Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGÔ VĂN THÁP
MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG (GPON) VÀ ỨNG DỤNG
TRIỂN KHAI TẠI VIỄN THÔNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
3
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
5
LỜI NÓI ĐẦU
10
CHƢƠNG 1. MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG (PON) VÀ UMTS
12

1.1. Mở đầu
1.2. Mạng quang thụ động PON
12
13 1.2.1 Kiến trúc của PON
1.2.2 Các hệ thống PON đang đƣợc triển khai
14
16

1.3. UMTS
18 1.3.1 Kiến trúc mô hình UMTS
18 1.3.2 Mạng truy nhập vô tuyến
19


2.3. Thông số kỹ thuật
31 2.3.1 Các tốc độ truyền dẫn chung
31 2 2.3.2 Các tốc độ dịch vụ cuộc gọi
32 2.3.4 Các thông số khác
33

2.4. Kỹ thuật truy nhập và ghép kênh
33 2.4.1 Kỹ thuật truy nhập
33 2.4.2 Phƣơng thức ghép kênh
34
44
CHƢƠNG 3. TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ GPON TRÊN MẠNG
VIỄN THÔNG HÀ NỘI
46

3.1. Mô tả mạng truy nhập băng rộng của Viễn thông HN
46 3.1.1. Mạng MAN E
46 3.1.2. Mạng cáp quang
48

3.2. Mục đích xây dựng mạng GPON
49 3.2.1. Định hƣớng chung
49 3.2.2. Các hình thức cung cấp quang FTTx
49

3.3. Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng quang trên địa bàn TP Hà
Nội
50

3.4.4. Các bƣớc xây dựng cấu hình mạng
59 3.4.5. Triển khai xây dựng mạng tại VNPT Hà Nội
59

3.5. Khảo sát đánh giá tuyến Gpon tại Cầu Giấy
63 3.5.1. Tuyến GPON tại Cầu Giấy
63 3.5.2 Khảo sát độ lợi quang tuyến GPON Cầu Giấy.
64
CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
70

4.1. Kết luận
70

4.2. Hƣớng nghiên cứu tiếp theo
71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
72
PHỤ LỤC 1: Bảng chỉ số băng thông.
74
PHỤ LỤC 2: Thống kê băng thông chi tiết cho mạng GPON-VTHN.

12
Hình 1-3 : Mô hình kiến trúc 3G-WCDMA UMTS R3.
12
Hình 1-4 : Vai trò logic của SRNC và DRNC
17
Hình 1-5 : Kiến trúc mạng độc lập
19
Hình 1-6 : Kiến trúc lai ghép UMTS&PON
19
Hình 1-7 : Kiến trúc Microwave-Over-Fiber
20
Hình 2-1 : Kiến truc mạng GPON
28
Hình 2-2 : Các khối chức năng của OLT
29
Hình 2-3 : Các khối chức năng của ONU
30
Hình 2-4 : Các bộ ghép 8x8 đƣợc tạo ra từ bộ ghép 2x2
31
Hình 2-5 : Cấu trúc cơ bản mạng cáp quang thuê bao
32
Hình 2-6 : Cấu trúc tổng thể mạng truy nhập quang thụ động GPON
34
Hình 2-7 : TDMA GPON
35
Hình 2-8 : Định cỡ giai đoạn 1 của GPON
37
Hình 2-9 : GPON Ranging pha 2
38
Hình 2-10 : Báo cáo và phân bổ băng thông trong GPON

57
Bảng 3.2 : Các tham số đo đạt hiệu quả quang.
69 5
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Đối chiếu tiếng Việt
ADM

Add Drop Multiplexer

Bộ ghép kênh xen rẽ

APON
ATM Passive Optical Network
Mạng quang thụ động ATM
ATM
Asynchronous Transfer Mode
Chế độ truyền tải không đồng bộ
AUI
Attachment Unit Interface
Cáp nối với thiết bị
BPON
Broadband PON
Mạng quang thụ động băng rộng

Cyclic Redundancy Check

Kiểm tra vòng dƣ

CSMA/CD
Carrier sense Multiple access /
Collision detect
Đa truy nhập cảm nhận sóng mang/phát
hiện xung đột
DA

Destination Address

Địa chỉ đích

DCE
Data Communications
Equipment

Thiết bị thông tin số liệu 6
DCS

Digital Cross-connect

Bộ nối chéo số

DFSM


Ghép bƣớc sóng với mật độ cao
E-LAN
Ethernet LAN
Mạng LAN Ethernet
E-Line
Ethernet Line
Tuyến Ethernet
EMS
Element Management System
Phần tử quản lí hệ thống
EPON
Ethernet PON
Mạng quang thụ động Ethernet
EVC
Ethernet Virtual Connection
Kết nối ảo Ethernet
FCS

Frame Check Sequence

Dãy bit kiểm tra khung

FDM
Frequency Division
Multiple

Ghép kênh theo tần số
FEC
Forward –error Correction

HF
H
ybrid- Fiber Coax Television
System

Hệ thống phân phối tín hiệu truyền hình
lai ghép quang đồng trục
IPTV
Internet Protocol Television
Giao thức truyền hình Interrnet
IFG
Inter Frame Gap
Khoảng cách giữa hai khung liền kề
IP
Internet Protocol
Giao thức Internet
IPG

Inter Packet Gap

Khoảng cách hai gói liền kề

ISO
International Organization for
S
tandard

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
LAN
Local Area Network

Management Information
Base

Cơ sở thông tin quản lý
MII
Medium Independent Interface
Giao diện phụ thuộc môi trƣờng
MMDS
Multi Channel Multi Point
Distribution System
Hệ thống phân bổ đa kênh, đa điểm
8
MPCP

Multi-Point Control Protocol
Giao thức điều khiển đa điểm
MPLS
Multi Protocol Label Switch
Chuyển mạch nhãn đa giao thức
MPN
Mode partition noise
Chế độ ồn
NIC
Network Interface cards
Card giao diện mạng
NLP
Normal Link Pulse

Ranh giới bắt đầu khung
SME
Station Management Entity
Thực thể quản lý trạm
SMF
Single Mode Fiber
Sợi quang đơn mode
SSM
Standard Single Mode
Sợi đơn mode chuẩn
TCP
Transport Control Protocol
Giao thức điều khiển truyền tải
TDM
Time Division Multiplexing
Ghép kênh theo thời gian
UNI
User Network Interface
Giao diện mạng-ngƣời dùng
UTP
Unshielded Twisted Pair
Cáp trần xoắn đôi 9
UMTS
Universal Mobile
Telecommunications System
Hệ thống viễn thông di động toàn cầu.
RG

mới cả về công nghệ lẫn cơ cấu tổ chức kinh doanh, và quản lý khai thác.

Mạng truy nhập băng rộng hiện tại chủ yếu dựa trên hạ tầng cáp đồng sử dụng
công nghệ xDSL, về cơ bản mới chỉ đáp ứng cho các dịch vụ truy nhập tốc độ dƣới 2
Mbit/s. Thời gian gần đây, các hệ thống thông tin quang đã chiếm lĩnh hầu hết các
tuyến truyền dẫn trọng yếu trên mạng lƣới viễn thông và đƣợc coi là phƣơng thức
truyền dẫn có hiệu quả nhất, không chỉ mạng đƣờng trục với các tuyến vƣợt biển và
xuyên lục địa mà còn mở rộng trên các tuyến mạng truy nhập. Để đáp ứng nhu cầu
truyền tải lớn do bùng nổ thông tin trong xã hội, đặc biệt là sự phát triển của các dịch
vụ băng thông rộng, mạng truyền dẫn đòi hỏi phải có sự phát triển mạnh cả về quy mô
và trình độ công nghệ nhằm tạo ra các cấu trúc mạng bao gồm các hệ thống truyền dẫn
quang hiện đại. Các hệ thống thông tin quang trong thời gian tới phải đảm bảo có tốc
độ cao, cự ly xa, có cấu trúc hệ thống linh hoạt, độ tin cậy cao…

Vì vậy nghiên cứu triển khai các giải pháp truy cập quang là vấn đề cấp thiết
hiện nay nhằm xây dựng hạ tầng mạng truy cập đáp ứng cung cấp các dịch vụ băng
rộng chất lƣợng cao cho các dịch vụ thoại, hình ảnh và dữ liệu dựa trên IP. Qua đó
cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết cấp bách đối với mạng truy cập. Nghiên cứu
triển khai giải pháp truy cập mới nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng dịch vụ mới là rất cần
thiết đối với tình hình hiện nay. Công nghệ truy cập quang thụ động GPON đã đƣợc
ITU chuẩn hóa, hiện nay là một trong những công nghệ đƣợc ƣu tiên lựa chọn cho
triển khai mạng truy cập tại nhiều nƣớc trên thế giới. GPON là công nghệ hƣớng tới
cung cấp dịch vụ mạng đầy đủ, tích hợp thoại, hình ảnh và số liệu với băng thông lớn
tốc độ cao. Do vậy GPON sẽ là công nghệ truy cập lựa chọn triển khai hiện tại và
tƣơng lai.

Luận văn ―Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại Viễn
thông Hà Nội‖ nhằm mục đích tìm hiểu những đặc điểm kỹ thuật cơ bản của công 12
CH
Ƣ
Ơ
NG
1
.
MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG (PON)1.1 MỞ ĐẦU

Mạng viễn thông thƣờng đƣợc cấu thành bởi hai thành phần chính: mạng đƣờng
trục (mạng lõi) và mạng truy cập. Trong những năm gần đây, mạng đƣờng trục có
những bƣớc phát triển nhảy vọt do sự xuất hiện của các công nghệ mới, nhƣ công nghệ
ghép kênh theo bƣớc sóng (WDM) với tốc độ truyền tin tới 40 Gbps. Cũng trong
khoảng thời gian này, mạng truy cập (hay LAN) cũng đã đƣợc cải tiến và nâng cấp
từ tốc độ 10 Mb/s lên 100Mb/s và có thể đến 1Gb/s. Thậm chí, các sản phẩm Ethernet
10 Gb/s cũng đã bắt đầu xuất hiện trên thị trƣờng về băng thông giữa một bên thực
hiện trên DSL với một bên là mạng truy nhập thông tin di động tốc độ cao
(3G/4G) dẫn đến hiện tƣợng nút cổ chai (bottleneck) trong mạng Viễn thông. Việc
bùng nổ lƣu lƣợng Internet trong thời gian vừa qua càng làm trầm trọng thêm các vấn
đề của mạng truy cập, các báo cáo thống kê cho thấy lƣu lƣợng dữ liệu đã tăng 100%
mỗi năm kể từ năm 1990. Sự kết hợp giữa các yếu tố kinh tế và công nghệ đã tạo ra
những thời điểm mà tốc độ phát triển đạt tới 1000% trong một năm (vào những
năm 1995 và 1996), xu hƣớng này vẫn sẽ còn tiếp tục trong tƣơng lai, tức là càng ngày
sẽ càng có nhiều ngƣời sử dụng trực tuyến và những ngƣời sử dụng đã trực tuyến thì
thời gian trực tuyến sẽ càng nhiều hơn, do vậy nhu cầu về băng thông lại càng tăng

công nghệ DSL và cáp modem đều không đáp ứng đƣợc những yêu cầu về băng thông
cho mạng truy cập đa ngƣời dùng, băng thông rộng tƣơng xứng với mạng không dây
3G. Hầu hết các nhà công nghệ mạng hiện nay đều đang tiến tới một công nghệ mới,
tập trung chủ yếu vào truyền tải dữ liệu dựa trên Internet với giao thức IP. Trong bối
cảnh đó, công nghệ PON sẽ là một giải pháp tối ƣu cho mạng truy nhập băng rộng,
ngƣời ta trông đợi mạng PON sẽ giải quyết đƣợc các vấn đề tắc nghẽn băng thông của
mạng truy nhập trong kiến trúc mạng viễn thông. Giữa một bên là các nhà cung cấp
dịch vụ CO, các điểm kết cuối, các điểm truy cập và một bên là các công ty cung cấp
dịch vụ qua mạng đƣờng trục hay trong chính bản thân mạng truy cập.

Theo các nhà nghiên cứu hiện nay, có 4 kiểu tích hợp cơ bản giữa PON và 3G
theo kiểu kiến trúc độc lập hay kiến trúc lai ghép, hay kiến trúc liên kết có định hƣớng
đồng nhất hay kiến trúc microwave-over-fiber. Chỉ có kiểu kiến trúc độc lập là không
cần thay đổi các thành phần mạng hiện hành của cả mạng PON lẫn mạng 3G, tuy
nhiên kiểu kiến trúc này sẽ không thật sự hiệu quả. Việc áp dụng kiểu kiến trúc nào
giữa 3G và PON tùy thuộc vào các yêu cầu khác về các đặc tính vật lí của mạng nhƣ
độ xuyên kênh, nhiễu, độ phi tuyến , các yêu cầu về chất lƣợng dịch vụ (QoS) giữa 2
mạng và điều này đòi hỏi các phần tử mạng của một trong hai mạng (hay cả hai) phải
thay đổi nhằm nâng cao hiệu năng mạng.

1.2 MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG (PON)

Mạng quang thụ động có thể định nghĩa một cách ngắn gọn nhƣ sau: ―Mạng
quang thụ động (PON) là một mạng quang không có các phần tử điện hay các thiết bị
quang điện tử‖.
14
Nhƣ vậy với khái niệm này, mạng PON sẽ không chứa bất kỳ một phần tử tích


p hơn

Do các nút của mạng PON nằm ở bên ngoài mạng, nên tổn hao năng lƣợng trên
các nút này không gây ảnh hƣởng gì đến các nút khác, khả năng một nút mất năng
lƣợng mà không làm ngắt mạng là rất quan trọng đối với mạng truy cập, do các nhà
cung cấp không thể đảm bảo đƣợc năng lƣợng dự phòng cho tất cả các đầu cuối ở xa.

Với những lý do nhƣ trên, công nghệ PON có thể đƣợc coi là một giải pháp
hàng đầu cho mạng truy cập, PON cũng cho phép tƣơng thích với các giao diện
SONET/SDH và có thể đƣợc sử dụng nhƣ một vòng thu quang thay thế cho các tuyến
truyền dẫn ngắn trong mạng đô thị hay mạch vòng SONET/SDH đƣờng trục.

1.2.1 Kiến trúc của PON

Các phần tử thụ động của PON đều nằm trong mạng phân bố quang (hay còn
gọi là mạng ngoại vi) bao gồm các phần tử nhƣ sợi quang, các bộ tách/ghép quang thụ
động, các đầu nối và các mối hàn quang. Các phần tử tích cực nhƣ OLT và các ONU
đều nằm ở đầu cuối của PON, tín hiệu trong PON có thể đƣợc phân ra và truyền đi
theo nhiều sợi quang hoặc đƣợc kết hợp lại và truyền trên một sợi quang thông qua bộ
ghép quang, phụ thuộc vào tín hiệu đó là đi theo hƣớng lên hay hƣớng xuống của 15
PON. PON thƣờng đƣợc triển khai trên sợi quang đơn mode, với cấu hình cây là phổ
biến, PON cũng có thể đƣợc triển khai theo cấu hình vòng ring cho các khu thƣơng
mại hoặc theo cấu hình bus khi triển khai trong các khu trƣờng sở Mô hình mạng
quang thụ động với các phần tử của nó đƣợc biểu diễn nhƣ trong hình1-1
cập băng rộng. Hiện nay các thành viên của FSAN đã tăng lên 40 trong đó có nhiều
hãng sản xuất và cung cấp thiết bị viễn thông lớn trên thế giới.

Các thành viên của FSAN đã phát triển một tiêu chí cho mạng truy nhập PON sử
dụng công nghệ ATM và giao thức lớp 2 của nó. Hệ thống này đƣợc gọi là APON
(viết tắt của ATM PON). Cái tên APON sau đó đƣợc thay thế bằng BPON với ý diễn
đạt PON băng rộng. Hệ thống BPON có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ băng rộng
nhƣ Ethernet, Video, đƣờng riêng ảo (VPL), kênh thuê riêng, v.v… Năm 1997 nhóm
FSAN đƣa các đề xuất chỉ tiêu BPON lên ITU-T để thông qua chính thức. Từ đó, các
tiêu chuẩn ITU G.983.x cho Mạng BPON lần lƣợt đƣợc thông qua. Hệ thống BPON
hỗ trợ tốc độ không đối xứng 155 Mbps hƣớng lên và 622 Mbps hƣớng xuống hoặc
tốc độ đối xứng 622 Mbps. Các hệ thống BPON đã đƣợc sử dụng nhiều ở nhiều nơi,
tập trung ở Bắc Mỹ, Nhật Bản và một phần Châu Âu.

1.2.2.2. EPON

Năm 2001, IEEE thành lập một nhóm nghiên cứu Ethernet đƣờng dài (EFM) với
mục tiêu mở rộng công nghệ Ethernet hiện tại sang mạng truy nhập vùng, hƣớng tới
các mạng đến nhà thuê bao hoặc các doanh nghiệp với yêu cầu vẫn giữ các tính chất
của Ethernet truyền thống. Ethernet PON đƣợc bắt đầu nghiên cứu trong thời gian gian
này.

Ethernet PON (EPON) là mạng trên cở sở PON mang lƣu lƣợng dữ liệu gói trong
các khung Ethernet đƣợc chuẩn hóa theo IEEE 802.3. Sử dụng mã đƣờng truyền
8b/10B và hoạt động với tốc độ 1Gbps. EPON có thể sử dụng để chuyển tải các luồng
dữ liệu đƣợc đóng thành các khung Ethernet. Theo chiều hƣớng lên (từ ONU đến CO),
ONU cần phải khai thác cơ chế điều khiển truy cập nhằm tránh xung đột dữ liệu và 17

mạng đã triển khai tại một số nuớc trên thế giới, nhà cung cấp thƣờng thiết kế tốc độ
cho một thuê bao sử dụng PON vào khoảng 100 Mbps cho chiều xuống và 40 Mbps
cho chiều lên. Với tốc độ truy nhập nhƣ vậy , băng thông đa
̃
tho
̉
a ma
̃
n cho hầu hết các
ứng dụng cao cấp nhƣ HDTV (khoảng 10 Mbps, chiều lên chiều xuống, chiều lên cho
peer-to-peer HDTV). Tuy nhiên, GPON cũng có nhƣợc điểm chính là : thiếu tính hội
tụ IP; có một kết nối duy nhất giữa OLT và bộ chia, nếu kết nối này mất toàn bộ ONT
không đƣợc cung cấp dịch vụ.
18
1.3 UMTS

UMTS phát triển trên cơ sở hạ tầng 2G đã đặt ra yêu cầu cho nhà mạng 2G hiện
tại phải xây dựng một kiến trúc mạng mang tính tối ƣu, đảm bảo chất lƣợng dịch vụ
thoại truyền thống, thoại video và các dịch vụ dữ liệu khác. Hiện tại các nhà mạng ở
Việt Nam cũng chỉ xây dựng 3G trên nền 2G có sẵn, điều này một phần cũng là do tính
kinh tế, phần khác giảm thiểu sự phức tạp của trong việc triển khai cơ sở hạ tầng mới
tách biệt hẳn với mạng 2G truyền thống.
Các nhà hoạch định cũng đƣa ra các kiên trúc dành cho mạng 3G:
- Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R3.
- Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R4.
- Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R5 và R6.
- Kiến trúc R7 và R8 (đang trong quá trình thí nghiệm).

UTRAN là liên kết giữa ngƣời sử dụng và CN, gồm các phần tử đảm bảo các
cuộc truyền thông UMTS trên vô tuyến và điều khiển chúng, đƣợc định nghĩa giữa hai
giao diện: Giao diện Iu giữa UTRAN và CN, gồm hai phần: IuPS cho miền chuyển
mạch gói và IuCS cho miền chuyển mạch kênh; giao diện Uu giữa UTRAN và thiết bị
ngƣời sử dụng, giữa hai giao diện này là hai nút, RNC và nút B.

1.3.2.1 RNC.

RNC chịu trách nhiệm cho một hay nhiều trạm gốc và điều khiển các tài nguyên
của chúng. Đây cũng chính là điểm truy nhập dịch vụ mà UTRAN cung cấp cho CN.
Nó đƣợc nối đến CN bằng hai kết nối, một cho miền chuyển mạch gói (đến GPRS) và
một đến miền chuyển mạch kênh (MSC).

Một nhiệm vụ quan trọng nữa của RNC là bảo vệ sự bí mật và toàn vẹn. Sau thủ
tục nhận thực và thỏa thuận khóa, các khoá bảo mật và toàn vẹn đƣợc đặt vào RNC.
Sau đó các khóa này đƣợc sử dụng bởi các hàm an ninh f8 và f9.

RNC có nhiều chức năng logic tùy thuộc vào việc nó phục vụ nút nào. Ngƣời sử
dụng đƣợc kết nối vào một RNC phục vụ (SRNC: Serving RNC). Khi ngƣời sử dụng
chuyển vùng đến một RNC khác nhƣng vẫn kết nối với RNC cũ, một RNC trôi
(DRNC: Drift RNC) sẽ cung cấp tài nguyên vô tuyến cho ngƣời sử dụng, nhƣng RNC
phục vụ vẫn quản lý kết nối của ngƣời sử dụng đến CN. Vai trò logic của SRNC và
DRNC đƣợc mô tả trên hình 1-4. Khi UE trong chuyển giao mềm giữa các RNC, tồn
tại nhiều kết nối qua Iub và có ít nhất một kết nối qua Iur. Chỉ một trong số các RNC 20
này (SRNC) là đảm bảo giao diện Iu kết nối với mạng lõi còn các RNC khác (DRNC)
chỉ làm nhiệm vụ định tuyến thông tin giữa các Iub và Iur.

21
 Dịch vụ Best-Effort (BE): đƣợc thiết kế để trợ giúp các dịch vụ không đòi hỏi
chất lƣợng dịch vụ (non-QoS).

Các tham số đánh giá chất lƣợng mạng UMTS:

Các chỉ tiêu kỹ thuật đánh giá chất lƣợng dịch vụ thoại.
- Tỷ lệ cuộc gọi thiết lập thành công (CSSR) đạt yêu cầu nếu ≥ 92%.
- Tỷ lệ cuộc gọi rơi (CDR) đạt yêu cầu nếu ≥ 5%.
- Chất lƣơ
̣
ng thoa
̣
i đạt nếu ≥3 điê
̉
m. Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cƣớc sai 0% ≤0,1%
- Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cƣớc sai 0% ≤0,1%.
- Tỷ lệ cuộc gọi tính cƣớc, lâ
̣
p ho
́
a đơn sai 0% ≤0,1%.
Các chỉ tiêu chất lƣợng dịch vụ, đô
̣
khả dụng của dịch vụ đạt yêu cầu khi ≥ 99,5%.

Ngoài ra còn các tham số: CSR, HOSR, TASR, TCR, SCR, Traffic. Tham số đánh
giá dịch vụ internet (chuyển mạch gói):


1.4.2 Phương thức lai ghép.

Theo kiến trúc lai ghép, PON và UMTS BS đƣợc tích hợp vào trong vào một khối
riêng lẻ, và đƣợc gọi là ONU-BS nhƣ đƣợc chỉ ra trong hình 1.6. ONU-BS chứa cả 2
chức năng và có đầy đủ thông tin của cả 2 mạng. Vì thế việc cấp băng thông sẽ có hiệu
lực hơn kiến trúc độc lập.

Hình 1.6: Kiến trúc lai ghép UMTS&PON

Tuy nhiên, theo kiểu kiến trúc này, modul ONU-BS sẽ phải đủ thông minh để
tiến hành cuộc gọi với các kiểu báo hiệu liên mạng giữa hai mặt phẳng điều khiển đảm
bảo truyền tốt các gói tin giữa các mặt phẳng dữ liệu. Việc ánh xạ các tham số QoS
giữa hai mạng cũng phải đƣợc tính đến nhằm đảm bảo QoS cuộc gọi đầu cuối-đầu
cuối.
23
1.4.3 Phương thức Microwave-over-fiber.

Phƣơng pháp kiến trúc này là sự tích hợp các chức năng của UMTS Bs với OLT.
Mỗi một đầu cuối điều khiển từ xa đƣợc lắp ghép vào khối ONU hay tới antenna nhƣ
chỉ ra trong hình 1.7. Khối ONU có trách nhiệm truyền dữ liệu của PON còn antenna
chỉ chuyển tiếp các tín hiệu vô tuyến UMTS. Các tín hiệu UMTS và quang đƣợc hợp
kênh và điều chế vào một bƣớc sóng ánh sáng chung và đƣợc truyền tới CO. Theo
chiều truyền hƣớng lên (tới CO), mỗi một lƣu lƣợng của 1 antena phải đƣợc truyền trên
1 bƣớc sóng để phân biệt lƣu lƣợng cuộc gọi truyền từ các antenna khác nhau tới trạm
trung tâm. Nhƣ vậy trạm trung tâm chứa 2 khối chính: một cho OLT và một cho UMTS
BS. Khi các tín hiệu quang đến trạm trung tâm, nó sẽ đƣợc tách ra 2 cổng: Một cổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status