểm soát mà các nhà lãnh
đạo thực thi là thay đổi theo thời gian. Ví dụ: Nếu một người lãnh đạo có định hướng
23
quan hệ nhận thấy một tình huống đang trở nên quá thuận lợi để thực thi quyền lực
kiểm soát, thì e rằng khó có khả năng anh ta sẽ chuyển sang một tình huống ít thuận lợi
hơn hoặc cố gắng làm cho tình huống trở nên ít thuận lợi hơn. Nghiên cứu này đã đánh
cấp dưới, thiên hướng lãnh đạo và cảm giác an toàn trong hoàn cảnh bất định.
Những tác động thuộc về cấp dưới ảnh hưởng tới hành vi người lãnh đạo, đồng thời,
những tác động thuộc yếu tố tình huống như: giá trị truyền thống của tổ chức, hiệu
quả làm việc của cấp dưới và sức ép của thời gian. Đặc biệt ảnh hưởng có ý nghĩa từ
môi trường xã hội và môi trường tổ chức được các tác giả đề cập tới. Cách tiếp cận
tình huống này giúp chúng tôi nhận thức rõ ràng và cụ thể hơn về sự linh hoạt của
PCLĐ, các yếu tố tác động ảnh hưởng và quy định nó. Tuy nhiên, cách tiếp cận này
vẫn chưa chỉ ra được rõ các kiểu PCLĐ và hiệu quả của PCLĐ trong mỗi tổ chức.
* Cách tiếp cận lý thuyết Mạng của Blacke. R và Mouton. J. Hai tác giả là
Blacke. R và Mouton. J phân loại hành vi lãnh đạo theo 2 tiêu chí: Mức độ quan
tâm của người lãnh đạo tới công việc và mức độ quan tâm tới người dưới quyền, hai
nhà nghiên cứu phân chia ra thành 81 ô bàn cờ, mỗi ô tương ứng với một kiểu hành
vi lãnh đạo, với mô hình này, Blacke. R và Mouton. J gọi đó là sơ đồ mạng Gird về
các PCLĐ trong khung lãnh đạo.
1.9
9.9
1.1
thể hoá mối quan tâm tối đa cả cho hiệu quả công việc và cho con người. Đây là
phương pháp tiếp cận tập trung vào kết quả, vào công việc của cả đội ngũ, tìm cách
đạt kết quả cao nhất nhờ vào mức độ cao của sự nhập cuộc, tham gia, gắn bó và một
ý chí rõ rệt trong việc giải quyết công việc [34, pp.74].
Theo chúng tôi, cách tiếp cận theo Mạng Gird là cách tiếp cận có tính khoa
học và sáng tạo để nhìn ra hành vi lãnh đạo trong mối quan hệ giữa công việc và
con người – hai yếu tố chính trong hoạt động lãnh đạo. Ô bàn cờ là phương pháp
hữu ích để xác định và phân loại các hành vi lãnh đạo. Cách phân chia này sẽ phân
biệt được rất nhiều kiểu hành vi lãnh đạo (81 kiểu) bằng cách căn cứ theo mức độ
quan tâm của người lãnh đạo tới công việc và con người. Tuy nhiên, cách tiếp cận
này không cho biết được tại sao một người lãnh đạo lại rơi vào phần này hay phần
khác của ô bàn cờ. Để làm rõ điều này, cần phải xem xét các nguyên nhân cơ bản
như là nhân cách của các nhà lãnh đạo hay của những người thừa hành, khả năng và
việc đào tạo của các nhà lãnh đạo, môi trường của cơ sở và các yếu tố về tình huống
khác có ảnh hưởng đến việc các nhà lãnh đạo và những người thừa nhận.
26
Đánh giá mô hình tình huống trong lãnh đạo. Mô hình tình huống thể hiện
một sự nhất trí quan điểm về ứng xử lãnh đạo trong quan hệ đối với nhân viên:
những người càng có năng lực tốt càng cần ít sự hướng dẫn cụ thể so với những
người có năng lực kém hơn. Mô hình này cũng hữu ích vì nó được xây dựng trên
một quan điểm lãnh đạo khác - nhấn mạnh vai trò của ứng xử định hướng công việc
và ứng xử định hướng quan hệ. Mô hình tình huống ủng hộ quan điểm sử dụng
những PCLĐ khác nhau đối với các loại người khác nhau chứ không phải là sử
dụng cùng một PCLĐ cho tất cả các loại nhân viên. Mô hình này cũng gợi ý về sự
cần thiết phải điều chỉnh PCLĐ khi các thành viên trong nhóm trở nên có năng lực
và có niềm tin tốt hơn vào công việc. Bạn có thể đạt được lợi ích từ việc áp dụng
mô hình này bằng cách cố gắng xác định mức độ sẵn sàng của các nhân viên trước
khi lựa chọn PCLĐ phù hợp. Tuy nhiên, mô hình này trình bày các cách phân loại
hướng dẫn quá tỉ mỉ, đến nỗi nó mang lại ấn tượng về sự tuyệt đối. Trên thực tế, các
động lãnh đạo đã đề cập đến những mặt chủ quan và khách quan trong quá trình
hình thành PCLĐ. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu đã biết coi trọng thái độ của nhà
lãnh đạo, phân biệt được thái độ của người lãnh đạo quan tâm đến công việc và
quan tâm đến con người. Việc vận dụng các tình huống lãnh đạo để phát huy hiệu
quả cao nhất trong sản xuất là những mặt mạnh của người lãnh đạo. Quan tâm đến
con người, biết tác động đến lợi ích, nhu cầu của con người tạo nên động cơ làm
việc ở họ được coi là nghệ thuật lãnh đạo phát huy sức mạnh nội lực con người và
là thế mạnh của các nhà lãnh đạo Nhật Bản. Tuy nhiên, với những nghiên cứu này
mới chỉ tập trung nghiên cứu PCLĐ ở các nhóm sản xuất trong các doanh nghiệp, xí
nghiệp Tư bản với mục tiêu lãnh đạo đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Sự linh
hoạt của người lãnh đạo cuối cùng cũng vì mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp,
trong đó yếu tố nhân văn cho con người, vì con người đang bị xem nhẹ. Chúng tôi
cũng dễ dàng nhận thấy được một số điểm còn hạn chế khi nghiên cứu về PCLĐ
của các nhà nghiên cứu Âu- Mỹ và Nhật Bản đó là họ chưa bàn nhiều tới tính thống
nhất và tác động qua lại giữa phong cách cá nhân người lãnh đạo với đặc điểm cá
tính, các phẩm chất nhân cách người lãnh đạo, chưa thấy hết được mối quan hệ
tương hỗ giữa các đặc điểm tâm lý cá nhân với các biểu hiện hành vi, tác phong ở
28
cá nhân… Đặc biệt là nghiên cứu biểu hiện PCLĐ trong QLNN dưới góc nhìn của
khoa học Tâm lý thì chưa có trong các nghiên cứu này. Bởi vậy, các tài liệu nghiên
cứu trên cho phép kế thừa, tham khảo để đi sâu nghiên cứu những nguyên nhân của
mối quan hệ giữa các kiểu PCLĐ với các đặc điểm tính cách, nhân cách của con
người, các yếu tố tâm lý cá nhân, yếu tố môi trường bên ngoài tác động, có ảnh
hưởng đến phong cách của người lãnh đạo, Đây là những mặt còn thiếu ở các
nghiên cứu này và cần tham khảo thêm một số các công trình nghiên cứu khác.
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết hoạt động trong tâm lý học, các nhà các nhà
tâm lý học hoạt động Nga L.X. Vưgotski, X.L. Rubinstein, A.N. Lêônchiev, đã
nghiên cứu PCLĐ theo hướng khách quan và khoa học qua việc đi sâu phân tích đặc
điểm và bản chất của PCLĐ để đi đến đánh giá, vận dụng vào thực tiễn hoạt động của
Tuy nhiên, các tác giả chưa đưa ra được cấu trúc tâm lý của PCLĐ và các con số
định lượng thuyết phục về mối liên hệ này.
Nhìn chung, các nhà tâm lý học xem PCLĐ gắn liền với các phẩm chất tâm
lý của cá nhân người lãnh đạo. Các đặc điểm tâm lý đó gắn với các biểu hiện hành
vi bên ngoài của con người. Với hướng tiếp cận tâm lý học hoạt động, chúng ta có
thể hiểu rằng tâm lý con người sinh ra từ hoạt động. Hay nói cách khác, hoạt động
sống của con người sẽ là cơ sở để hình thành đặc điểm tâm lý và phong cách của
người đó. Hoạt động của người lãnh đạo dù ở vị trí, hay chức vụ khác nhau nào thì
cũng là điều kiện để hình thành các đặc điểm tâm lý phù hợp với công việc và vai
trò xã hội mà người đó đang đảm nhiệm. Hướng tiếp cận nghiên cứu này cũng cho
thấy, PCLĐ không phải là cái chết cứng, cái nhất thành bất biến mà PCLĐ có thể
thay đổi trong công việc tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, hay tình huống lãnh
đạo. PCLĐ gắn liền với hoạt động của người lãnh đạo biểu hiện hệ thống hành vi
tương ứng… Song, những nghiên cứu này vẫn chưa nhấn mạnh đến các tình huống
lãnh đạo, chưa nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng, tác động của bối cảnh LĐ,QL đến
PCLĐ Mặt khác, nghiên cứu này cũng chưa đưa ra được cấu trúc của PCLĐ cũng
như mối quan hệ giữa yếu tố bên trong (tâm lý, tính cách, tính khí…) và các biểu
hiện bên ngoài (hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ…) của người lãnh đạo. Bên cạnh đó, vẫn
còn thiếu những nghiên cứu PCLĐ trong hệ thống chính trị, trong quản lý hành
30
chính nhà nước và đặc biệt là ở cấp cơ sở, thiếu những nghiên cứu PCLĐ dưới góc
nhìn quyền lực, sử dụng quyền lực, những phẩm chất của người lãnh đạo được thể
hiện khi xử lý tình huống LĐ,QL trong những bối cảnh cụ thể.
1.1.2. Các nghiên cứu phong ca
́
ch la
̃
nh đa
̣