PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ BẢN QUYỀN ẢNH SỐ VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG - Pdf 25

§¹i häc quèc gia Hµ néi
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ HÀ NỘI


HOÀNG THỊ KIM OANH PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ BẢN QUYỀN ẢNH SỐ VÀ KHẢ
NĂNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH :CÔNG NHGỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐẶNG VĂN ĐỨC HÀ NỘI - 2007
Trang 1

MỤC LỤC

Chương II : Một số kỹ thuật dấu tin cho ảnh 27
2.1 GiớI thiệu chung 27
Kỹ thuật dấu tin 28
2.2 Kỹ thuật dấu tin dựa vào miền quan sát. 29
2.2.1 Kỹ thuật gài vào các bít có trọng số thấp 29
a) Nền tảng kỹ thuật 29
b) Ví dụ minh hoạ 30
c) Dung lượng giấu 32
d) Tính bền vững 32
e) Khả năng phát hiện 33
f) Sự phù hợp cho dấu tin hay thuỷ vân 33
g) Vấn đề và giải pháp 33
2.2.2 Kỹ thuật giấu tin dựa trên bảng mầu 35
a) Nền tảng kỹ thuật 35
b) Các tính chất khác 37
Trang 2

2.3 Kỹ thuật dấu tin dựa vào miền tần số 37
2.3.1 Kỹ thuật nén ảnh Jpeg dựa vào biến đổi cosin rời rạc DCT 38
a, Ý tưởng 38
b, Mã hoá và giải mã 43
c, Nhận xét : 44
2.3.2 Kỹ thuật nén ảnh Jpeg dựa vào biến đổi sóng con DWT(wavelet
transformation) 44
a, Tại sao phải mã hoá sóng con? 45
b, Ý tưởng của mã hoá sóng con 45
c,Mã hoá sóng con 45

Giao diện chính: 75
a. Giao diện chọn ảnh nguồn: 75
b. Giao diện chọn tập tin mật: 76
c.Giao diện giấu tin: 76
d. Giao diện giải mã tập tin giấu: 77
Kết luận 78
Tài liệu tham khảo: 80
Trang 3 Mở Đầu
Cuộc cách mạng thông tin kỹ thuật số đã đem lại những thay đổi sâu
sắc trong xã hội và trong cuộc sống của chúng ta. Bên cạnh những thuận
lợi mà thông tin kỹ thuật số mang lại cũng sinh ra những thách thức và cơ
hội mới. Sự ra đời những phần mềm có tính năng rất mạnh, các thiết bị
mới như máy ảnh kỹ thuật số, máy quét chất lượng cao, máy in, máy ghi
âm kỹ thuật số v.v đã thúc đẩy khả năng sáng tạo, xử lý và ứng dụng các
dữ liệu đa phương tiện (multimedia data). Mạng Internet toàn cầu đã tạo ra
những cơ cấu ảo - nơi diễn ra các quá trình trao đổi thông tin trong mọi
lĩnh vực chính trị, quân sự, quốc phòng, kinh tế, thương mại…Và chính
trong môi trường mở và tiện nghi như thế xuất hiện những vấn nạn, tiêu
cực đang rất cần các giải pháp hữu hiệu nhằm đảm bảo an toàn thông tin,
chống lại các nạn ăn cắp bản quyền, xuyên tạc thông tin, truy nhập thông
tin trái phép v.v Việc tìm giải pháp cho những vấn đề này không chỉ giúp
ta hiểu thêm về công nghệ phức tạp đang phát triển rất nhanh này mà còn
tạo ra những cơ hội phát triển mới.
Với những yêu cầu đặt ra như trên, dưới góc độ của người nghiên cứu

Chương I:Tổng quan về dấu thông tin.
1.1 Sơ lược về lịch sử dấu tin
Từ Steganography bắt nguồn từ Hi Lạp và được sử dụng cho tới ngày
nay, nó có nghĩa là tài liệu được phủ (covered writing). Các câu chuyện kể về
kỹ thuật giấu thông tin được truyền qua nhiều thế hệ. Có lẽ những ghi chép
sớm nhất về kỹ thuật giấu thông tin (thông tin được hiểu theo nghĩa nguyên
thủy của nó) thuộc về sử gia Hy-Lạp Herodotus. Khi bạo chúa Hy-Lạp
Histiaeus bị vua Darius bắt giữ ở Susa vào thế kỷ thứ năm trước Công
nguyên, ông ta đã gửi một thông báo bí mật cho con rể của mình là
Aristagoras ở Miletus. Histiaeus đã cạo trọc đầu của một nô lệ tin cậy và xăm
một thông báo trên da đầu của người nô lệ ấy. Khi tóc của người nô lệ này
mọc đủ dài người nô lệ được gửi tới Miletus.
Một câu chuyện khác về thời Hy-Lạp cổ đại cũng do Herodotus ghi lại.
Môi trường để ghi văn bản chính là các viên thuốc được bọc trong sáp ong.
Demeratus, một người Hy-Lạp, cần thông báo cho Sparta rằng Xerxes định
xâm chiếm Hy-Lạp. Để tránh bị phát hiện, anh ta đã bóc lớp sáp ra khỏi các
viên thuốc và khắc thông báo lên bề mặt các viên thuốc này, sau đó bọc lại
các viên thuốc bằng một lớp sáp mới. Những viên thuốc được để ngỏ và lọt
qua mọi sự kiểm tra một cách dễ dàng.
Mực không màu là phương tiện hữu hiệu cho bảo mật thông tin trong
một thời gian dài. Người Romans cổ đã biết sử dụng những chất sẵn có như
nước quả, nước tiểu và sữa để viết các thông báo bí mật giữa những hàng văn
tự thông thường. Khi bị hơ nóng, những thứ mực không nhìn thấy này trở nên
Trang 6


khoá luận ta sử dụng thuật ngữ ảnh môi trường để chỉ khái niệm này. ảnh thu
được sau khi đã giấu thông tin gọi là ảnh kết quả ( result image). ảnh kết quả
sẽ có những điểm khác so với ảnh gốc gọi là nhiễu. ảnh kết quả càng ít nhiễu
càng khó gây ra nghi ngờ về sự tồn tại thông tin trong ảnh. Thông thường ta
không nên chọn những bức ảnh được nhiều người biết làm ảnh môi trường mà
nên chọn những bức ảnh lạ (chẳng hạn như ảnh cá nhân, ảnh phong cảnh, )
Mỗi kỹ thuật dấu tin trong ảnh có những đặc điểm nhất định xác định
lĩnh vực áp dụng của nó. Chẳng hạn như có hay không mối liên hệ giữa dữ
liệu nhúng với phương tiện mang? Ai là người sẽ giải mã thông tin? Có bao
nhiêu người nhận? Khoá là dùng chung hay bí mật? Tốc độ nhúng cao hay
thấp, việc giải mã có là vấn đề quan trọng?
Kỹ thuật dấu thông tin nhằm hai mục đích: một là bảo mật cho dữ liệu
được đem giấu, hai là bảo mật cho chính đối tượng được được dấu tin ở trong.
Hai khuynh hướng này dẫn đến hai khuynh hướng kỹ thuật chủ yếu
của giấu tin. Thứ nhất giấu tin mật, khuynh hướng này tập trung vào các kỹ
thuật dấu tin sao cho giấu được nhiều thông tin và quan trọng là khó phát hiện
đối tượng được giấu.Thứ hai là thuỷ vân số(Watermarking), khuynh hướng
này có miền ứng dụng lớn và được quan tâm nhiều, khuynh hướng này tập
trung vào kỹ thuật làm sao cho thông tin giấu được bền trước sự tấn công
thông thường trên ảnh.
1.2.2. Một số khái niệm.
1.2.2.1. Giấu tin và mã hoá thông tin
Có thể coi nghệ thuật viết mật là một nhánh của ngành mật mã với mục
tiêu là nghiên cứu các phương pháp che giấu thông tin mật.

Trang 8

ni khụng ni ting) thỡ khú ny sinh nghi ng v kh nng cha tin mt trong
F.
Trang 9

Như vậy, sự khác biệt giữa mã hoá thông tin và giấu thông tin là mức
độ lộ liễu của đối tượng mang tin mật. Nếu ta phối hợp hai phương pháp trên
thì mức độ lộ liễu được giảm đến mức tối đa, đồng thời độ an toàn cũng được
nâng cao. Chẳng hạn, ta có thể mã hoá R thành R’ sau đó mới giấu R’ vào ảnh
F để thu được ảnh F’. Tóm lại, giấu thông tin và hệ mã mật có quan hệ mật
thiết với nhau, cùng xây dựng nên một hệ thống an toàn và bảo mật thông tin.
1.2.2.2. Thuỷ vân số và giấu tin
Trong lĩnh vực bảo mật thông tin, giấu tin được phân nhánh như sau:

Hình1. 2: Các nhánh của giấu tin
Kỹ thuật giấu thông tin nhằm mục đích đảm bảo an toàn và bảo mật
thông tin rõ ràng ở hai khía cạnh. Một là bảo mật cho giữ liệu được đem giấu,
hai là bảo mật cho chính đối tượng được dùng để giấu tin. Hai khía cạnh khác
nhau này dẫn đến hai khuynh hướng kỹ thuật chủ yếu của giấu tin. Khuynh
hướng thứ nhất là giấu tin mật (Steganography). Khuynh hướng này tập trung
vào các kỹ thuật giấu tin sao cho thông tin giấu được nhiều và quan trọng là
người khác khó phát hiện được một đối tượng có bị giấu tin bên trong hay
không.
Steganography là lĩnh vực nghiên cứu việc nhúng các mẩu tin mật vào
một môi trường phủ. Trong quá trình giấu tin để tăng bảo mật có thể người ta
dùng một khoá viết mật khi đó người ta nói về Intrinsic Steganography (dấu
tin có xử lý). Khi đó để giải mã người dùng cũng phải có khoá viết mật đó.
Chú ý rằng khoá này không phải là khoá dùng để lập mật mã mẩu tin, ví dụ

Khác với giấu tin ở chỗ giấu tin sau đó cần tách lại tin còn thuỷ vân tìm
cách biến tin giấu thành một thuộc tính của vật mang.
Trang 11

Chỉ tiêu quan trọng nhất của một thuỷ vân là tính bền vững, của giấu
tin là dung lượng
Điểm khác nữa giữa thuỷ vân và giấu tin là thuỷ vân có thể vô hình
hoặc hữu trên ảnh bản quyền.
Kỹ thuật dấu tin được áp dụng cho các loại dữ liệu ảnh,audio,
vidio.Tuy nhiên đồ án này chỉ quan tâm đến phương pháp dấu tin cho ảnh số.
Chức năng của dấu tin trong ảnh sẽ khác nhau tuỳ theo các hình thức xâm
phạm dữ liệu ảnh.
Ảnh bị vi phạm bản quyền: nội dung của ảnh giống với nội dung ảnh
bản quyền nhưng chúng được dùng với mục đích mà tác giả không cho phép.
Để bảo vệ các sản phẩm chống lại các hành vi lấy cắp hoặc làm nhái cần phải
có một kỹ thuật để “dán tem bản quyền” vào sản phẩm này. Việc dán tem hay
chính là việc nhúng thuỷ vân cần phải đảm bảo không để lại một ảnh hưởng
lớn nào đến việc cảm nhận sản phẩm. Yêu cầu kỹ thuật đối với ứng dụng này
là thuỷ vân phải tồn tại bền vững cùng với sản phẩm, muốn bỏ thuỷ vân này
mà không được phép của người chủ sở hữu thì chỉ có cách là phá huỷ sản
phẩm.
Ảnh bị sửa đổi :nội dung của ảnh bị xuyên tạc.Trong trường hợp này dấu tin
có tác dụng phân biệt ảnh bản quyền với ảnh bị sửa đổi nội dung. Áp dụng
các bước tách tin giống nhau với các ảnh khác nhau,ta sẽ tách được dấu bản
quyền đã được đăng ký trước đối với ảnh bị xuyên tạc
Hầu hết dấu tin được gắn cho ảnh là dấu không nhìn thấy nhưng trên
thực tế tồn tại một loại dấu tin có thể nhìn thấy, chúng không trong suốt hoàn

để bảo vệ bản quyền. Trong khi image hiding yêu cầu tính vô hình của thông
tin giấu ở một mức độ cao thì watermarking lại chỉ yêu cầu ở một cấp độ nhất
Trang 13

định. Chẳng hạn như người ta áp dụng watermarking cho việc gắn một biểu
tượng mờ vào một chương trình truyền hình để bảo vệ bản quyền.
1.3.2 Khả năng chống giả mạo - Tính ẩn.
Vì mục đích của một phương pháp giấu tin là chuyển đi thông tin mật.
Nếu không thể do thám tin mật thì kẻ địch cũng sẽ cố tìm cách làm sai lạc
thông tin mật, làm giả mạo thông tin để gây bất lợi cho đối phương. Một
phương pháp dấu tin tốt sẽ đảm bảo tin mật không bị tấn công một cách có
chủ đích trên cơ sở những hiểu biết đầy đủ về thuật toán nhúng tin (nhưng
không biết khoá) và có bộ giải mã (trừ khoá bí mật), hơn nữa còn có được ảnh
đã mang thông tin (ảnh kết quả).
Đối với lĩnh vực thuỷ vân số thì khả năng chống giả mạo là đặc tính vô
cùng quan trọng. Vì có như vậy mới bảo vệ được bản quyền, chứng minh tính
pháp lý của sản phẩm. Đối với image hiding đây là một yêu cầu rất quan
trọng. Chẳng hạn đối với thuật toán dò tin trong ảnh đen trắng kích thước
m*n, độ phức tạp vẫn còn lên tới O(2
mn
) khi đã biết ma trận trọng số dùng
trong quá trình dấu tin.
Tính ẩn của tin là một yêu cầu rất quan trọng của phương pháp dấu tin.
Nếu tính ẩn của tin không được đảm bảo thì không những nó làm ảnh hưởng
tới chất lượng của ảnh mà còn dễ dàng tạo điều kiện cho các hình thức tấn
công nhằm loại bỏ tin ra khỏi ảnh. Với ảnh được đánh dấu một cách lý tưởng
, ảnh có bản quyền và ảnh gốc sẽ không thể phân biệt được bằng mắt

Hình 1.3: Cân nhắc giữa chất lượng, dung lượng và tính bền vững

Trang 15

1.3.4 Tính bền vững.
Tính bền của dấu tin liên quan đến việc tách tin từ ảnh có bản quyền
một ảnh sau khi được đánh dấu có thể được đem ra xử lý để phục vụ cho các
mục đích khác nhau như nén ảnh,biến đổi hình học,lọc ảnh cải thiện ảnh ,các
biến đổi cố tình để xoá dấu tin ra khỏi ảnh,…v.v. Vấn đề được đặt ra liệu sau
khi ảnh bị xử lý ta còn có thể tách được khi chất lượng tin ra khỏi ảnh không
và tách được thì chất lượng của tin có đảm bảo tin cậy không.như ta đã biết
khi chèn một dấu ẩn vào ảnh thì trước hết phảI đảm bảo tính ẩn của nó ,nói
cách khác thong tin về dấu ẩn có năng lượng rất nhỏ so vớI thong tin ảnh
.Mặt khác để tăng tính bền cho dấu ẩn ta phảI tăng năng lượng của thông tin
dấu ẩn được chèn vào dấu ẩn(điều này đốI nghịch vớI yêu cầu của tính ẩn.Do
vậy việc đảm bảo sự tồn tạI của dấu ẩn trong ảnh cũng giống như việc đảm
bảo truyền tín hiệu có năng lượng nhỏ trong môi trường có nhiễu lớn. Đây là
cơ sở để áp dụng các phương pháp xử lí tín hiệu số trong chèn dấu ẩn.
Trong trường hợp một ảnh được chèn nhiều ký hiệu bản quyền thì các
ký hiệu này phảI đảm bảo có thể phân biệt được .Tuy nhiên việc tăng số
lượng các dấu ẩn cũng đồng nghĩa vớI việc tăng lượng của các thông tin
được chèn vào ảnh do đó tính ẩn của ảnh cũng bị ảnh hưởng theo chiều hướng
giảm.Tóm lạI các yêu cầu đặt ra đốI vớI nhúng thuỷ vân cho ảnh có chiều
hướng xung đột nhau,nếu thoả mãn tốt yêu cầu này thì không đáp ứng được

Để có thể xây dựng được một hệ nhúng thuỷ vân tối ưu, ta không thể
bỏ qua việc nghiên cứu các đặc tính cảm nhận của mắt. Để kết luận một ảnh
sau khi chèn dấu ẩn có chất lượng tốt hay không ,người ta quan sát bằng mắt
thường . Một trong những đặc tính cảm nhận của mắt liên quan trực tiếp tới
hệ thống nhúng thuỷ vân đó là khả năng phân biệt độ tương phản.
Trang 17

Quan hệ giữa độ tương phản và độ chói.
Với một ảnh thông thường ,các yếu tố để tạo nên cảm giác hình khối của ảnh
luôn là:
Độ chói:đặc trưng cho độ sáng hay tối của ảnh
Độ tương phản :đặc trưng cho sự khác biệt biểu diễn các chi tiết khác nhau
của ảnh
Để đảm bảo tính ẩn của dấu tin,trong quá trình chèn dấu ta phải khống chế
biên độ tín hiệu tại nơi được chèn dấu ẩn sao cho sự thay đổi độ tương phản
so với ảnh gốc không làm cho mắt người cảm nhận được.Hình 1.4 là mô hình
kiểm chứng của Weber-Fechner về khả năng cảm nhận độ chói. Bài toán đặt
ra là với một ảnh có độ chói nền là i
0
, vùng ở giữa ảnh có độ chói i
0
+Ai, giá
trị của Ai là bao nhiêu thì mắt người phân biệt được hai vùng sáng này với
nhau? Qua các thử nghiệm và nghiên cứu , người ta đã tìm ra được quan hệ
giữa Ai và I
0
quan hệ này phản ảnh với biểu đồ Hình 1.5 và được gọi là quan


Log I
Hình 1.5 Quan hệ độ tương phản cảm nhận được vớI độ chói

Cảm nhận về tần số của ảnh trong không gian quan sát
Cảm nhận về tần số khi quan sát ảnh là sự phân biệt được độ mịn hay độ sắc
nét của ảnh. Đặc điểm cảm nhận của mắt là rất nhậy với nhiễu tần số thấp
(thuộc vùng ảnh mịn) và kém nhậy hơn đối với miền tần số cao(miền có độ
tương phản lớn ). Đây chính là đặc điểm mà ta có thể lợi dụng để chọn miền
đánh dấu, miền được chọn để nhúng thuỷ vân không thể là miền có tần số
thấp.
Một kết luận quan trọng nữa được áp dụng cho nhúng thuỷ vân là giá trị chói
của miền được đánh dấu không vượt qua ngưỡng JND so với độ chói ảnh gốc.

1.5 Mô hình kỹ thuật dấu tin
 Mẩu tin mật: có thể là văn bản hoặc tệp ảnh hay bất kỳ một tệp nhị
phân nào, vì quá trình xử lý chúng ta đều chuyển chúng thành chuỗi các
bit.
 Ảnh phủ hay ảnh gốc: là ảnh được dùng để làm môi trường nhúng tin
mật.
Trang 19

 Khoá K: khoá viết mật tham gia vào quá trình dấu tin để tăng tính bảo
mật
 Ảnh bản quyền: là ảnh sau khi đã nhúng tin mật vào đó
Hệ thống dấu tin nói chung bao gồm 2 phần chính:chèn tin và tách tin
(Hình 1.5).Giai đoạn chèn tin,các thông tin khoá (công khai hoặc bí mật) và

Khoá k
Tin
Tách tin
Trang 20

hình thức bảo vệ an toàn cho ảnh bản quyền đốI vớI mọI hình thức tấn công
cố ý nhằm xoá dấu tin ra khỏI ảnh.
1.6 Ứng dụng của giấu tin trong ảnh số
Giấu tin trong ảnh số ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Các ứng dụng rơi
vào một trong các nhóm sau:
1. Bảo vệ bản quyền
2. Điểm chỉ số
3. Gán nhãn
4. Liên lạc bí mật
Bảo vệ bản quyền: Một biểu tượng bí mật được nhúng vào trong ảnh để
xác nhận quyền sở hữu. Biểu tượng thuỷ vân (watermark) có thể có cấu trúc
phức tạp được đính lên ảnh khi bán hoặc phân phối, thêm vào đó có thể gán
một nhãn thời gian (time stamp) để chống giả mạo. Một Watermark cũng
được dùng để phát hiện xem các ảnh có bị sửa đổi hay không . Việc phát hiện
các Watermark được thực hiện bởi phép thống kê, so sánh độ tương quan
hoặc bằng cách đo đạc xác định chất lượng của Watermark trong ảnh phủ.
Điểm chỉ số: Mục tiêu của điểm chỉ số là để chuyển thông tin về người
nhận (chứ không phải chủ sở hữu) sản phẩm phương tiện số nhằm xác định
đây là bản sao duy nhất của sản phẩm. Về mặt ý nghĩa điểm chỉ số tương tự
như số xê ri của phần mềm .
Gán nhãn: Tiêu đề, chú giải và nhãn thời gian cũng như các minh hoạ khác
có thể được nhúng vào ảnh, ví dụ đính tên người lên ảnh của họ hoặc đính tên

Trang 22
Để chống lại cách tấn công này ta đoán trước một số phép biến đổi
thường dùng, nhúng nhiều bản copy của mark theo phép biến đổi ngược.
Hay với kiểu tấn công Presentation (thay đổi nội dung của file để ngăn
cản việc tìm ra watermark)
Việc tấn công được coi là thành công hay không tuỳ theo ứng dụng. Đối
với liên lạc bí mật việc phát hiện và chứng minh một ảnh có chứa tin mật
được coi là thành công. Đối với bản quyền, chống giả mạo thì việc tấn công
được coi là thành công nếu không chỉ phát hiện ra thuỷ vân và còn phá huỷ
hoặc sửa nó đi mà không làm giảm chất lượng của ảnh. Có một mối quan hệ
tương đồng giữa mà hoá và dấu tin là trong cả hai lĩnh vực người ta giả thiết
bên thám tin biết trước phương pháp dùng để mã hoá hay dấu tin. Toàn bộ bí
mật của một phương pháp cụ thể phụ thuộc vào việc chọn khoá chứ không
phải vào độ phức tạp của phương pháp (nguyên lý Kerkhoff trong lý thuyết
mật mã ).
Tương tự như thám mã, các kỹ thuật thám tin trong giấu tin được chia ra
làm năm nhóm:
 Biết ảnh mang
 Biết ảnh gốc và ảnh mang
Trang 23


Trang 24

Việc tấn công thám tin khó nhất đó là sửa tin trong ảnh mang và suy ra
được khoá viết mật (stego-key) dùng để nhúng tin. Nếu đã biết khoá rồi thì kẻ
thám tin có thể làm giả các tin khác giống như nó được gửi đi từ chính chủ.
Phương pháp thám tin để biết thuật toán dấu tin và thuật toán lấy tin hay được
dùng trong các hệ thám tin. Rất nhiều kỹ thuật thám tin đưa sang từ kỹ thuật
thám mã nên về lĩnh vực này có sự tương đồng giữa giấu tin và mật mã.
1.8 Hướng tiếp cận của kỹ thuật dấu tin
1.8.1. Tiếp cận trên miền quan sát
Đây là hướng tiếp cận cơ bản và tự nhiên trong số các kỹ thuật dấu tin.
Miền không gian ảnh là miền dữ liệu ảnh gốc, tác động lên miền không gian
ảnh chính là tác động lên các điểm ảnh, thay đổi trực tiếp của điểm ảnh. Đây
là hướng tiếp cận tự nhiên bởi vì khi nói đến việc dấu tin trong ảnh người ta
thường nghĩ ngay đến việc thay đổi các giá trị của điểm anh nguồn. Một
phương pháp phổ biến của hướng tiếp cận này là phương pháp tác động đến
bit it quan trọng nhất của mỗi điểm ảnh[12].
Ý tưởng cơ bản của phương pháp tác động đến bit ít quan trọng nhất của
các điểm ảnh là chọn ra từ mỗi điểm ảnh các bit có ý nghĩa nhất về mặt tri
giác để sử dụng cho việc dấu tin. Việc bít nào được coi là ít tri giác nhất và
bao nhiêu bit có thể lấy được để thay thế đều phụ thuộc vào tính chất hệ thống
thị giác con người và nhu cầu về chất lượng ảnh trong các ứng dụng. Ví dụ,
trong ảnh 24 bit, mỗi điểm ảnh được biểu diễn bởi 24 bit tương ứng với 3 màu
RGB, mỗi màu chiếm một byte. Người ta sử dụng một tính chất của mắt
người là sự cảm nhận về màu B(blue) kém hơn so với màu R(Red) và
G(green), chính vì thế mà người ta thường chọn bít cuối cùng trong 8 bit biểu
diễn màu B của mỗi điểm ảnh để giấu tin. Thay đổi bit cuối cùng trong 8 bit

Trích đoạn Dung lượng giấu Vấn đề và giải pháp Các tính chất khác Giao diện giải mã tập tin giấu:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status