ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHXH VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN TRIẾT HỌC
***
BÙI THỊ PHƯƠNG THÚY
TƯ TƯỞNG ĐỨC TRỊ VÀ PHÁP TRỊ
TRONG “QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT”
Chuyên ngành:Triết học
Mã số: 62.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Tài Đông HÀ NỘI - 2009
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Điều hành và quản lý xã hội luôn là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm
hàng đầu của các quốc gia ở mọi thời đại. Ngay từ thời cổ đại, các triết gia Trung
Quốc đã nhận thức đƣợc vai trò to lớn của đạo đức và pháp luật trong việc thiết
lập, ổn định trật tự xã hội để từ đó đề xƣớng học thuyết “đức trị” và “pháp trị”.
Những học thuyết ấy đã vƣợt ra khỏi phạm vi Trung Quốc và có ảnh hƣởng đến
nhiều quốc gia phƣơng Đông suốt hơn hai nghìn năm, trong đó có Việt Nam.
Trong lịch sử Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của việc trị nƣớc,
vua chúa các triều đại đã kế thừa, tiếp thu những tƣ tƣởng về đƣờng lối trị nƣớc
của Trung Quốc. Tuy nhiên, do ảnh hƣởng của truyền thống, phong tục tập quán
của dân tộc, các tƣ tƣởng về đƣờng lối trị nƣớc của Việt Nam có những nét sáng
tạo, độc đáo riêng, không hoàn toàn giống nhƣ Trung Quốc.
Trong quá trình xây dựng luật pháp hiện nay, việc kế thừa có chọn lọc
những học thuyết, tƣ tƣởng trong lịch sử đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Đó là
sản phẩm của trí tuệ con ngƣời và đƣợc thực tiễn kiểm nghiệm. Những giá trị
của lịch sử để lại qua thời gian sẽ góp phần xây dựng và hoàn thiện xã hội của
chúng ta ngày nay.
Pháp luật là hệ thống những các quy tắc xử sự, do nhà nƣớc ban hành
(hoặc thừa nhận), bảo đảm thực hiện và thể hiện ý chí, quyền lực của giai cấp
thống trị. Nó là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội và có vai trò quan trọng
trong việc điều hành, quản lý xã hội.
Trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử dân tộc ta, hầu hết các nhà cầm
quyền đều rất chú trọng tới việc xây dựng pháp luật, duy trì xã hội bằng sự
nghiêm minh của pháp luật. Nhiều bộ luật lớn đã ra đời và đóng vai trò quan
trọng trong việc trị nƣớc, an dân. Những bộ luật đó không chỉ có ý nghĩa trong
lịch sử mà còn có giá trị to lớn trong thời đại ngày nay.
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu “Dân giàu, nƣớc
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhƣng thực tiễn lại đặt ra những
vấn đề mới buộc chúng ta phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Đó là tình trạng
3
quản lý xã hội theo pháp luật của Nhà nƣớc còn lỏng lẻo, chƣa thật kịp thời,
chƣa thật nghiêm minh; đạo đức xã hội xuống cấp, không ít cán bộ bị sa ngã,
thoái hóa, biến chất, đang là những những vấn đề nan giải và bức xúc trong xã hội
ta hiện nay. Nhằm đạt mục tiêu trên, trong điều kiện lịch sử nƣớc ta hiện nay, một
đòi hỏi và cũng là một trong những nhiệm vụ chủ yếu là phải tăng cƣờng quản lý
xã hội bằng pháp luật một cách nghiêm minh và có hiệu quả, đồng thời phải đặc
biệt coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân ta đang xây dựng
Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đó là
một nhà nƣớc hoạt động trên tinh thần pháp luật, đề cao pháp luật, quyền lực của
nhân dân đƣợc thể chế hóa thành pháp luật và pháp luật trở thành công cụ để
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu đó, đòi hỏi
chúng ta cần phải có một bộ luật tiến bộ, mang đậm nét nhân văn. Trƣớc yêu cầu
đó, điều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn là phải nhận thức đƣợc giá trị to lớn của
“Quốc triều hình luật” đối với lịch sử và ý nghĩa của nó trong việc xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền. Việc nghiên cứu sự kết hợp giữa tƣ tƣởng đức trị và pháp trị
trong bộ luật không những cho chúng ta thấy diện mạo tƣ tƣởng thời Lê Sơ, mà
còn cho chúng ta thấy ý nghĩa to lớn của nó trong việc xây dựng nền đạo đức,
pháp luật ở nƣớc ta hiện nay. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: Tư
tưởng đức trị và pháp trị trong “Quốc triều hình luật” làm đề tài nghiên cứu
trong luận văn thạc sĩ Triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những nội dung về đƣờng lối trị nƣớc cũng nhƣ về “Quốc triều hình luật”
đƣợc rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnh
vực. Các công trình nghiên cứu đó không trực tiếp đề cập đến đề tài luận văn
- Liên quan đến Hoàng đế Lê Thánh Tông - người có công lao to lớn trong
việc xây dựng và hoàn thiện bộ Luật Hồng Đức, có một số cuốn:
“Lê Thánh Tông (1442 - 1497) - Con ngƣời và sự nghiệp”, do Đại học
Quốc gia xuất bản; “Hoàng đế Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn
hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn” của Viện Văn học. Đó là những bài viết của các nhà
5
nghiên cứu về đóng góp của Hoàng đế Lê Thánh Tông trên nhiều phƣơng diện
từ văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, nghệ thuật…Đặc biệt, tác phẩm đề cập đến
vai trò của Lê Thánh Tông trong việc bổ sung, hoàn thiện bộ “Quốc triều hình
luật” dƣới thời ông trị vì mang niên hiệu Hồng Đức.
- Những nghiên cứu về “Quốc triều hình luật”:
Cuốn “Quốc triều hình luật - Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị” do
TS. Lê Thị Sơn chủ biên đã tập trung nghiên cứu bộ luật dƣới góc độ của khoa
học pháp lý: kỹ thuật lập pháp, các chế tài pháp luật…
Bên cạnh đó, phải kể đến cuốn kỷ yếu Hội thảo quốc gia tổ chức tại Thanh
Hóa: “Quốc triều hình luật - Những giá trị lịch sử và đƣơng đại góp phần xây
dựng nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam” do Bộ Tƣ pháp và UBND tỉnh Thanh
Hóa tổ chức. Các bài tham luận trong hội thảo cũng tập trung chủ yếu vào những
vấn đề có liên quan tới việc xây dựng bộ máy chính quyền nhà nƣớc: “Lê Thánh
Tông và bộ luật Hồng Đức” của GS. Phan Huy Lê; “Tƣ tƣởng, quan điểm của
vua Lê Thánh Tông về giữ nƣớc” của Thiếu tƣớng, PGS. TS. Vũ Quang Lộc;
“Tƣ tƣởng pháp trị kết hợp với đức trị trong đạo trị quốc, an dân của vua Lê
Thánh Tông” của TS. Uông Chu Lƣu…
Ngoài ra còn một số bài tạp chí khác nhƣ: “Những giá trị tích cực của Nho
giáo trong Bộ luật Hồng Đức” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn; “Nội dung và giá
trị cơ bản về quyền con ngƣời trong bộ luật Hồng Đức” và “Vấn đề phòng,
chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật” của TS. Nguyễn Thanh Bình;
“Khía cạnh quyền con ngƣời, quyền công dân và quản lý Nhà nƣớc trong bộ
Quốc triều hình luật” của tác giả Cao Quốc Hoàng,…
so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp…
5. Ý nghĩa của luận văn
“Quốc triều hình luật” là một bộ luật có giá trị lớn và nó là đối tƣợng
nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau. Với đề tài này, thông qua việc phân
tích các điều luật, tác giả muốn tập trung nghiên cứu một số nội dung tƣ tƣởng
thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị trong bộ luật từ góc độ triết học. Từ
đó chỉ ra ý nghĩa của nó trong việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức, pháp luật ở
7
nƣớc ta hiện nay. Để làm đƣợc điều này, chúng tôi phải sử dụng những nội dung
và kết luận trong nghiên cứu về bộ luật của khoa học pháp lý và sử học làm cơ
sở cho nghiên cứu của mình.
Hơn thế nữa, việc nghiên cứu một số nội dung tƣ tƣởng thể hiện sự kế hợp
giữa đức trị và pháp trị trong “Quốc triều hình luật” góp phần khai thác, phát
huy các di sản văn hóa dân tộc, truyền thống đạo đức trong đạo trị nƣớc của nhà
nƣớc phong kiến Việt Nam. Đồng thời, luận văn là một tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội
dung của luận văn bao gồm 2 chƣơng và 6 tiết.
mới đang manh nha. Chính trong điều kiện lịch sử đó đã đặt ra những vấn đề về
tƣ tƣởng, đạo đức luân lý, chính trị, pháp luật…làm xuất hiện hàng loạt các
trƣờng phái triết học. Các nhà tƣ tƣởng với lợi ích và địa vị xã hội khác nhau, với
các phƣơng pháp cải biến xã hội, giáo hóa đạo đức cho con ngƣời khác nhau, đã
đƣa ra các lý thuyết, nhƣ các nhà nho hay nói, là nhằm “tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ”, đƣa xã hội Trung Quốc tới sự ổn định. Trong đó, nếu Nho gia nêu cao “đức
trị” khẳng định “chính danh”, lấy “nhân nghĩa” làm gốc, thì Mặc gia chủ trƣơng
“kiêm ái”, “thƣợng đồng” hay Đạo gia đề xuất theo đạo tự nhiên “vô vi nhi
trị”…Khác với những quan điểm trên, Pháp gia căn cứ vào những tiền đề lý luận
9
của mình đã chủ trƣơng dùng pháp luật của nhà nƣớc làm công cụ quan trọng để
kiểm soát đời sống xã hội và củng cố trật tự xã hội phong kiến ở Trung Quốc.
“Tƣ tƣởng đức trị là hệ thống những quan niệm về đƣờng lối trị nƣớc, quản
lý xã hội dựa trên những chuẩn mực đạo đức. Đó là hệ thống những chuẩn mực,
những nguyên tắc, quy phạm đạo đức để điều chỉnh hành vi của con ngƣời trong
các mối quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích cộng đồng. Đức trị phản ánh nhu cầu và lợi ích xã hội của giai cấp thống trị
đƣợc biểu hiện dƣới những hình thức những quy phạm và những đánh giá trên cơ
sở xác lập những giá trị luân lý, đƣợc mọi ngƣời thừa nhận và chấp nhận một cách
tự giác. Nó đƣợc củng cố bằng tấm gƣơng đạo đức.”[9; 55] Đức trị là chủ trƣơng
của Nho gia, họ coi trọng đạo đức, lấy đức để cai trị, đạo đức đƣợc coi là phƣơng
tiện chủ yếu để trị nƣớc. Vào thời Tây Chu, Chu Công Đán đã đề xuất tƣ tƣởng
“kính đức, bảo dân” (tôn trọng đạo đức, chăm lo cho dân). Khổng Tử là ngƣời
đầu tiên xây dựng, hệ thống hóa tƣ tƣởng này thành học thuyết và mở rộng tƣ
tƣởng đó sang lĩnh vực chính trị.
Từ quan niệm về “tính thiện” của con ngƣời do trời phú, chủ trƣơng trị
nƣớc của Nho gia là hƣớng tới bảo vệ, củng cố, khơi dậy, phát huy cái thiện, cái
tốt đẹp vốn có trong mỗi con ngƣời, từ đó loại trừ đƣợc cái ác, cái xấu và do đó
xã hội sẽ trở nên tốt đẹp, thịnh trị. Tiêu chuẩn để Nho gia đánh giá một chế độ
nƣớc - áp lực từ bên ngoài.
1.1.2. Nội dung và yêu cầu cơ bản của tư tưởng đức trị
Đƣờng lối đức trị là một trong những nội dung cơ bản nhất trong học thuyết
chính trị - xã hội của Nho giáo. Các nhà nho từ Khổng Tử trở đi đều đặc biệt đề
cao vai trò của đạo đức, coi đạo đức là công cụ, phƣơng tiện chủ yếu nhất, hữu
hiệu nhất để đạt đƣợc những mục đích chính trị và nhân sinh.
Nho giáo coi đạo đức, lễ giáo không chỉ là mục đích, mà còn là công cụ,
phƣơng tiện chủ yếu, có vai trò quyết định trong việc củng cố, duy trì địa vị,
quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị trong việc trị nƣớc, quản lý xã hội.
Trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử nói: “Nếu dẫn dắt bằng đạo đức, sửa trị bằng
lễ giáo, thì dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục”[110;
11
245]. Khổng Tử còn khẳng định rằng, đạo đức là biện pháp hiệu quả nhất trong
việc thu phục nhân tâm, nhân lực, trong việc “bình thiên hạ”. Ông nói: “Làm
chính trị bằng đức, thì tự mình sẽ giống nhƣ sao Bắc Đẩu, ở nguyên một chỗ mà
mọi vì sao khác chầu quanh mình”[110; 244]
Ngoài ra, Nho giáo còn cho rằng, đạo đức và việc thi hành đạo đức còn là
biện pháp tốt nhất để loại bỏ tình trạng phi nhân, phi đạo đức trong xã hội, là
phƣơng tiện để duy trì trật tự, kỷ cƣơng và sự ổn định của xã hội. Đối với Nho
giáo, điều đáng sợ nhất của một quốc gia, một nền chính trị không phải là nƣớc
nghèo, của cải ít, mà là không có phép tắc, không có đạo đức. Đạo đức của một
xã hội quyết định sự tồn vong của xã hội đó.
Đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất để hình thành và hoàn thiện
đạo đức của con ngƣời, góp phần vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỷ cƣơng và
ổn định xã hội. Nho giáo khẳng định rằng, để thiết lập, duy trì trật tự, kỷ cƣơng
và ổn định của gia đình cũng nhƣ xã hội cần phải thực hành các biện pháp mang
nội dung đạo đức. Tức là phải lấy các chuẩn mực đạo đức nhƣ: nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín, hiếu, trung…trở thành những nguyên tắc, những quy phạm chi phối mọi
hành vi của con ngƣời, mọi mối quan hệ xã hội của con ngƣời ở trong gia đình
thiện nhân cách đạo đức của con ngƣời trong xã hội. Hơn thế nữa, nó còn là
công cụ có tính chính trị để ràng buộc con ngƣời, cai trị và quản lý xã hội nhằm
đáp ứng những yêu cầu và mục đích chính trị của giai cấp phong kiến thống trị.
Vì vậy, có thể nói, ở Nho giáo, đạo đức và chính trị có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Sự thống nhất và quan hệ chặt chẽ giữa đạo đức và chính trị đƣợc biểu
hiện tập trung trong tƣ tƣởng đức trị - đƣờng lối trị nƣớc bằng đạo đức.
Nho gia cho rằng, một xã hội thật sự tốt đẹp là ở đó mọi ngƣời đều quý
trọng cái thiện và ra sức làm điều thiện. Nếu cái thiện chi phối hành vi của tất cả
mọi ngƣời từ trong ý nghĩ đến việc làm của họ đều hƣớng tới cái thiện thì xã hội
sẽ trở nên thái bình, thịnh trị. Từ quan niệm đó, họ chủ trƣơng dùng đạo đức làm
công cụ chủ yếu để điều khiển sự vận hành của xã hội với những yêu cầu sau:
Trƣớc hết, người cai trị phải có đức, lấy việc tu thân làm đầu. Từ chỗ đề
cao địa vị, vai trò của nhà vua trong việc trị nƣớc, trị dân, duy trì sự ổn định, của
13
xã hội, Nho giáo coi trọng vai trò của đạo đức và sự tu dƣỡng đạo đức của nhà
vua. Trong tƣ tƣởng đức trị, các nhà Nho khẳng định rằng, điều có ý nghĩa quyết
định trong việc trị dân, giáo hóa dân, thu phục lòng ngƣời là nhà vua, ngƣời cầm
quyền phải có đạo đức và luôn tu dƣỡng đạo đức. Nhà vua, ngƣời cầm quyền có
đạo đức và thi hành đƣờng lối nhân đức trong việc cai trị thì không chỉ làm cho
nƣớc thịnh trị lâu dài mà có thể làm cho những kẻ ác nhân thành thiện nhân.
Nhƣ vậy, Nho giáo coi nhà vua có đạo đức và thi hành cái đạo đức ấy gắn liền,
thậm chí là quyết định sự thành - bại, thịnh - suy của việc cai trị chế độ và triều
đại. Nhƣng để làm cho đạo đức có vai trò to lớn nhƣ vậy, theo Nho giáo, còn
phụ thuộc chủ yếu ở sự tu dƣỡng đạo đức của nhà vua, của kẻ cai trị. Ở Nho
giáo, luân lý và tu dƣỡng đƣợc gắn liền với nhau. Theo Khổng Tử, nhà vua,
ngƣời cầm quyền trƣớc hết là phải tự mình tu dƣỡng đạo đức, có nhƣ vậy dân
mới tuân theo phép tắc, mới tự giác theo mình và nền cai trị mới đƣợc giữ vững.
Sự tu dƣỡng đạo đức của nhà vua, ngƣời cầm quyền không chỉ thành tâm mà sự
tu dƣỡng đó phải thƣờng xuyên, ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, trong
giữ đƣợc ngôi vị của vua. Sự tồn - vong, an - nguy, thịnh - suy của triều đại, chế
độ gắn chặt và phụ thuộc vào những chủ trƣơng, biện pháp của nhà vua, ngƣời
cầm quyền có thuận theo lòng dân, ý dân hay không. Đây chính là tƣ tƣởng vừa
có tính định hƣớng vừa có tính xác định những nghĩa vụ, trách nhiệm của giai
cấp thống trị đối với dân. Nghĩa vụ và trách nhiệm gộp lại thành hai chính sách
“Dƣỡng dân” và “Giáo dân”. Hai chính sách này thể hiện vai trò của nhà vua là
“cha mẹ của dân” và “thay trời trị dân, dƣỡng dân”.
Trong tƣ tƣởng giáo dục, giáo hóa nói riêng và tƣ tƣởng đức trị nói chung
của Nho giáo là sự kết hợp giữa tƣ tƣởng đức trị và pháp trị. Sự kết hợp này
trong đƣờng lối đức trị của Nho giáo cũng là tất yếu, vì xét đến cùng đạo đức
hay hình phạt đều mang tính ràng buộc, bắt buộc đối với mọi hành vi, hành động
của con ngƣời và đều nhằm duy trì, bảo vệ trật tự, kỷ cƣơng của chế độ phong
kiến cũng nhƣ địa vị, quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị. Thực chất của
toàn bộ tƣ tƣởng và đƣờng lối đức trị của Nho giáo cũng để nhằm mục đích
chính trị. Chính bởi vậy, hạn chế lớn nhất trong tƣ tƣởng giáo dục là nội dung
15
giáo dục của Nho giáo không bao giờ dạy con ngƣời tri thức về tự nhiên, về sản
xuất, buôn bán. Do vậy, chính sách và đƣờng lối giáo dục của Nho giáo là hết
sức hạn chế và không thể đào tạo ra những con ngƣời toàn diện đƣợc.
Có thể nói rằng, nội dung cơ bản bao trùm của Nho giáo là học thuyết
chính trị - xã hội. Cái cốt lõi trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo là:
từ việc nhìn nhận con ngƣời, vai trò của con ngƣời trong các mối quan hệ cơ bản
và chủ yếu từ phƣơng diện đạo đức - chính trị, Nho giáo đã đề xuất những quan
điểm cơ bản nhất về đƣờng lối trị nƣớc, quản lý xã hội. Trong đƣờng lối trị nƣớc
ấy, những chuẩn mực, những quy phạm đạo đức đƣợc xác định là những yếu tố
cơ bản chi phối mọi hành động của con ngƣời trong các mối quan hệ cơ bản.
Không những vậy, chúng còn là những công cụ, biện pháp chính trị cơ bản nhất
để trị nƣớc. Do vậy, đƣờng lối trị nƣớc đó còn là đức trị, lễ trị. Tất nhiên, trong
việc thực thi đƣờng lối này trên thực tế, các vƣơng triều theo ý thức hệ Nho giáo
công của cái ngôi nhà độc đáo.”[88; 17]
Hàn Phi quan niệm rằng, mọi suy nghĩ, hành động, lý luận đều đƣợc bắt
nguồn từ chính thực tiễn xã hội. Xuất phát từ điều này, ông cho rằng, vấn đề
then chốt của việc xây dựng đất nƣớc giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật. Một
quốc gia có pháp luật và pháp luật đƣợc thi hành một cách rộng rãi, đúng đắn thì
xã hội mới ổn định. Điều đó là tiền đề cho việc xây dựng đất nƣớc giàu mạnh,
dân chúng yên bình, hạnh phúc. Từ đó, Hàn Phi đã đề xuất tƣ tƣởng “trị nƣớc
bằng pháp luật” (dĩ pháp trị quốc). Ông chủ trƣơng “pháp luật không phân biệt
sang hèn”, “hình phạt không kiêng dè bậc đại thần, tƣởng thƣởng không bỏ sót
kẻ thất phu”. Ông hết sức coi trọng tác dụng của pháp luật, xây dựng một lý
tƣởng pháp trị hoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân, kết hợp chặt chẽ
“pháp”, “thuật” và “thế”. Hàn Phi cho rằng: “Pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõ
ràng nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thƣởng cho những kẻ
cẩn thận giữ pháp luật, nhƣng phạt những kẻ làm trái lệnh”[88; 478 - 479]. Tƣ
tƣởng này của Hàn Phi là hết sức tiến bộ so với đƣơng thời. Pháp luật vừa phải
rõ ràng, vừa phải đƣợc ban bố cho trăm họ, làm cho dân biết pháp luật để tránh
phạm pháp và lấy đó làm chuẩn tắc cho cho hành vi của mọi ngƣời chứ không
17
phải là cái bẫy để hại dân. Các điều luật rõ ràng, minh bạch là phƣơng thức
phòng bị tích cực chứ không phải là một thủ đoạn chế tài tiêu cực. Đồng thời,
pháp luật cũng là một công cụ để nhà vua cai quản thần dân. Nội dung chủ yếu
của “pháp” có thể quy về hai khái niệm chủ yếu là “thƣởng” và “phạt”: thƣởng
hậu và phạt nặng.
Hàn Phi chủ trƣơng pháp trị nhƣng ông rất chú trọng đến “thuật” của nhà
vua. Theo ông, dựa vào pháp trị để làm cho “…nƣớc giàu, quân mạnh. Nhƣng
nếu không có cái thuật để biết kẻ gian thì chỉ lấy cái giàu mạnh của nƣớc mà làm
giàu có cho các quan đại thần mà thôi” [88; 480]. Chính vì vậy, nhà vua phải có
“thuật” để dùng ngƣời. Đối với ông, “thuật” chính là một loạt các phƣơng pháp
bổ nhiệm, miễn nhiệm, thi cử, thƣởng, phạt…của nhà vua. Trong đó, phép “hình
quyền của nhà vua.
1.2. Tƣ tƣởng đức trị và pháp trị trong lịch sử Việt Nam trƣớc khi “Quốc
triều hình luật” ra đời.
Trong lịch sử nhân loại, không có một quốc gia, dân tộc nào tồn tại hoàn
toàn cô lập với các quốc gia, dân tộc khác. Trung Quốc là một trong những cái
nôi của nền văn minh nhân loại. Từ thời cổ đại, Trung Quốc đã có một nền văn
hóa vô cùng rực rỡ. Vì vậy, Việt Nam chịu ảnh hƣởng và tiếp thu những giá trị
từ nền văn hóa ấy là điều tất yếu. Nƣớc ta là một nƣớc có nền văn hiến lâu đời,
đó là nền tảng của sức mạnh tinh thần giúp chúng ta không bị “đồng hóa”, mặc
dù phải trải qua hàng nghìn năm bị phong kiến phƣơng Bắc đô hộ. Mặt khác,
trong lịch sử hàng thế kỷ dân tộc ta đã lựa chọn, tiếp thu những gì có giá trị, cần
thiết để phát triển, cải biến nó sao cho phù hợp với những đặc điểm của đất
nƣớc. Trong lịch sử nƣớc ta không có một ông vua nào trong lúc trị vì lại chỉ sử
dụng duy nhất đƣờng lối đức trị hay pháp trị. Hai đƣờng lối trị nƣớc đó đƣợc kết
hợp với nhau tùy thuộc vào mỗi giai đoạn và điều kiện lịch sử nhất định mà đức
trị hay pháp trị đƣợc sử dụng rõ nét hơn, ở mức độ nhất định tỏ ra ƣu thế hơn.
Ở nƣớc ta, trƣớc khi có sự du nhập của Nho giáo, những chuẩn mực đạo đức
đóng vai trò chủ yếu trong việc điều chỉnh hành vi của con ngƣời và chi phối sự
vận hành của xã hội. Do phù hợp với đặc điểm truyền thống của dân tộc, nên tƣ
19
tƣởng đức trị đƣợc ngƣời Việt đón nhận nồng nhiệt hơn tƣ tƣởng pháp trị. Trải qua
nhiều thế kỷ, qua nhiều giai đoạn lịch sử, tƣ tƣởng đức trị ở Việt Nam đã đƣợc tiếp
biến với nhiều vẻ phong phú: khi thì có màu sắc từ bi của Phật giáo, khi lại cụ thể
bằng chính sách “khoan thƣ sức dân”, cai trị bằng đƣờng lối “nhân nghĩa”, khi thì
kết hợp với những yếu tố có giá trị từ tƣ tƣởng pháp trị.
1.2.1. Thời kỳ đầu độc lập (Ngô - Đinh - Tiền Lê)(939 - 1009)
Thế kỷ X là một cái mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam, nó khép lại hơn
10 thế kỷ Bắc thuộc và mở đầu một kỷ nguyên độc lập dân tộc. Nhà nƣớc độc lập
dân tộc Việt Nam ở thế kỷ X đã trở thành nền tảng ban đầu của các nhà nƣớc
xuất thân từ cửa Phật. Vì vậy, trong đƣờng lối trị nƣớc của triều Lý có màu sắc
từ bi của Phật giáo.
Trƣớc hết, cần khẳng định rằng, học thuyết của nhà Phật không phải là học
thuyết về việc trị nƣớc, vì vậy, những nhà cầm quyền lúc bấy giờ không thể
không dùng đến học thuyết về đƣờng lối trị nƣớc của Nho giáo. Tƣ tƣởng đức trị
thời Lý thể hiện trên những nét chính:
Ý dân, lòng dân được xem là chỗ dựa vững chắc của vương triều và là cơ
sở của những chủ trương chính trị lớn. Việc lên ngôi hoàng đế của Lý Công
Uẩn (cũng nhƣ Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn trƣớc đó) theo sử sách ghi chép lại là
hợp với ý trời và lòng dân, là thể hiện trách nhiệm đối với vận mệnh của dân tộc.
Qua đó, có thể khẳng định rằng, nhân dân ta vốn có truyền thống kính phục
ngƣời có đức và chỉ những ngƣời có đức mới xứng đáng trị vì thiên hạ. Sau khi
lên ngôi vua, Lý Thái Tổ muốn dời đô về Đại La (Thăng Long) đã xuống chiếu
rằng: “Trên kính mệnh trời, dƣới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi. Bởi thế
ngôi truyền dài lâu, phong tục giàu thịnh…”[25; 240]. Trong chế độ quân chủ,
nhà vua có toàn quyền quyết định mọi công việc hệ trọng của quốc gia nhƣng
“Chiếu dời đô” đã thể hiện sự tôn trọng ý dân.
Lý Cao Tông trị vì vào thời kỳ nhà Lý suy vong, năm 1207, giặc cƣớp nổi
lên nhiều, ông thấy mình không làm trò trách nhiệm nên đã xuống chiếu hối lỗi:
“Trẫm còn bé đã phải gánh vác nghiệp lớn, ở trong chốn cửu trùng sâu thẳm,
21
không biết nỗi khó nhọc của đời sống muôn dân, lại nghe lời bọn tiểu nhân mà
gây oán với ngƣời dƣới. Dân đã oán thì trẫm còn biết dựa vào ai?”[102; 538]. Lý
Cao Tông cũng nhận thức đƣợc rằng, sự tồn vong của vƣơng triều phụ thuộc vào
dân, vua không có đức sẽ bị dân oán ghét, căm giận. Ông nhận thức đƣợc điều
đó nhƣng không sửa chữa đƣợc lỗi lầm, tiếp tục lao vào ăn chơi và đã đẩy nhà
Lý đến chỗ sụp đổ một cách nhanh chóng.
Tư tưởng đức trị trong thời Lý đề cập đến việc người cai trị phải có đức,
coi trọng việc tu thân và làm gương cho dân. Trong tƣ tƣởng đức trị đòi hỏi
Đạo và đúc tiền Minh Đạo”[26; 280].
Sau hơn 10 thế kỷ loạn lạc, do nhu cầu khoan giảm an lạc của dân chúng và
do ảnh hƣởng của Phật giáo, đƣờng lối cai trị của nhà Lý thiên về đức trị. Nhà Lý
đã sử dụng kết hợp giữa đức trị và pháp trị theo tinh thần “đức chủ, pháp bổ”.
Đến cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, triều Lý bắt đầu suy thoái, khủng
hoảng và nhanh chóng bị diệt vong. Đối với họ nhà Lý, Trần Thủ Độ là kẻ phản
nghịch, nhƣng đối với họ Trần, ông là ngƣời tôn quân tuyệt đối. Tinh thần tôn
quân tuyệt đối cũng là tinh thần của Pháp gia. Trần Thủ Độ là một ngƣời có tinh
thần trọng pháp. Ông luôn có ý thức dùng pháp luật để đƣa xã hội vào kỷ cƣơng.
Chỉ sau 5 năm sau khi lên ngôi, ông đã cho “…xét các lệ của triều trƣớc, định
làm thông chế của quốc triều và sửa đổi hình luật lễ nghi, phàm 20 quyển”[26;
404]. Đó chính là bƣớc khởi đầu, tạo nền tảng cho bộ Hình thư của nhà Trần sau
này do Trƣơng Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên soạn.
Ông còn là ngƣời coi trọng các nguyên tắc: nghiêm minh, công bằng, bình
đẳng của luật pháp. Ông nêu cao tinh thần công bằng, bình đẳng “quân pháp bất vị
thân” trái với chủ trƣơng “thân thân” của Nho giáo. Bằng pháp trị, Trần Thủ Độ đã
nhanh chóng ổn định trật tự xã hội. Từ đó có thể thấy rằng, trong việc đƣa xã hội từ
tình trạng loạn lạc đi vào trật tự, ổn định, pháp trị tỏ ra có hiệu quả nhanh chóng.
Đƣờng lối trị nƣớc thời nhà Trần đƣợc duy trì trên cơ sở “đức chủ pháp bổ”
từ thời nhà Lý. Trong hoàng tộc, Trần Thủ Độ chủ trƣơng theo đƣờng lối pháp
trị, các vua đầu đời Trần lại tôn sùng đạo Phật, Trần Hƣng Đạo lại khuyên vua
theo con đƣờng đức trị. Trần Hƣng Đạo là một vị tƣớng tài có nhiều công lao to
23
lớn trong công cuộc chống giặc ngoại xâm. Đồng thời, ông còn là nhà tƣ tƣởng,
nhà văn hóa lớn của dân tộc. Những đóng góp của ông không chỉ trên lĩnh vực
quân sự mà còn cả trong lĩnh vực tƣ tƣởng, đặc biệt là trong đƣờng lối trị nƣớc.
Về đƣờng lối trị nƣớc, ông chủ trƣơng: những ngƣời cầm quyền phải thật
sự gƣơng mẫu, trọng dụng ngƣời hiền tài và thực hiện chính sách “khoan thƣ
sức dân”. Trần Quốc Tuấn làm quan đến đời vua Trần Anh Tông thì xin về trí sĩ